Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẤU
NỘI DUNG
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO:
1. Địa vị pháp lý của bị can:
1.1 Những quy định về quyền của bị can:
1.2. Những quy định về nghĩa vụ của bị can:
2. Địa vị pháp lý của bị cáo:
2.1. Những quy định vể quyền của bị cáo:
2.2. Những quy định về nghĩa vụ của bị cáo:
II. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN LỢI CỦA BỊ CAN, BỊ
CÁO:
1. Thực tiễn thực hiện quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo:
2. Thực tiễn thực hiện quyền nhờ người khác bào chữa của bị can, bị cáo:
3. Thực tiễn thực hiện quyền thay đổi NTHTT của bị can, bị cáo:
4. Thực tiễn thực hiện các quyền khác của bị can, bị cáo:
III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO THỰC
HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS VỀ QUYỀN LỢI CỦA BỊ CAN, BỊ
CÁO:
1. Kiến nghị sửa đổi, bố sung những quy định của BLTTHS 2003 về địa vị pháp lý
của bị can, bị cáo và những quy định liên quan:
2. Các giải pháp khác:
KẾT LUẬN
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
1
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLTTHS : Bộ luật Tố tụng hình sự
BLHS: Bộ luật Hình sự
VKS: Viện kiểm sát
CQTHTT: Cơ quan tiến hành tố tụng
NTHTT: Người tiến hành tố tụng
CQĐT: Cơ quan điều tra
NBC: Người bào chữa
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
2
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
LỜI MỞ ĐẤU
Bị can, bị cáo là hai trong số những người tham gia tố tụng có quyền lợi và
nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ án. Bộ luật tố tụng hình sự quy định như thế nào
là bị can, như thế nào là bị cáo? Và địa vị pháp lí của bị can, bị cáo như thế nào?
Để hiểu rõ được những câu hỏi trên, em đã lựa chọn đề tài: “Địa vị pháp lí
của bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự và việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm
bảo quyền lợi của bị can, bị cáo?” để giải quyết cho bài tập lớn học kì của mình.
NỘI DUNG
I. NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
HIỆN HÀNH VỀ ĐỊA VỊ PHÁP LÝ CỦA BỊ CAN, BỊ CÁO:
1. Địa vị pháp lý của bị can:
1.1 Những quy định về quyền của bị can:
Quyền của bị can được quy định tại khoản 2 Điều 49 BLTTHS 2003, theo
đó bị can có các quyền:
(1) Được biết mình bị khởi tố về tội gì:
Không phải vô cớ mà các nhà làm luật đặt quyền này lên đầu tiên khi xây
dựng các quy định pháp luật về quyền của bị can, bởi đây là quyền rất quan trọng,
quyền đầu tiên và quyền ảnh hưởng rất lớn đến việc thực hiện các quyền khác của
bị can. Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự, mốc xác định tư cách bị can là lúc
có quyết định khởi tố bị can đã có sự phê chuẩn của VKS. Do đó, bị can cần phải
được biết mình bị khởi tố về tội gì, theo điều nào của BLHS để từ đó có thể tiến
hành tự bào chữa hoặc nhờ NBC cho mình.
Tuy nhiên, quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can có được bảo
đảm trên thực tế hay không lại phụ thuộc vào rất nhiều vào hoạt động của
CQTHTT và NTHTT, thông qua việc giao và giải thích các quyết định tố tụng cũng
như giải quyết các quyền và nghĩa vụ cho bị can. Bị can được biết mình khởi tố về
tội gì thông qua quyết định khởi tố bị can. Quyết định khởi tố bị can của cơ quan có
thẩm quyền phải có đầy đủ nội dung theo quy định của pháp luật tại khoản 2 Điều
126 BLTTHS và phải được tống đạt đến bị can. CQĐT có trách nhiệm phải giao
ngay quyết định khởi tố bị can và giải thích các quyền và nghĩa vụ cho bị can.
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
3
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
Quyền được biết mình bị khởi tố về tội gì của bị can thể hiện sự công bằng,
bình đẳng và tiến bộ của pháp luật xã hội chủ nghĩa. Bởi vì Nhà nước có quyền lực
trong tay và các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sử dụng quyền lực đó để tiến
hành các hoạt động tố tụng với bị can, nên bị can cần phải được biết mình bị khởi
tố về tội gì một cách công khai, minh bạch để có thể trực tiếp hoặc gián tiếp thông
qua NBC, người đại diện hợp pháp để bảo đảm quyền lợi của mình.
Tuy nhiên trên thực tế việc thực hiện quyền này của bị can chưa được bảo
đảm vì nhiều lí do. Có thể kể đến như do NTHTT đã không giải thích và cho bị can
được biết mình bị khởi tố về tội gì, cũng nhiều trường hợp do chính nhận thức của
bị can về pháp luật còn chưa cao. Việc không biết mình bị khởi tố về tội gì khiến bị
can không có sự chuẩn bị về những tài liệu, đồ vật, lời khai hay tìm nhân chứng,
tìm sự trợ giúp về pháp luật để bào chữa cho mình. Do vậy, việc tiến hành tố tụng
có thể đi đến những kết quả sai với sự thức khách quan của vụ án.
(2) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ:
Trong điều kiện nhận thức về pháp luật của nhiều người dân Việt Nam chưa
cao thì việc tuyên truyeền phổ biến pháp luật nói chung là rất quan trọng. Đặc biệt
trong trường hợp một công dân bị truy cứu trách nhiệm hình sự (một loại trách
nhiệm mà chế tài nặng nhất có thể ảnh hưởng đến cả quyền được sống của một
công dân) thì việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho họ là điều vô cùng cần thiết.
Việc giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị can cũng chính là CQTHTT, NTHTT đã
chỉ ra cho bị can hiểu rõ địa vị pháp lý của mình. Từ đó họ có thể biết mình đang
trong tình trạng pháp lý nào, đang có quyền và phải có nghĩa vụ gì.
Theo quy định tại khoản 6 Điều 126 BLTTHS 2003 thì CQĐT phải bảo đảm
việc giao quyết định khởi tố bị can và giải thích quyền, nghĩa vụ cho bị can được
thực hiện. Việc giải thích quyền và nghĩa vụ ở đây không đơn thuần chỉ là việc nêu
lên các quy định của pháp luật mà phải có sự giải thích cặn kẽ cho bị can nắm
được. Bị can có quyền được yêu cầu giải thích về các quyền và nghĩa vụ mà mình
chưa nắm rõ cũng như hỏi về cách thức thực hiện các quyền mà pháp luật đã quy
định cho họ để từ đó khi TGTT, họ có thể bảo vệ quyền lợi của mình một cách hợp
pháp.
Ngoài việc được giải thích về quyền, bị can cũng có quyền được giải thích về
nghĩa vụ của mình để có thể hoàn thành tốt cá nghĩa vụ mà pháp luật đã quy định.
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
4
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
Trong thực tế có nhiều trường hợp bị can không hề được giải thích về nghĩa vụ của
mình (mà chủ yếu là nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan có thẩm
quyền), dẫn đến nhiều trường hợp bị can vi phạm nghĩa vụ này nên bị truy nã, áp
giải trong khi bị can không hề có ý định bỏ trốn.
(3) Trình bày lời khai:
Lời khai của bị can là một trong số các nguồn chứng cứ quan trọng để giải
quyết vụ án. Là đối tượng bị buộc tội, bị can có quyền bào chữa, gỡ tội. Một trong
các hình thức để bào chữa cho mình là việc bị can trình bày lời khai của mình. Bị
can có quyền trình bày các tình tiết, sự việc có liên quan đến vụ án để đưa ra những
bằng chứng chứng minh cho mình trước sự buộc tội của CQTHTT.
Việc khai báo, tình bày lời khai là một quyền chứ không phải là nghĩa vụ của
bị can. Do đó bị can có thể khai báo hoặc không khai báo trước CQTHTT, NTHTT.
Pháp luật không đặt ra trách nhiệm cho bị can trong trường hợp bị can không khai
báo hay khai báo không đúng sự thật. Tuy nhiên bị can được pháp luật khuyến
khích khai báo sự thật một cách thành khẩn để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho
mình (điểm p khoản 1 Điều 46 BLTTHS 2003). Bị can thường trình bày về những
tình tiết có lợi cho mình, nhằm chứng minh là mình vô tội hoặc phạm tội nhẹ hơn
tội đã bị khởi tố, đưa ra những tình tiết, lý do để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho
mình. Cơ quan điều tra cần phải tôn trọng quyền trình bày lời khai của bị can để có
thể xác định sự thật một cách khách quan, không phiến diện, không được dùng
những biện pháp trái pháp luật để buộc tội bị can phải khai báo, điều đó vi phạm
quyền của bị can và có thể dẫn tới sai lầm trong kết quả điều tra.
(4) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu:
Bị can có quyền cung cấp những tài liệu, đồ vật có liên quan đến vụ án. Cơ
quan điều tra khi nhận được các tài liệu, đồ vật do bị can cung cấp phải tiến hành
kiểm tra, đánh giá cách khách quan để xác định các tài liệu, đồ vật đó có phải là
chứng cứ trong vụ án hay không. Bị can cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như
yêu cầu trưng cầu giám định, giám định bổ sung hoặc giám lại, yêu cầu điều tra lại
…
(5) Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch:
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
5
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
Bị can có quyền đề nghị thay đổi những người tiến hành tố tụng, người giám
định, người phiên dịch nếu có căn cứ rõ ràng để cho rằng họ có thể không vô tư
trong khi làm nhiệm vụ, việc họ tiến hành hoặc tham gia tố tụng có thể làm cho vụ
án được giải quyết theo hướng không có lợi cho bị can. Các cơ quan tiến hành tố
tụng phải xem xét, giải quyết yêu cầu của bị can nếu đề nghị đó là có căn cứ.
(6) Tự bào chữa và nhờ người khác bào chữa:
Bị can có quyền tự bào chữa, bị can có thể dùng những lí lẽ và những chứng
cứ để gỡ tội và để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Quyền bào chữa
không chỉ là một quyền độc lập, tách rời với các quyền khác của bị can bị cáo mà
có thể hiểu quyền bào chữa là tổng hòa các quyền của bị can. Ngoài việc đưa ra
những lí lẽ biện hộ cho mình bị can còn thực hiện quyền bào chữa thông qua các
quyền khác như quyền trình bày lời khai, quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu
cầu… Các quyền khác của bị can cũng nhằm mục đích thực hiện việc gỡ tội và bảo
vệ quyền lợi ích hợp pháp của bị can. Việc quy định quyền bào chữa của bị can
nhằm mục đích nhấn mạnh quyền được chống lại việc buộc tội, quyền tự bảo vệ
mình của bị can trước cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị can có thể nhờ người khác bào chữa, trong trường hợp bị can là người
chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất, tâm thần thì Cơ quan điều tra,
Viện kiểm sát hoặc Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư cử người bào chữa cho họ, bị
can và đại diện hợp pháp của họ có quyền yêu cầu thay đổi hoặc từ chối người bào
chữa. Các cơ quan tiến hành tố tụng phải tôn trọng và đảm bảo quyền bào chữa của
bị can.
(7) Được nhận cac quyết định, văn bản tố tụng:
Được nhận quyết định khởi tố; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ
biện pháp ngăn chặn, bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều
tra, quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các
quyết định tố tụng khác theo quy định của luật tố tụng hình sự.
Bị can có quyền nhận các quyết định tố tụng có liên quan đến quyền lợi và
nghĩa vụ của mình. Quyết định này nhằm tạo điều kiện cho bị can có thể thực hiện
tốt quyền bào chữa cũng như các quyền và nghĩa vụ tố tụng khác của mình. Đồng
thời quyết định này cũng đòi hỏicác cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết vụ án
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
6
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
theo đúng thủ tục pháp luật, các quyết định phải được đưa ra với hình thức văn bản,
có căn cứ và đúng pháp luật.
(8) Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm
quyền tiến hành tố tụng:
Bị can có quyền khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan,
người có thẩm quyền tố tụng. Điều này bắt buộc các chủ thể nói trên phải tuân thủ
pháp luật trong khi tiến hành tố tụng, phải tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của
bị can. Bị can có thể khiếu nại các quyết định và hành vi tố tụng của cơ quan, người
có thẩm quyền tố tụng đến các chủ thể có thẩm quyền giải quyết. Các chủ thể này
phải xem xét và giải quyết trong thời hạn luật định, kết quả xem xét, giải quyết phải
được thông báo bằng văn bản cho bị can biết.
1.2. Những quy định về nghĩa vụ của bị can:
Bị can là đối tượng bị buộc tội, còn các CQTHTT là chủ thể có nghĩa vụ phải
chứng minh hành vi phạm tội và đưa ra kết luận cuối cùng để giải quyết vụ án, do
đó pháp luật không quy định nhiều về nghĩa vụ của bị can, trong khi trách nhiệm và
nghĩa vụ của NTHTT lại rất lớn.
Bị can phải có mặt theo giấy triệu tập của CQĐT, VKS. Trong trường hợp bị
can được tại ngoại, khi cần triệu tập bị can để tiến hành các hoạt động điều tra
hoặc các hoạt động tố tụng khác, các cơ quan tiến hành tố tụng phải triệu tập bị can
bằng giấy triệu tập theo đúng thủ tục luật định, trong đó phải ghi rõ thời gian địa
điểm bị can phải có mặt. Bị can có nghĩa vụ phải có mặt theo giấy triệu tập của cơ
quan tiến hành tố tụng, nếu vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp
giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã. Bị can đang bị tạm giam được triệu tập thông qua
Ban giáo thị trại tạm giam.
2. Địa vị pháp lý của bị cáo:
2.1. Những quy định vể quyền của bị cáo:
Với một tư cách tố tụng khác bị can, bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định
đưa ra xét xử. Bị cáo tham gia vào tố tụng từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử
đến khi bản án hoặc quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Cũng như khái
niệm bị can, bị cáo cũng là khái niệm mang tính hình thức, căn cứ vào văn kiện tố
tụng được áp dụng đối với người đó. Một người sẽ trở thành bị cáo khi bị tòa án
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
7
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
quyết định đưa ra xét xử, quyết định đó có thể đúng nhưng cũng có thể sai. Vì vậy,
khái niệm bị cáo không đồng nghĩa với khái niệm chủ thể tội phạm và ngược lại. Bị
cáo cũng không phải là người có tội, bị cáo chỉ trở thành người có tội nếu sau khi
xét xử họ bị Tòa án ra bản án kết tội và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật. Theo
quy định tại khoản 2 Điều 50 BLTTHS thì bị cáo có quyền:
(1) Được nhận các quyết định, văn bản tố tụng:
Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định áp dụng thay đổi hoặc
hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định đình chỉ vụ án, bản án, quyết định của Tòa
án, các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quyền được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử là quyền quan trọng của bị
cáo. Dựa vào nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị cáo được biết tội
danh họ bị đưa ra xét xử, thời gian, địa điểm mở phiên tòa, tên của những người
tham gia tiến hành tố tụng, vật chứng cần xem xét tại phiên tòa … Trên cơ sở đó,
họ mới có thể thực hiện các quyền của mình như quyền tham gia phiên tòa, quyền
đề nghị thay đổi người tiến hành hoặc tham gia tố tụng, quyền yêu cầu xem xét
thêm vật chứng mới … và nhất là quyền được bào chữa. Quyết định đưa vụ án ra
xét xử phải được giao cho bị cáo chậm nhất là 10 ngày trước khi mở phiên tòa. Nếu
không được đảm bảo quyền này, bị cáo có quyền yêu cầu hoãn phiên tòa.
Bị cáo cũng có quyền được nhận các quyết định khác có liên quan đến quyền
và nghĩa vụ của bị cáo như quyết định áp dụng, thây đổi hoặc hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ vụ án, bản án; quyết định của Tòa án
và các quyết định khác theo quy định của pháp luật. Các quyết định này là căn cứ
pháp lý để bị cáo thực hiện các quyền và nghĩa vụ có liên quan đến các quyết định
đó.
(2) Tham gia phiên tòa:
Tại phiên tòa, bị cáo bình đẳng với Kiểm sát viên và những người tham gia
tố tụng khác trong việc đưa chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận
dân chủ tại phiên tòa. Vì vậy, việc bị cáo có quyền tham gia phiên tòa sẽ tạo điều
kiện thuận lợi cho việc bị cáo thực hiện quyền bào chữa và bảo vệ các quyền lợi và
lợi ích hợp pháp của mình. Tòa án phải đảm bảo quyền bình đẳng trước Tòa án của
bị cáo và chỉ có thể xử vắng mặt bị cáo trong những trường hợp luật định, những
trường hợp khác phải hoãn phiên tòa.
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
8
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
(3) Được giải thích về quyền và nghĩa vụ:
Chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo trong thủ tục
bắt đầu phiên tòa. Bị cáo cần phải được biết họ có các quyền và nghĩa vụ gì để họ
có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ đó theo đúng quy định của pháp luật.
(4) Đề nghị thay đồi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên
dịch theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự:
Bị cáo là đối tượng được đưa ra xét xử, là đối tượng buộc tội trong vụ án
hình sự, việc xét xử như thế nào ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của bị
cáo, vì vậy bị cáo có quyền được đề nghị thay đổi NTHTT, người giám định, người
phiên dịch khi có căn cứ rõ ràng để cho rằng những người này có thể không vô tư
trong khi làm nhiệm vụ. Bị cáo có thể thực hiện quyền này trước hoặc tại phiên tòa
xét xử trước khi Hội đồng xét xử hỏi. Chánh án Tòa án Hội đồng xét xử phải xem
xét và giải quyết yêu cầu của bị cáo, khi cần thiết phải hoãn phiên tòa.
(5) Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu:
Bị cáo có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật tại phiên tòa xét xử. Những tài liệu, đồ
vật mà bị cáo đưa ra thông thường có ý nghĩa gỡ tội cho bị cáo, chứng minh bị cáo
không phạm tội hoặc chứng minh những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho
bị cáo. Hội đồng xét xử phải kiểm tra, xác minh và đánh giá các đồ vật, tài liệu đó
có phải là chứng cứ trong vụ án không và giá trị của nó trong việc xác định sự thật
của vụ án.
Bị cáo cũng có quyền đưa ra những yêu cầu như yêu cầu triệu tập thêm
người làm chứng hoặc yêu cầu đưa thêm vật chứng, tài liệu xem xét, yêu cầu hoãn
phiên tòa … Các yêu cầu này phải được Tòa án xem xét giải quyết.
(6) Tự bào chữa hoặc nhời người khác bào chữa:
Quyền bào chữa được thực hiện ngay từ khi một người bị khởi tố về hình sự,
khi họ trở thành đối tượng buộc tội và được thực hiện quyền trong suốt quá trình
điều tra, truy tố, xét xử dưới nhiều hình thức khác nhau. Nhưng quyền này được thể
hiện rõ nét nhất qua việc bị cáo tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa tại
phiên tòa. Trong khi tranh luận, bị cáo trình bày lời bào chữa, nếu bị cáo có người
bào chữa thì người này bào chữa cho bị cáo, bị cáo có quyền bổ sung ý kiến của
mình. Tòa án phải tông trọng quyền bào chữa của bị cáo. Việc tôn trọng quyền bào
chữa của bị cáo không chỉ là đảm bảo quyền lợi cho bị cáo, thể hiện tính nhân đạo
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
9
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
và dân chủ trong tố tụng hình sự mà còn là đảm bảo quan trọng để xác định sự thật
của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ.
(7) Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa:
Bị cáo có quyền đưa ra ý kiến, những lập luận của mình và đối đáp với
những ý kiến không thống nhất của các chủ thể khác.
(8) Nói lời sau cùng trước khi nghị án:
Sau khi Hội đồng xét xử kết thúc xét xử và tranh luận, bị cáo được nói lời
sau cùng trước khi nghị án. Pháp luật quy định quyền này là tạo điều kiện để bị cáo
có cơ hội được bày tỏ thái độ và nguyện vọng của mình trước khi Hội đồng xét xử
đưa ra những quyết định đối với vụ án. Trong khi nói lời sau cùng, bị cáo có quyền
trình bày mọi vấn đề liên quan đến vụ án, tỏ thái độ của mình đối với việc buộc
tội… Hội đồng xét xử phải chú ý và tôn trọng quyền nói lời sau cùng trước khi nghị
án. Nhiều trường hợp, khi nói lời sau cùng, bị cáo lại đưa ra những tình tiết có ý
nghĩa quan trọng đối với vụ án, khi đó, Hội đồng xét xử phải quay lại việc xét hỏi.
(9) Kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án:
Kháng cáo là quyền chống lại bản án và quyết định của Tòa án, yêu cầu được
xét xử lại. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án và các quyết định đình chỉ và tạm
đình chỉ vụ án chưa có hiệu lực pháp luật của Tòa án. Khi kháng cáo của bị cáo là
hợp lệ, Tòa án cấp phúc thẩm phải xem xét và giải quyết quyền kháng cáo của bị
cáo. Để bị cáo có thể yên tâm thực hiện quyền kháng cáo, luật tố tụng hình sự quy
định, nếu chỉ có kháng cáo của bị cáo mà không có kháng cáo, kháng nghị theo
hướng tăng nặng nào khác thì Tòa cấp phúc thẩm không có quyền sửa án theo
hướng bất lợi hơn cho bị cáo.
(10) Khiếu nại quyết định hành vi của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng:
Bị cáo có quyền khiếu nại quyết định của cơ quan, người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng. Những quyết định này không thuộc đối tượng kháng cáo như quyết
định áp dụng, thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn… Bị cáo cũng có quyền khiếu
nại hành vi tố tụng của cơ quan, người tiến hành tố tụng nếu các hành vi đó là trái
pháp luật
2.2. Những quy định về nghĩa vụ của bị cáo:
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
10
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
Bị cáo phải có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án, trong trường hợp vắng mặt
không có lí do chính đáng thì có thể áp giải, nếu bỏ trốn thì bị truy nã
II. THỰC TRẠNG VIỆC THỰC HIỆN CÁC QUYỀN LỢI CỦA BỊ CAN, BỊ
CÁO:
1. Thực tiễn thực hiện quyền tự bào chữa của bị can, bị cáo:
Tự bào chữa là một trong những hình thức để bị can, bị cáo bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật. Tự bào chữa là quyền năng
tố tụng đặc thù của bị can, bị cáo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho phép bị
can, bị cáo tự mình thực hiện các hành vi tố tụng và biện pháp bào chữa theo quy
định của pháp luật nhằm minh oan, bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm
hình sự cho mình. Là người bị buộc tội nhưng trong thực tế vì những lí do khác
nhau mà bị can, bị cáo thường tự mình thực hiện quyền bào chữa chứ không nhờ
người khác bào chữa cho mình. Theo số liệu thống kê thì trong thời gian vừa qua số
vụ án mà bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa của mình bằng hình thức tự bào
chữa chiếm gần 90% so với tổng số vụ án mà các toà án đã xét xử. Số vụ án có
người bào chữa tham gia chiếm tỉ lệ rất thấp. Nguyên nhân của tình trạng bị can,
bị cáo không nhờ người khác bào chữa cho mình rất đa dạng.
- Thứ nhất, nhân dân ta chưa có thói quen nhờ người bào chữa và chưa thấy
rõ được vai trò của người bào chữa trong các vụ án hình sự.
- Thứ hai, nhiều người biết nhưng lại không có tiền hoặc sợ tốn kém nên
không mời người bào chữa.
- Thứ ba, trình độ hiểu biết pháp luật của một số bị can, bị cáo hiện nay là
quá thấp nên mặc dù được cơ quan tiến hành tố tụng giải thích nhưng họ vẫn không
hiểu. Ngược lại, có trường hợp bị can, bị cáo không được cơ quan tiến hành tố tụng
giải thích một cách rõ ràng.
Vụ án Tăng Muộn phạm tội bức tử ở Quảng Ngãi là một ví dụ. Tăng
Muộn là người đàn ông hết mực thương yêu vợ, con. Chỉ vì lỡ tay tát vợ một lần
khi vợ cãi vã, người vợ giận chồng uống thuốc tự tử. Bị cáo Tăng Muộn bị toà án
nhân dân huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi tuyên án phạt tù về tội bức tử. Vụ án được
đưa ra xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm vì có sai lầm trong việc áp dụng bLHS.
Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi đã mở phiên toà giám đốc
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
11
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
thẩm và tuyên bố Tăng Muộn vô tội. Được hỏi sao không kháng cáo ngay sau khi
xét xử sơ thẩm, Tăng Muộn đã trả lời: “Sau khi vợ chết, em thấy mình có lỗi vì quá
nóng giận, với lại suốt ngày đi đốn củi đong gạo nuôi con, có biết gì về pháp luật
đâu”.
Và còn nhiều trường hợp tương tự như vậy. Bị can không biết mình có quyền
nhờ người bào chữa và sử dụng nó như là công cụ hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi
cho mình. Bùi Minh Hải người đã hơn một năm tù oan ở Đồng Nai cho biết, anh
hoàn toàn không biết mình có quyền đó, cứ nghĩ khi bị khởi tố thì quyền sinh,
quyền sát thuộc về cơ quan điều tra, còn luật sư anh tưởng cứ phải ra toà mới giúp.
Những người hoàn toàn không biết như bùi Minh Hải và Tăng Văn Muộn không
phải là những trường hợp hiếm trong thực tiễn tố tụng hiện nay. Nguyên nhân chủ
yếu là do trình độ hiểu biết pháp luật tố tụng của họ về quyền của bị can, bị cáo còn
hạn chế. Không mấy ai biết được người bào chữa có quyền tham gia tố tụng từ khi
khởi tố bị can, vì vậy tuyệt đại đa số họ không nhờ người bào chữa từ thời điểm
này. Có những bị cáo khi được tuyên vô tội cho biết: Nếu ngay từ khi khởi tố bị can
mà họ được biết có thể mời luật sư thì số phận pháp lí của họ không phải long đong
như vậy. Bởi lẽ, các biên bản hỏi cung họ không hề được đọc lại do không rành
tiếng Việt nhưng vẫn buộc kí tên. Chính những biên bản hỏi cung mà họ không
rành nội dung ấy đã hại họ những ngày tháng bị giam khổ sở.
Thường những trường hợp bị can, bị cáo tự bào chữa thì chất lượng không
cao. Thậm chí có trường hợp bị kết tội oan nhưng họ vẫn cam chịu và không biết
phải làm thế nào để có thể minh oan. Trong những vụ án trên, nếu có sự tham gia
của người bào chữa thì chắc chắn sẽ hạn chế được việc huỷ và sửa án, số bị cáo bị
oan sai giảm, quyền và lợi ích hợp pháp của họ được bảo vệ.
2. Thực tiễn thực hiện quyền nhờ người khác bào chữa của bị can, bị cáo:
Cùng với sự phát triển về số lượng và chất lượng của đội ngũ luật sư trong
những năm gần đây, số vụ án có người bào chữa tham gia mặc dù còn là con số rất
khiêm tốn nhưng so với trước đây thì ngày càng tăng. Trong thời gian gần đây,
70% phiên toà không có luật sư tham gia, trong đó bao gồm cả phiên toà hình sự.
Nguyên nhân là số vụ án nhiều, trong khi số luật sư hành nghề thì ít, đối tượng phải
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
12
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
ra toà thường nghèo hoặc chưa tin cậy luật sư. Theo thống kê thì ít khi luật sư tham
gia các phiên toà do tòa án nhân dân cấp huyện xử. Số vụ án hình sự có người bào
chữa tham gia chiếm tỉ lệ hết sức khiêm tốn, chiếm khoảng hơn 10% so với tổng số
vụ án mà các toà án đã xử và chủ yếu là bào chữa theo yêu cầu của cơ quan tiến
hành tố tụng.
Thực tiễn xét xử các vụ án có sự tham gia của người bào chữa cho thấy sự
tham gia tố tụng của người bào chữa đã thực sự mang lại những hiệu quả cho bị
can, bị cáo. Nó không hề mang tính hình thức như một số người vẫn thường nghĩ,
kể cả người tiến hành tố tụng. Việc tham gia tố tụng của người bào chữa đã góp
phần vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cuả bị can, bị cáo giúp cơ quan tiến
hành tố tụng giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Mặc dù
còn có những khó khăn nhất định nhưng sự tham gia của người bào chữa nói chung
đã đáp ứng được yêu cầu bào chữa và đạt được những kết quả đáng kể. Trong đó có
những trường hợp toà án đã xử nhẹ hơn so với mức đề nghị của viện kiểm sát hoặc
tuyên bố bị cáo không phạm tội; đổi tội danh nhẹ hơn hoặc yêu cầu điều tra bổ
sung… Đặc biệt có một số trường hợp luận điểm bào chữa của luật sư không được
toà án cấp sơ thẩm chấp nhận nhưng lại được toà án cấp phúc thẩm chấp nhận.
3. Thực tiễn thực hiện quyền thay đổi NTHTT của bị can, bị cáo:
Theo thống kê số liệu ngành Tòa án tỉnh Lai Châu từ năm 2005 đến nay thì
chưa có trường hợp thay đổi NTHTT nào. Vì lý do đội ngũ cán bộ, NTHTT ở Lai
Châu rất ít, một Tòa chỉ có một vài thẩm phán với số lượng công việc khá lớn. Điều
tra Viên hay Kiểm sát viên cũng trong trường hợp tương tự, phải kiêm nhiệm nhiều
công việc, chức vụ. Việc thay đổi NTHTT trong một vụ án hình sự là rất khó khăn vì
hầu như không thể bố trí được NTHTT khác để thay thế. Do vậy, quyền yêu cầu thay
đổi NTHTT của bị can, bị cáo chưa có điều kiện thực hiện trên thực tế. Đa số việc
tham gia của luật sư từ giai đoạn điều tra là không được thực hiện trên thực tế.
Nguyên nhân là do không có luật sư tham gia tố tụng và không loại trừ nguyên
nhân từ Cơ quan điều tra.
4. Thực tiễn thực hiện các quyền khác của bị can, bị cáo:
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
13
Bài tập học kì – Môn Luật tố tụng hình sự
Đối với các quyền khác của bị can, bị cáo cũng còn bị xâm phạm khá
nhiều như: NTHTT không giải thích đầy đủ về quyền và nghĩa vụ cho bị can,
bị cáo; Ở các tỉnh miền núi thì do đi lại khó khăn, thông tin liên lạc kém phát
triển nên nhiều trường hợp bị can, bị cáo không nhận được các quyết định tố
tụng theo quy định … Quyền khiếu nại đối với hành vi tố tụng, quyết định tố
tụng của NTHTT của bị can, bị cáo cũng chưa được đảm bảo vì công tác giải
quyết khiếu nại, tố cáo trên thực tế còn rất yếu kém. Pháp luật chỉ quy định
cho bị can, bị cáo nghĩa vụ duy nhất là có mặt theo giấy triệu tập của cơ quan
có thẩm quyền, tuy nhiên, trên thực tế cho thấy, bị can, bị cáo thường xuyên vi
pham nghĩa vụ này, khiến CQĐT phải ra lệnh áp giải và quyết định truy nã
đối với họ.
Tại tỉnh Lai Châu, trong những năm gần đây, số bị can, bị cáo bị truy nã
có xu hướng tăng. Số đối tượng truy nã phát sinh từ 01/10/2004 đến 30/6/2009
tổng số: 153 đối tượng, trong đó: nguy hiểm có 44 đối tượng, đặc biệt nguy
hiểm có 35 đối tượng, truy nã thường là 74 đối tượng.
Nguyên nhân là do ý thức pháp luật của công dân là rất kém, hiểu biết về
pháp luật của bị can, bị cáo là rất thấp dẫn đến việc bị can, bị cáo không biết mình
có các quyền và nghĩa vụ gì trong quá tình tố tụng để thực hiện. Tại Lai Châu và các
tỉnh miền núi, vùng sâu, vùng xa, do trình đọ dân trí và đặc điểm kinh tế xã hộ mà sự
hiểu biết về pháp luật và vận dụng pháp luật là hết sức khó khăn.
việc hoàn thiện pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi của bị can, bị cáo.
III. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT NHẰM ĐẢM BẢO THỰC
HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA BLTTHS VỀ QUYỀN LỢI CỦA BỊ CAN, BỊ
CÁO:
Từ thực trạng thực hiện quyền và nghĩa vụ của bị can, bị cáo trong TTHS ở
phần trên và qua việc phân tích những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó, em xin
đưa ra những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ
của bị can, bị cáo trong công tác tố tụng như sau:
1. Kiến nghị sửa đổi, bố sung những quy định của BLTTHS 2003 về địa vị
pháp lý của bị can, bị cáo và những quy định liên quan:
Nguyễn Hải Yến – Nhóm 03 –TL2 – Lớp N04
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét