Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
có quan hệ huyết thống với nhau sau đó là những người có quan hệ nuôi dưỡng
và quan hệ hôn nhân. Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tại các Điều 36, Điều
38, Điều 47, Điều 48 những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau bao gồm: Cha
mẹ và con, anh chị em với nhau, ông bà và cháu. Bên cạnh đó, Điều 50 của Luật
cũng quy định: Nghĩa vụ cấp dưỡng cũng được thực hiện giữa cha mẹ và con,
giữa anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại với cháu, giữa vợ và
chồng. Mặt khác điều kiện phát sinh hai nghĩa vụ này cũng có nét tương đồng
như: Một hoặc nhiều người trong số những người có quan hệ gia đình với nhau
nhưng không có khả năng để tự nuôi mình và những người khác có khả năng để
nuôi dưỡng hoặc cấp dưỡng. Do vậy, để phân biệt hai nghĩa vụ này phải dựa vào
yếu tố không gian giữa chủ thể của quan hệ cấp dưỡng và quan hệ nuôi dưỡng.
Luật HN&GĐ quy định khi người có quan hệ nuôi dưỡng không cùng chung
sống với nhau thì giữa họ phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng. Đây chính là điểm mấu
chốt có thể phân biệt nghĩa vụ cấp dưỡng và nghĩa vụ nuôi dưỡng.
Nếu trong quan hệ nuôi dưỡng, người được nuôi dưỡng và người có nghĩa
vụ nuôi dưỡng sống chung với nhau thì ngược lại trong quan hệ cấp dưỡng
người được cấp dưỡng và người phải cấp dưỡng không cùng sống chung với
nhau. Vấn đề đặt ra là cần hiểu thế nào là “ sống chung ” và thế nào là “không
sống chung”. Hiện nay có ba quan điểm khác nhau về “ sống chung ”.
Quan điểm thứ nhất: Những người sống chung là những người có cùng
nơi đăng kí hộ khẩu thường trú.
Quan điểm thứ hai: Chỉ coi là sống chung khi họ cùng sinh sống thường
xuyên dưới một mái nhà và không phụ thuộc vào nơi đăng kí hộ khẩu thường
trú.
Quan điểm ba: Việc xác định thế nào là những người sống chung với nhau
không phụ thuộc vào nơi đăng kí hộ khẩu thường trú hoặc tạm trú mà căn cứ vào
nguồn tài chính để đảm bảo nhu cầu vật chất hằng ngày của họ. Do đó những
người được coi là sống chung khi họ có cùng quỹ tiêu dùng.
Từ những quan điểm khác nhau về “ sống chung ”, có thể thấy rằng quan
điểm thứ ba đầy đủ hơn vì trong thực tế có những người có cùng nơi đăng kí hộ
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
khẩu thường trú nhưng lại không cùng ăn chung ở chung. Ví dụ: Cha mẹ cho
con ăn riêng trong khi họ vẫn cùng ở chung một nhà với nhau. Bên cạnh đó,
cũng có trường hợp những người có nơi đăng kí hộ khẩu khác nhau lại “ ăn
chung, ở chung ” với nhau. Ví dụ: Anh A và chị B là vợ chồng. Hai anh chị có
nơi đăng kí hộ khẩu khác nhau nhưng sống chung với nhau ở Hà Nội.
Như vậy, theo quan điểm thứ ba thì những người “ không cùng chung
sống” là những người không có quỹ tiêu dùng chung. Điều đó có nghĩa là khi
xem xét một quan hệ có phải là quan hệ cấp dưỡng hay quan hệ nuôi dưỡng cần
xác định giữa các chủ thể này có quỹ tiêu dùng chung hay không? Khi họ không
có quỹ tiêu dùng chung thì quan hệ giữa họ là quan hệ cấp dưỡng. Tuy nhiên,
cũng có những trường hợp dù sống chung một nhà, dù có quỹ tiêu dùng chung
nhưng người có nghĩa vụ nuôi dưỡng lại không quan tâm đến người được nuôi
dưỡng. Ví dụ: Vợ hoặc chồng ở xa không đóng góp thu nhập vào khối tài sản
chung để đảm bảo nuôi con. Lúc này nghĩa vụ nuôi dưỡng được chuyển thành
nghĩa vụ cấp dưỡng. Điều 50 khoản 2 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “
Trong trường hợp người có nghĩa vụ nuôi dưỡng mà trốn tránh nghĩa vụ đó thì
buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của Luật này”.
Từ sự phân tích trên có thể thấy rằng ranh giới để xác định đâu là nghĩa
vụ cấp dưỡng đâu là nghĩa vụ nuôi dưỡng thật khó. Tuy vậy, không phải vì khó
mà chúng ta có thể đánh đồng cấp dưỡng và nuôi dưỡng. Cần phải xác định khi
nào thì nghĩa vụ cấp dưỡng phát sinh, khi nào thì nghĩa vụ nuôi dưỡng phát sinh
để đảm bảo quyền lợi cho các chủ thể trong quan hệ đó. Đặc biệt là những chủ
thể chưa thành niên, hoặc đã thành niên nhưng không có khả năng lao động,
không có tài sản nuôi mình.
2. Đặc điểm của quan hệ cấp dưỡng
Qua sự phân tích khái niệm và sự khác biệt giữa nghĩa vụ nuôi dưỡng và
nghĩa vụ cấp dưỡng có thể thấy cấp dưỡng có những đặc điểm cơ bản sau:
* Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ tài sản gắn với nhân thân của mỗi bên
trong quan hệ cấp dưỡng. Điều đó thể hiện ở chỗ: Người có nghĩa vụ cấp dưỡng
phải chu cấp một số tiền hoặc tài sản nhất định nhằm đáp ứng những nhu cầu
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thiết yếu cho người được cấp dưỡng. Vì vậy, “ nghĩa vụ cấp dưỡng không thể
thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác” (Khoản
1 Điều 50 Luật HN&GĐ). Nghĩa vụ cấp dưỡng phải do chính người có nghĩa vụ
thực hiện mà không phải là bất cứ ai khác và việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng
cũng phải được thực hiện cho người có quyền được cấp dưỡng.
* Quan hệ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên trong gia đình trên
cơ sở hôn nhân, huyết thống, hoặc nuôi dưỡng. Điều 50 Luật HN&GĐ năm
2000 quy định “ Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con, giữa
anh chị em với nhau, giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu, giữa vợ chồng theo
quy định của Luật này”. Như vậy, Luật HN&GĐ năm 2000 đã xác định rõ phạm
vi chủ thể của quan hệ cấp dưỡng đó là cấp dưỡng giữa cha mẹ và con, giữa anh
chị em với nhau, giữa ông bà và cháu. Ngoài phạm vi những chủ thể trên, những
chủ thể khác như: Chú, bác, cô, dì và cháu sẽ không phát sinh nghĩa vụ cấp
dưỡng mặc dù họ là những người thừa kế ở hàng thứ ba của nhau theo pháp
luật. Quan hệ cấp dưỡng giữa chú, bác, cô, dì với cháu (nếu có) thường do quy
phạm đạo đức điều chỉnh, vì dù sao giữa họ cũng tồn tại mối quan hệ về mặt tình
cảm.
Chính từ đặc điểm này mà quan hệ cấp dưỡng thường hình thành một
cách tự nhiên trên cơ sở đạo đức và quan hệ ruột thịt giữa con người với nhau
theo phong tục tập quán. Sau đó quan hệ cấp dưỡng mới được điểu chỉnh bởi
quy phạm pháp luật và trở thành quan hệ pháp luật.
* Quan hệ cấp dưỡng là quan hệ tài sản song không mang tính đền bù
ngang giá. Do yếu tố tình cảm gắn bó giữa các chủ thể, nên nghĩa vụ cấp dưỡng
được thực hiện một cách tự nguyện, không tính toán đến giá trị tài sản đã cấp
dưỡng, không đòi hỏi người cấp dưỡng sẽ phải hoàn lại một số tiền tương ứng.
Mặt khác, không phải lúc nào nghĩa vụ cấp dưỡng cũng đặt ra, chỉ trong trường
hợp nhất định và với điều kiện nhất định, nghĩa vụ cấp dưỡng mới phát sinh. Vì
vậy, quan hệ cấp dưỡng không mang tính đền bù tương đương, không có tính
tuyệt đối và không diễn ra đồng thời. Ví dụ: cha mẹ phải cấp dưỡng cho con khi
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
con chưa thành niên nhưng con chỉ phải cấp dưỡng cho cha mẹ khi con đã thành
niên và có khả năng lao động.
* Nghĩa vụ cấp dưỡng vừa mang tính đạo lý, vừa mang tính pháp lý được
đảm bảo thực hiện bằng lương tâm, đạo đức, dư luận xã hội và cả các biệp pháp
cưỡng chế thi hành. Bởi lẽ nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh giữa các thành viên
trong gia đình trên cơ sở hôn nhân huyết thống hoặc nuôi dưỡng (giữa cha mẹ và
con; giữa anh chị em với nhau; giữa ông bà với các cháu; giữa vợ chồng…).
Giữa các thành viên trong gia đình luôn có mối quan hệ tình cảm khăng khít,
khó tách rời. Khi các thành viên trong gia đình không thể trực tiếp quan tâm,
chăm sóc nhau, thì họ thực hiện nghĩa vụ này thông qua việc cấp dưỡng. Việc
thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng thường xuất phát từ lương tâm, đạo đức và dư luật
xã hội. Khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng trốn tránh trách nhiệm cấp dưỡng của
mình lúc này biện pháp cưỡng chế mới đặt ra. Đồng thời, để nâng cao ý thức,
trách nhiệm của các chủ thể trong quan hệ cấp dưỡng Luật HN&GĐ năm 1959,
Luật HN&GĐ năm 1986 và Luật HN&GĐ năm 2000 đã quy định vấn đề cấp
dưỡng như một chế định quan trọng cần thiết để điểu chỉnh quan hệ hôn nhân
và gia đình.
* Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh trong những điều kiện nhất định. Khi
điều kiện đó xuất hiện thì người có nghĩa vụ phải cấp dưỡng mới phải thực hiện
trách nhiệm cấp dưỡng của mình đối với người được cấp dưỡng. Tức là khi
không có điều kiện đó thì người cấp dưỡng không phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng. Ví dụ: Trong trường hợp cha, mẹ li hôn, thông thường họ phải thực hiện
nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, nhưng nếu cha mẹ không có khả
năng lao động và không có tài sản nuôi mình, cha mẹ không phải cấp dưỡng cho
con nữa.
3. Điều kiện phát sinh nghĩa vụ cấp dưỡng
Nghĩa vụ cấp dưỡng không phải lúc nào cũng phát sinh mà nó chỉ phát
sinh trong những điều kiện nhất định, chỉ khi những điều kiện đó xảy ra thì
nghĩa vụ đó mới phát sinh. Vậy nghĩa vụ cấp dưỡng sẽ phát sinh trong những
điều kiện sau:
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
* Người được cấp dưỡng và người cấp dưỡng không sống chung với
nhau.
Khi người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng sống chung với nhau thì
người cấp dưỡng đã trực tiếp thực hiện hành vi chăm sóc, nuôi dưỡng người
được nuôi dưỡng bằng tài sản của mình, do đó việc cấp dưỡng không đặt ra.
Nghĩa vụ cấp dưỡng chỉ phát sinh khi người có nghĩa vụ cấp dưỡng vì hoàn cảnh
không thể trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người kia, do đó họ phải chu cấp một
khoảng tiền hoặc tài sản nhất định (như lương thực, thực phẩm, quần áo, thuốc
men…) để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người cần cấp dưỡng, đảm bảo sự
sống còn của họ. Ví dụ: trước khi li hôn, cả vợ và chồng đều có thể hàng ngày
chăm sóc con của mình, nhưng khi họ li hôn, người con khi đó chỉ có thể ở với
bố hoặc mẹ và như vậy người còn lại không thể quan tâm chăm sóc con như
trước họ chỉ có thể thể hiện sự quan tâm đó bằng cách cấp dưỡng cho con.
Như đã phân tích “ không sống chung” trong quan hệ cấp dưỡng là những
thành viên trong gia đình không còn quỹ tiêu dùng chung, vì vậy mà họ không
có thể trực tiếp chăm sóc, giúp đỡ nhau cho nên vấn đề cấp dưỡng được đặt ra
nhằm đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu cho nhau. Nhưng có trường hợp tuy có
quỹ chung nhưng nghĩa vụ cấp dưỡng vẫn được đặt ra đó là khi người có nghĩa
vụ nuôi dưỡng trốn tránh trách nhiệm nuôi dưỡng đối với người được nuôi
dưỡng. Đây có thể được coi là trường hợp ngoại lệ của nghĩa vụ cấp dưỡng.
Luật HN&GĐ năm 2000 (Khoản 2 Điều 50) quy định: “Trong trường hợp người
có nghĩa vụ mà trốn tránh trách nghĩa vụ đó thì buộc phải thực hiện nghĩa vụ cấp
dưỡng theo quy định của luật này”. Ví dụ: Con cái sống chung với cha mẹ già,
nhưng lại không quan tâm, chăm sóc cuộc sống của cha mẹ …
* Giữa người cấp dưỡng và người được cấp dưỡng có quan hệ hôn nhân,
huyết thống, hoặc nuôi dưỡng.
- Quan hệ hôn nhân là quan hệ vợ chồng sau khi kết hôn. Sự kiện kết hôn
đã làm phát sinh quan hệ pháp luật giữa vợ chồng. Nội dung quan hệ pháp luật
giữa vợ chồng bao gồm các nghĩa vụ và quyền về nhân thân và các nghĩa vụ về
tài sản. Thực hiện quyền và nghĩa vụ đó nhằm đảm bảo thoả mãn những nhu cầu
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
tình cảm và vật chất trong đời sống vợ chồng, đảm bảo lợi ích chung của gia
đình và xã hội. Khi quan hệ hôn nhân chấm dứt (vợ chồng li hôn) về nguyên tắc
các quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng sẽ chấm dứt hoàn toàn dù vợ
chồng có thoả thuận hay không thoả thuận được thì Toà án cũng sẽ quyết định
nhưng quyền và nghĩa vụ về tài sản trong đó có quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng
không hẳn đã chấm dứt. Quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng là kết
quả của quan hệ hôn nhân hợp pháp (Hôn nhân đó phải tuân thủ các điều kiện về
kết hôn và cấm kết hôn, có đăng kí kết hôn) và quan hệ cấp dưỡng giữa vợ và
chồng phát sinh kể từ thời điểm kết hôn. Khi li hôn, một bên vợ hoặc chồng sẽ
được cấp dưỡng “ nếu bên khó khăn túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lý
do chính đáng thì bên kia có nghĩa vụ cấp dưỡng theo khả năng của mình” (Điều
60 Luật HN&GĐ năm 2000)
- Quan hệ huyết thống là quan hệ dựa trên sự kiện sinh đẻ của người phụ
nữ và từ sự kiện đó phát sinh quan hệ pháp luật giữa cha mẹ và con. Có chung
huyết thống tức là giữa họ có mối quan hệ về mặt sinh học. Cha mẹ là người
sinh ra các con, do vậy họ phải có nghĩa vụ nuôi dưỡng, chăm sóc người các con
trở thành công dân tốt, và những người con cũng có nghĩa vụ chăm sóc cha mẹ,
đặc biệt là khi cha mẹ ốm đau bệnh tật…Điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ tình
cảm tồn tại lâu bền giữa họ. Người xưa có câu “ Một con ngựa đau, cả tàu bỏ
cỏ” và “Một giọt máu đào hơn ao nước lã” huống chi giữa họ lại có mối quan
hệ máu mủ ruột thịt.
- Quan hệ nuôi dưỡng là quan hệ do sự kiện nuôi con nuôi và quan hệ hôn
nhân đem lại. Nuôi con nuôi là việc một người nhận nuôi một đứa trẻ( trừ
trường hợp đặc biệt có thể người được nhận làm con nuôi là người đã thành
niên) không do họ sinh ra nhằm xác lập quan hệ cha, mẹ và các con giữa người
nhận nuôi và người được nhận làm con nuôi, đảm bảo cho người được nhận nuôi
được trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng phù hợp với đạo đức xã hội.
* Điều kiện về người được cấp dưỡng là người chưa thành niên (người
dưới mười tám tuổi) người đã thành niên nhưng không có khả năng lao động và
không có tài sản để tự nuôi mình, là người túng thiếu khó khăn. Không có khả
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
năng lao động có thể là do già yếu, mất sức lao động, bị tàn tật, mất năng lực
hành vi dân sự. “ không có khả năng lao động” phải gắn liền với “ không có
tài sản để tự nuôi mình”. Vấn đề quan trọng là khi nào một người được xác định
là “ không có tài sản để tự nuôi mình” để có thể được người khác cấp dưỡng.
Vấn đề này Luật HN&GĐ năm 2000 không quy định rõ do vậy cần có sự quy
định cụ thể để đảm bảo tính thống nhất trong thực tiễn xét xử. Việc cấp dưỡng
nhằm cung cấp những thứ cần thiết như tiền bạc, tài sản để đáp ứng nhu cầu
sống thiết yếu của người được cấp dưỡng, nên nó chỉ nảy sinh khi người được
cấp dưỡng không có khả năng về kinh tế, không tự lo cho cuộc sống bình
thường của mình. Cấp dưỡng nhằm đảm bảo cuộc sống với mức tối thiểu của
người được cấp dưỡng.
* Điều kiện về người được cấp dưỡng là người có khả năng cấp dưỡng.
Nghị định số 70/2001/NĐ - CP ngày 30/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết
thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 (Sau đây gọi là Nghị định số 70/2001/NĐ -
CP) quy định: “ Người có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng là
người có thu nhập thường xuyên hoặc tuy không có thu nhập thường xuyên
nhưng còn tài sản sau khi đã trừ đi chi phí thông thường cần thiết cho cuộc sống
của người đó” (Điều 16). Như vậy, đánh giá khả năng thực tế của người có
nghĩa vụ cấp dưỡng cấp dưỡng có thể dựa vào hai yếu tố: Thu nhập thường
xuyên và tài sản hiện có hoặc một người tuy không có thu nhập thường xuyên
nhưng lại còn tài sản sau khi đã trừ đi chi phi cần thiết cho bản thân thì cũng
được coi là có khả năng để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Theo Điều 56 và Điều
92 Luật HN&GĐ năm 2000 thì khi li hôn cha mẹ không trực tiếp nuôi con có
nghĩa vụ cấp dưỡng cho con và theo Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án
nhân dân tối cao số 02/2000/NQ - HĐTP ngày23/01/2000 hướng dẫn áp dụng
một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Sau đây gọi là Nghị
quyết số 02/2000/NQ – HĐTP) quy định: “Đây là nghĩa vụ của cha mẹ do đó
không phân biệt người trực tiếp nuôi con có khả năng kinh tế hay không, người
không trực tiếp nuôi con vẫn phải có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Trong trường
hợp người trực tiếp nuôi con không yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cấp
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
dưỡng vì lí do nào đó thì Tòa án cần giải thích cho họ hiểu rằng việc yêu cầu cấp
dưỡng nuôi con là quyền lợi của con, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
con. Nếu xét thấy việc họ không yêu cầu cấp dưỡng là tự nguyện, họ có đầy đủ
khả năng, điều kiện nuôi con thì Toà án không buộc bên kia phải cấp dưỡng
nuôi con”. (Mục 11)
Theo như quy định trên thì người không trực tiếp nuôi con phải có nghĩa
vụ cấp dưỡng nuôi con. Đây là nghĩa vụ của bậc làm cha mẹ, dù họ không thể
tiếp tục cuộc sống vợ chồng nhưng không phải vì thế mà mối quan hệ giữa họ
với con cái bị cắt đứt. Họ vẫn phải thực hiện trách nhiệm “ nuôi dưỡng” dưới
dạng “ cấp dưỡng” nhằm đảm bảo cho con cái họ được bù đắp sự hụt hẫng về
mặt tinh thần và đảm bảo cuộc sống tối thiểu của con họ. Tuy nhiên, trong
trường hợp con có quyền được cha mẹ cấp dưỡng nhưng cha mẹ lại không có
khả năng thực hiện nghĩa vụ đó thì cha, mẹ cũng không phải thực hiện nghĩa vụ
(chẳng hạn như trường hợp cha, mẹ bị tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự, mất
khả năng lao động và không có tài sản).Trong trường hợp này cha, mẹ, người
không trực tiếp nuôi con có thể xin tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng cho đến khi
họ có khả năng cấp dưỡng. Nhưng Luật HN&GĐ năm 2000 cũng như các văn
bản hướng dẫn không nói cụ thể thời gian tạm hoãn đến khi nào kết thúc như
vậy thì quyền lợi của con cái trong trường hợp này cũng sẽ không được bảo
đảm.
Điều 60 của Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “ Khi li hôn, nếu một bên
khó khăn, túng thiếu có yêu cầu cấp dưỡng mà có lí do chính đáng thì bên kia có
nghĩa vụ cấp theo khả năng của mình”. Như vậy còn phải căn cứ vào khả năng
thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng.
Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy rằng chỉ khi nào các điều kiện
trên xảy ra đồng thời thì lúc đó nghĩa vụ cấp dưỡng mới phát sinh. Khi thiếu một
trong các điều kiện trên thì người có nghĩa vụ cấp dưỡng không phải thực hiện
trách nhiệm cấp dưỡng và người có quyền hưởng cấp dưỡng cũng không được
hưởng.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
4. Chế định cấp dưỡng trong pháp luật Việt Nam từ Cách mạng tháng tám
đến nay
Chế định về cấp dưỡng giữa vợ chồng khi li hôn từ Cách mạng tháng Tám
năm 1945 đến nay được chia làm 3 giai đoạn tương ứng với sự phát triển của
Luật HN&GĐ từ Cách mạng tháng Tám đến nay.
*Từ 1945 đến 1954
Năm 1946, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà ra
đời đã đánh dấu bước ngoặt lớn trong lịch sử lập pháp của nước ta. Hiến pháp đã
ghi nhận bình đẳng nam nữ về mọi mặt. Đó là cơ sở pháp lý vô cùng quan trọng
để xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới dân chủ và tiến bộ. Năm 1950,
Nhà nước ta đã ban hành hai sắc lệnh đầu tiên về hôn nhân và gia đình. Đó là
sắc lệnh số 97/SL và sắc lệnh số 159/SL.
Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 có 15 điều, trong đó có 8 điều quy định
về hôn nhân và gia đình, ở sắc lệnh này không nhắc đến nghĩa vụ cấp dưỡng khi
vợ chồng li hôn nhưng theo những quy định ở Sắc lệnh số 90/SL ngày
10/10/1945 của Chủ tịch nước thì nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ chồng khi li hôn
sẽ được thực hiện theo quy định Bộ dân luật cũ tức là áp dụng Bộ luật trong thời
kì Pháp thuộc. Trong sắc lệnh này đã bảo vệ quyền lợi của “con hoang vô thừa
nhận” họ được kiện để truy tìm cha, mẹ cho mình (Điều 9).
Sắc lệnh 159/SL ngày 17/11/1950 quy định về vấn đề li hôn. Trong sắc
lệnh này có bảo vệ quyền lợi của con chưa thành niên khi cha mẹ li hôn. Điều 6
quy định “Toà án sẽ căn cứ vào quyền lợi của các con chưa thành niên để ấn
định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng. Hai vợ chồng đã li hôn cùng
phải chịu phí tổn nuôi dạy con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình”.
Như vậy, cả hai sắc lệnh này đã góp phần đáng kể xoá bỏ chế độ hôn nhân
và gia đình phong kiến lạc hậu. Hai sắc lệnh đều đưa ra những quy định bảo vệ
quyền lợi của các con, quyền lợi của người vợ khi li hôn và cũng đã quy định
gián tiếp vấn đề cấp dưỡng giữa vợ chồng khi li hôn, cấp dưỡng cho con khi
cha, mẹ li hôn.
* Từ năm 1954 - 1975.
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi (1954) tuy nhiên đất
nước vẫn tạm thời chia làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau. Tình
hình chính trị đặt sự nghiệp Cách mạng trong giai đoạn này thành hai nhiệm vụ
chiến lược: Miền Bắc được giải phóng bước vào thời kì quá độ xây dựng Chủ
Nghĩa Xã Hội, Miền Nam tiếp tục cuộc Cách mạng dân tộc,dân chủ, đấu tranh
thống nhất nước nhà.
Miền Bắc: Trong giai đoạn này Sắc lệnh 97/SL và sắc lệnh 159/SL đã
hoàn thành vai trò lịch sử góp phần vào việc xoá bỏ chế độ hôn nhân và gia
đình phong kiến nhưng không đáp ứng được tình hình phát triển cách mạng.
Hiến pháp 1959 của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà điều 24 đã ghi nhận
quyền bình đẳng nam nữ về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hoá - xã hội và giáo
dục là cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ hôn nhân và gia đình mới Xã Hội
Chủ Nghĩa ở nước ta.
Dự luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc Hội khoá I, kỳ họp thứ 11
chính thức thông qua ngày 29/12/1959 và được Chủ tịch nước ký sắc lệnh công
bố ngày 13/1/1960 theo sắc lệnh số 02/SL. Luật HN&GĐ năm 1959 tại các Điều
30, Điều 31, Điều32 và Điều 33 đã quy định về quan hệ cấp dưỡng. Theo Điều
30 quy định: “Khi li hôn nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng, thì bên kia
cấp dưỡng theo khả năng của mình. Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng
hai bên thoả thuận; trường hợp hai bên không thoả thuận với nhau được thì Toà
án nhân dân sẽ quyết định. Khi người được cấp dưỡng lấy vợ, lấy chồng thì sẽ
không được cấp dưỡng nữa”. Điều 31: “Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa
vụ và quyền lợi đối với con chung”
Điều 32: “Khi li hôn, việc giao con cho ai trông nom, nuôi nấng và giáo
dục con cái chưa thành niên, phải căn cứ vào quyền lợi mọi mặt của con cái. Về
nguyên tắc, con còn bú phải do mẹ có phụ trách. Người không giữ con vẫn có
quyền thăm nom, chăm sóc.
Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục
con cái, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình…”
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét