Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
5
Khi xã hội loài người chuyển lên hình thái tư bản chủ nghĩa, Nhà nước
bắt ñầu ý thức ñược vai trò của mình ñối với sự vận ñộng của nền kinh tế.
Nhà nước ngày càng can thiệp nhiều hơn, mạnh mẽ hơn vào tiến trình kinh
tế - xã hội của ñất nước và bước ñầu cao hơn là trực tiếp tham gia thực hiện
và ñiều khiển các tiến trình kinh tế - xã hội.
Khi quyền lực tối cao trong xã hội ngày càng chuyển sang tay dân
chúng, công bằng xã hội ngày càng ñược ñặt ra, ñiều này ñòi hỏi người ñại
diện cho nhân dân (Nhà nước) phải hướng sự hoạt ñộng của mình vào sự
phát triển toàn diện của dân chúng, phải quan tâm ñến người có thu nhập
thấp, thất nghiệp, người gia, trẻ em, người mất khả năng tạo ra thu nhập. Vì
vậy ñể thực hiện việc này Nhà nước phải có chính sách nhất ñịnh ñể tạo ra
thu nhập của ngân sách dùng cho mục tiêu xã hội.
Tóm lại: Khi Nhà nước giữ vai trò trung lập trong xã hội, chỉ giới hạn
nhiệm vụ của mình ở các hành vi bạo lực và quản lý hành chính. ðơn thuần
thì nhu cầu chi tiêu của Nhà nước cũng giới hạn ở ñây và nó kéo theo sự hạn
chế tương ứng các mục tiêu của thuế. Khi Nhà nước có thêm nhiệm vụ ñiều
hành và quản lý nền kinh tế tức là tăng thêm nhu cầu chi tiêu thì thuế cũng
gia tăng cả về chất lẫn về lượng. Cho ñến khi ñại ña số dân chúng trở thành
chủ xã hội thì khát vọng bình quyền buộc Nhà nước hoạt ñộng hướng theo
sự an ninh xã hội, sự lành mạnh và tích cực trong phát triển cả về thể chất và
tinh thần của người dân. Lúc ñó nhu cầu chi tiêu của Nhà nước không những
nhiều hơn và còn ñúng chỗ hơn. Vì thế thuế cũng không những mở rộng hơn
mà còn phải nhìn rõ ñể ñánh ñúng hơn.
Sự xuất hiện Nhà nước ñòi hỏi cơ sở vật chất ñể ñảm bảo ñiều kiện cho
Nhà nước tồn tại và thực hiện chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền
lực chính trị của mình ñể ban hành những quy ñịnh pháp luật cần thiết làm
công cụ phân phối lại một phần của cải xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
6
trung của Nhà nước.
Như vậy: Thuế là phạm trù lịch sử, là một tất yếu khách quan xuất hiện
từ nhu cầu ñáp ứng chức năng của Nhà nước. Thuế ñược Nhà nước sử dụng
như một công cụ kinh tế quan trọng nhằm huy ñộng nguồn thu cho Ngân
sách Nhà nước, góp phần ñiều chỉnh kinh tế và ñiều hòa thu nhập
2. Khái niệm:
Thuế là một khoản ñóng góp mang tính bắt buộc mà Nhà nước quy ñịnh
thành luật ñể mọi tổ chức kinh tế và cá nhân phải nộp cho Nhà nước ñể ñáp
ứng nhu cầu chi tiêu công cộng.
3 ðặc ñiểm:
* Tính quyền lực và tính cưỡng chế
Ngay từ khi ra ñời thuế ñã mang tính quyền lực, tính cưỡng chế bắt
buộc cho ñến ngày nay cũng vậy. Thuế không thể xây dựng trên cơ sở dung
hoà với tư tưởng tự nguyện, không thể trông chờ vào thiện chí hoặc lòng
nhiệt tình của dân chúng ñối với Nhà nước. Nhà nước với tư cách là ñại diện
cho quan hệ lợi ích công cộng, lợi ích cộng ñồng thì thuế thể hiện ý chí của
người dân.
Trong chế ñộ dân chủ thì thuế do cơ quan quyền lực tối cao quyết ñịnh
ñó là Quốc hội. Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy
ñịnh: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy ñịnh, sửa ñổi hoặc bãi bỏ các
luật thuế. Tuy vậy, do yêu cầu ñiều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế,
Quốc hội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy ñịnh, sửa ñổi
hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc
Nghị quyết về thuế.
* Tính không ñối giá trực tiếp
Nộp thuế là một nghĩa vụ xã hội mà công dân không có quyền trốn
tránh và cũng không có quyền ñòi hỏi trao ñổi ngang giá (ñối giá trực tiếp).
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
7
Số tiền thuế mà các cá nhân và tổ chức kinh tế phải nộp không phụ thuộc
vào mức ñộ thụ hưởng các dịch vụ công cộng do Nhà nước cung cấp tức là
lợi ích riêng mà tuỳ theo khả năng thu thuế.
*Tính chi tiêu cho lợi ích công cộng
ðặc ñiểm này làm giảm ý niệm cưỡng bức của thuế. Tổng thu nhập từ
thuế Nhà nước chỉ chi một phần cho quản lý hành chính, ñại bộ phận số thu
nhập còn lại ñược chuyển giao cho dân chúng thông qua các hoạt ñộng sự
nghiệp và phúc lợi công cộng như: văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh quốc
phòng, thông tin, thể thao, bảo vệ môi trường, bảo trợ xã hội…
4. Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường:
Các nhà kinh tế học thường ñề cập vai trò của thuế ñối với ngân sách
Nhà nước và ñời sống xã hội. Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt ñộng thu
thuế, Nhà nước tập trung ñược một bộ phận của cải của xã hội từ ñó hình
thành nên quỹ ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã
hội.
Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước ñặt ra
thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật. Các văn bản quy phạm pháp
luật không chỉ quy ñịnh nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền,
nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp ñảm bảo thực hiện thu, nộp thuế.
Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà
nước. Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết ñịnh ý nghĩa kinh tế - xã
hội của thuế và có vai trò quan trọng ñối với nền kinh tế và ñời sống xã hội.
Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong
những ñiều kiện kinh tế, xã hội nhất ñịnh. Trong ñiều kiện nền kinh tế thị
trường, với sự thay ñổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt ñộng
kinh tế, thuế ñóng vai trò hết sức quan trọng ñối với quá trình phát triển kinh
tế - xã hội. Vai trò của thuế ñược thể hiện trên các khía cạnh sau ñây:
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
8
* Thuế là công cụ chủ yếu của Nhà nước nhằm huy ñộng tập trung một
phần của cải vật chất trong xã hội vào ngân sách Nhà nước.
Nhà nước ban hành pháp luật thuế và ấn ñịnh các loại thuế áp dụng ñối
với các pháp nhân và thể nhân trong xã hội.Việc các chủ thể nộp thuế - thực
hiện nghĩa vụ nộp thuế theo quy ñịnh của pháp luật thuế ñã tạo ra nguồn tài
chính quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nguồn thu ngân sách Nhà
nước.
Cũng như pháp luật nói chung, pháp luật thuế có chức năng ñiều chỉnh
các quan hệ xã hội. Mục ñích chủ yếu và quan trọng nhất cuả sự ñiều chỉnh
quan hệ pháp luật thu - nộp thuế là nhằm tạo lập quỹ ngân sách Nhà nước.
Hầu hết ở các quốc gia, thuế là hình thức chủ yếu mà pháp luật quy ñịnh ñể
thu ngân sách Nhà nước.
Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu
nội bộ của nền kinh tế quốc dân. Trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường, xuất
phát từ phạm vi hoạt ñộng mà ñòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức
thực hiện pháp luật thuế ñể tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà
nước từ ñó mới ñáp ứng ñược nhu cầu chi ngày càng tăng.
Thuế là công cụ quan trọng nhất ñể phân phối lại tổng sản phẩm xã hội
và thu nhập quốc dân theo ñường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Hiện nay nguồn thu từ nước ngoài ñã giảm nhiều, kinh tế ñối ngoại chuyển
thành có vay có trả. Trước tiên, thuế là một công cụ quan trọng ñể góp phần
ổn ñịnh trật tự xã hội, chuẩn bị ñiều kiện và tiền ñề cho việc phát triển lâu
dài.
Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống pháp luật thuế mới ñược
áp dụng thống nhất giữa các thành phần kinh tế. Thuế ñã ñiều chỉnh ñược
hầu hết các hoạt ñộng sản xuất, kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu
dùng xã hội. Ðây là nguồn thu chính của ngân sách Nhà nước.
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
9
* Thuế là công cụ ñiều tiết vĩ mô của Nhà nước ñối với nền kinh tế và
ñời sống xã hội.
Ngoài việc huy ñộng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, pháp luật thuế
còn có vai trò quan trọng trong việc ñiều tiết vĩ mô ñối với nền kinh tế. Ðiều
26 Hiến pháp 1992 ghi nhận: Nhà nước thống nhất quản lý nền kinh tế quốc
dân bằng pháp luật, kế hoạch, chính sách. Là một bộ phận của hệ thống pháp
luật Việt Nam, pháp luật thuế ñóng vai trò là công cụ ñiều tiết vĩ mô của
Nhà nước. Thông qua việc ban hành và thực hiện pháp luật thuế, Nhà nước
thể chế hoá và thực hiện chính sách ñiều tiết ñối với nền kinh tế, ñiều tiết thu
nhập và tiêu dùng xã hội.
Ðiều tiết ñối với nền kinh tế là yêu cầu khách quan, thường xuyên của
Nhà nước trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường. Thông qua các quy ñịnh
của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế, phạm vi ñối tượng nộp thuế, thuế
suất, miễn giảm thuế Nhà nước chủ ñộng phát huy vai trò ñiều tiết ñối với
nền kinh tế. Vai trò này của pháp luật thuế ñược thể hiện ở chỗ pháp luật
thuế là công cụ tác ñộng ñến tư duy ñầu tư, hành vi ñầu tư của các chủ thể
kinh doanh, hành vi tiêu dùng của các thành viên trong xã hội. Dựa vào công
cụ thuế, Nhà nước có thể thúc ñẩy hoặc hạn chế việc ñầu tư, tiêu dùng.
Thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước chủ ñộng can
thiệp ñến cung - cầu của nền kinh tế. Sự tác ñộng của Nhà nước ñể ñiều
chỉnh cung - cầu của nền kinh tế một cách hợp lý sẽ có tác ñộng lớn ñến sự
ổn ñịnh và tăng trưởng kinh tế. Bằng các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà
nước tác ñộng tích cực ñến cung - cầu của nền kinh tế trong tất cả các giai
ñoạn từ sản xuất, lưu thông ñến tiêu dùng.
Ðiều tiết tiêu dùng là hoạt ñộng quan trọng của Nhà nước ñối với nền
kinh tế thị trường. Thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước tác
ñộng ñến các quan hệ tiêu dùng của xã hội. Nhằm hạn chế việc tiêu dùng ñối
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
10
với một số hàng hóa, dịch vụ, Nhà nước tăng thuế suất thuế giá trị gia tăng,
thuế xuất nhập khẩu ñối với việc sản xuất kinh doanh, tiêu dùng các loại
hàng hóa ñó.
Ðể thực hiện chính sách bảo hộ, khuyến khích sản xuất trong nước và
khuyến khích xuất khẩu, pháp luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có các
quy ñịnh khuyến khích hoặc hạn chế việc xuất, nhập khẩu ñối với một số
hàng hóa. Sự khuyến khích hoặc hạn chế này thể hiện tập trung ở biểu thuế
áp dụng có tính chất phân biệt ñối với các loại hàng hóa xuất nhập khẩu.
Trong ñiều kiện cạnh tranh của nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị
trường tất yếu dẫn ñến tình trạng suy thoái về tài chính ở một số doanh
nghiệp. Ðối với những ngành nghề, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh cần
khuyến khích, ngoài các quy ñịnh chung, pháp luật thuế còn có các quy ñịnh
ưu ñãi, miễn, giảm thuế nhằm khắc phục sự suy thoái về tài chính, tạo sự ổn
ñịnh và phát triển của các doanh nghiệp.
Thuế góp phần khuyến khích khai thác nguyên liệu, vật tư trong nước
ñể ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu.Thông qua pháp luật thuế, Nhà
nước có tác ñộng tích cực trong việc thúc ñẩy sản xuất phát triển trên cơ sở
tận dụng, sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn lực của ñất nước trong
việc ñiều chỉnh cung - cầu và cơ cấu kinh tế.
* Pháp luật thuế là công cụ góp phần ñảm bảo sự bình ñẳng giữa các
thành phần kinh tế và công bằng xã hội.
Hệ thống pháp luật thuế mới ñược áp dụng thống nhất chung cho các
ngành nghề, các thành phần kinh tế, các tầng lớp dân cư nhằm ñảm bảo sự
bình ñẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ ñối với mọi thể
nhân và pháp nhân.
Sự bình ñẳng và công bằng ñược thể hiện thông qua chính sách ñộng
viên giống nhau giữa các ñơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
11
những ñiều kiện hoạt ñộng giống nhau, ñảm bảo sự bình ñẳng và công bằng.
Vai trò ñiều tiết thu nhập của pháp luật thuế thể hiện ở sự tác ñộng của
pháp luật thuế ñối với các quan hệ phân phối và sử dụng thu nhập trong xã
hội.
Sự vận ñộng của nền kinh tế theo cơ chế thị trường ñòi hỏi Nhà nước
phải sử dụng ñồng bộ nhiều công cụ khác nhau ñể khắc phục sự mất cân ñối
về mặt xã hội trong ñó có mất cân ñối về thu nhập. Nhà nước sử dụng pháp
luật thuế làm công cụ ñể ñiều hòa vĩ mô thu nhập trong xã hội. Sự ñiều tiết
này thể hiện ở chỗ thông qua các quy ñịnh của pháp luật thuế, Nhà nước
thực hiện việc ñiều tiết thu nhập của các ñối tượng nộp thuế và các thành
viên trong xã hội. Sự thay ñổi của pháp luật thuế về cơ cấu các loại thuế
trong hệ thống thuế, về thuế suất ñều có tác ñộng ñến thu nhập và sử dụng
thu nhập trong xã hội.
Hiện nay, xu hướng chung của các quốc gia là xây dựng các quy phạm
pháp luật thuế theo hướng hội nhập quốc tế, ñơn giản hóa cơ cấu hệ thống
thuế và thuế suất Tuy vậy, việc thực hiện xu hướng chung ñó không làm
triệt tiêu vai trò của pháp luật thuế là công cụ ñiều tiết vĩ mô của Nhà nước
trong ñiều kiện nền kinh tế thị trường.
II. PHÂN LOẠI THUẾ:
Tùy theo ñiều kiện và hoàn cảnh cụ thể của mỗi nước mà hệ thống
pháp luật thuế bao gồm nhiều loại thuế khác nhau. Ðể ñịnh hướng xây
dựng và quản lý hệ thống thuế, chúng ta tiến hành sắp xếp các Luật thuế
có cùng tính chất thành những nhóm khác nhau, gọi là phân loại thuế. Do
ñó:
Phân loại thuế là việc sắp xếp các loại thuế trong hệ thống pháp
luật thuế thành những nhóm khác nhau theo những tiêu thức nhất ñịnh.
Tùy thuộc vào mục tiêu, yêu cầu của từng giai ñoạn phát triển kinh tế
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
12
- xã hội mà cơ cấu và nội dung các Luật thuế có khác nhau. Cũng tùy thuộc
vào cơ sở, mục ñích phân ñịnh, thông thường thuế ñược phân loại theo các
tiêu thức sau:
1. Phân loại theo tính chất chuyển dịch của thuế
a. Thuế gián thu
Thuế gián thu là một loại thuế ñược cộng vào giá, là một bộ phận cấu
thành giá cả hàng hóa, dịch vụ.
Các loại thuế gián thu: thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ ñặc biệt, thuế
giá trị gia tăng.
Bản chất: người nộp thuế có thể chuyển dịch số thuế phải nộp sang cho
người mua hàng hóa và dịch vụ bằng cách cộng số thuế vào giá bán hàng
hóa và dịch vụ. Do ñó người nộp thuế không phải là người chịu thuế, người
chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ.
* Ưu ñiểm
Thuế gián thu dễ thu hơn thuế trực thu vì tránh ñược quan hệ giữa
người chịu thuế với cơ quan thuế
Dễ ñiều chỉnh tăng hơn thuế trực thu vì người chịu thuế không cảm
nhận ñầy ñủ gánh nặng của các loại thuế này.
* Nhược ñiểm
Tính luỹ thoái vì ñánh như nhau trên cùng một loại hàng hóa và dịch vụ
nên người giàu và người nghèo nếu tiêu dùng cùng một hàng hóa và dịch vụ
như nhau thì chịu thuế như nhau. Do ñó người giàu sẽ chịu thuế thấp hơn
người nghèo, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ nộp thuế càng thấp.
b. Thuế trực thu
Thuế trực thu là loại thuế mà Nhà nước thu trực tiếp vào phần thu nhập
của các pháp nhân hoặc thể nhân.
Bản chất: người nộp thuế theo quy ñịnh của pháp luật ñồng thời là
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
13
người chịu thuế.
Các loại thuế trực thu: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân…
* Ưu ñiểm
Thuế trực thu trực tiếp ñộng viên, ñiều tiết thu nhập của người chịu thuế
Thuế trực thu cho phép tính ñến các yếu tố ñộc lập với thu nhập của
người nộp thuế: hoàn cảnh gia ñình, tình trạng hôn nhân…
Ít gây ra tác ñộng ñến tiêu dùng và không làm giảm sản lượng của nền
kinh tế
* Nhược ñiểm
Do thuế trực thu thu trực tiếp trên thu nhập của người nộp thuế nên làm
hạn chế cố gắng tăng thu nhập của các ñối tượng nộp thuế vì thu nhập càng
cao thì số thuế phải nộp càng nhiều.
Do người có thu nhập chịu thuế trực tiếp trả cho Nhà nước nên họ cảm
nhận thấy gánh nặng của thuế như một món nợ dẫn ñến tình trạng trốn thuế,
lậu thuế…
Việc hành thu khó khăn do số lượng, ñối tượng, tâm lý người nộp thuế
và chi phí hành thu cao.
2. Phân loại theo ñối tượng chịu thuế
Theo cách phân loại này thuế ñược chia thành 3 loai:
- Thuế thu nhập ñánh vào thu nhập: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế
thu nhập cá nhân
- Thuế tiêu dùng ñánh vào hàng hóa và dịch vụ: thuế nhập khẩu, thuế
tiêu thụ ñặc biệt, thuế giá trị gia tăng
- Thuế tài sản là loại thuế ñánh vào việc sở hữu, sử dụng hay chuyển
nhượng tài sản: thuế nhà ñất, thuế chuyển quyền sử dụng ñất
Giảng Viên: Nguyễn Thị Mai Hương Nhóm: 3 Trang
14
CHƯƠNG 2: THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU Ở VIỆT NAM – QUÁ
TRÌNH HOÀN THIỆN.
I. Thực trạng thuế XNK ở Việt Nam trước khi gia nhập WTO.
1.Tổng quan:
1.1 Những chính sách của Nhà nước:
Về số lượng hàng nhập khẩu, Nhà nước áp dụng các chính sách hạn
chế ñịnh lượng XNK ñối với mặt hàng ô tô, các mặt hàng ñiện tử, ñiện lạnh,
phân bón, thuốc lá, thực phẩm và các mặt hàng xa xỉ phẩm; cấm nhập khẩu
một số mặt hàng như xe ñạp, xe hai bánh, ba bánh gắn máy cũ, các vật tư,
phương tiện ñã qua sử dụng. Hàng tiêu dùng như dệt may, giày dép, quần áo,
ñồ ñiện tử, ñiện lạnh, ñiện gia dụng, hàng trang trí nội thất, thiết bị y tế, ñồ
gia dụng, các sản phẩm công nghệ thông tin ñã qua sử dụng cũng nằm trong
danh mục hàng cấm nhập. Nhà nước còn quy ñịnh hạn ngạch XNK ñối với
mặt hàng thuốc lá nguyên liệu, bông, sữa nguyên liệu cô ñặc, sữa nguyên
liệu chưa cô ñặc, muối, ngô hạt và trứng gia cầm, Số lượng hàng hóa nhập
khẩu sẽ ñược ñiều chỉnh thuế suất dựa trên sự cân ñối giữa nhu cầu và năng
lực sản xuất trong nước. Ngoài ra còn có những quy ñịnh về việc cấp phép
nhập khẩu tùy ý ñối với một số mặt hàng (ñường,…)
Về xác ñịnh trị giá tính thuế nhập khẩu, chủ trương áp dụng bảng
giá tối thiểu và giá tham khảo ñể tính thuế nhập khẩu với một số mặt hàng:
rượu vang, rượu mạnh, gạch lát, v.v…
Về quyền kinh doanh XNK của các doanh nghiệp, quy ñịnh rõ:
doanh nghiệp FDI và cá nhân nước ngoài không ñược chuyên kinh doanh
XNK, mà doanh nghiệp FDI chỉ ñược nhập khẩu những mặt hàng qui ñịnh
trong giấy phép ñầu tư nhằm phục vụ mục ñích sản xuất của mình.
Về biểu thuế nhập khẩu: Ban hành biểu thuế xuất khẩu theo danh
mục nhóm hàng chịu thuế và khung thuế suất ñối với từng nhóm hàng, biểu
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét