5
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Bảng 3.23. Hóa đơn giá trị gia tăng
47
Bảng 3.24. Chứng từ ghi sổ 67A
48
Bảng 3.25. Chứng từ ghi sổ 67B
49
Bảng 3.26. Sổ chi tiết tài khoản 627
50
Bảng 3.27. Sổ cái tài khoản 627
51
Bảng 3.28. Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ 627
52
Bảng 3.29. Chứng từ ghi sổ số 54A
52
Bảng 3.30. Chứng từ ghi sổ số 54B
54
Bảng 3.31. Sổ chi tiết tài khoản 154
55
Bảng 3.32. Sổ cái tài khoản 154
56
Bảng 3.33. Sổ đăng ký chứng từ ghi sổ 154
57
5
6
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Bảng 4.1. Bảng tính giá thành sản phẩm giầy Spring VAS- 01 59LỜI MỞ
ĐẦU
Phát triển và hội nhập là xu thế tất yếu của nền kinh tế thị trường. Việc
mở rộng quan hệ kinh tế hàng hóa- tiền tệ, quan hệ thị trường cùng với các
quy luật khắt khe của nó như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật
giá cả đang ngày càng chi phối mạnh mẽ đến mọi mặt của đời sống kinh tế
xã hội.
Đứng trước nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, đòi hỏi các
nhà quản lý doanh nghiệp phải liên tục vận động, đổi mới đưa ra các phương
án kinh doanh có hiệu quả như các biện pháp tăng năng suất lao động, cải tiến
chất lượng, mẫu mã sản phẩm, tăng doanh thu để làm sao tối đa hóa lợi
nhuận. Trong hàng loạt các biện pháp đó, các chuyên gia kinh tế không thể
không đặc biệt quan tâm tới công tác quản lý chi phí để tối thiểu hóa chi phí,
hạ giá thành sản phẩm.
Yếu tố chi phí sản xuất kinh doanh giữ vai trò quan trọng trong công
tác quản lý doanh nghiệp. Tối thiểu hóa chi phí, hạ thấp giá thành sản phẩm
luôn là mục tiêu phấn đấu của tất cả các doanh nghiệp. Muốn vậy, phải hạch
toán chi phí một cách chính xác, tính giá thành hợp lý. Từ đó mới xác định
đúng đắn về khả năng hiện có của chính doanh nghiệp mình.
Nhận thức được tầm quan trọng của công tác hạch toán chi phí, giá
thành và qua quá trình khảo sát thực tế, em đã chọn đề tài “Hoàn thiện kế
toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại xí nghiệp giầy thể thao
xuất khẩu Barotex” để làm chuyên đề thực tập với mong muốn vận dụng
những kiến thức đã được học ở trường vào thực tế để nâng cao kiến thức của
mình về vấn đề chi phí, giá thành trong kế toán.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của chuyên đề gồm có hai
phần chính sau:
Phần I : Thực trạng kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại xí
nghiệp giầy Barotex.
6
7
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Phần II: Hoàn thiện kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm tại xí
nghiệp giầy Barotex.
PHẦN I
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN CPSX VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM
TẠI XÍ NGHIỆP GIẦY BAROTEX
1.1. Đặc điểm kinh tế- kỹ thuật và tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản
xuất kinh doanh của xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Barotex
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của xí nghiệp
Tách ra từ Tổng công ty ( XNK) thủ công mỹ nghệ, công ty XNK Mây
tre Việt Nam được thành lập vào tháng 04 năm 1971, đến nay đã hơn 30 tuổi.
Hơn một phần ba thế kỷ đã qua, cùng với những biến đổi lớn lao của đất
nước, Công ty XNK Mây tre tuy trải qua những thăng trầm khác nhau nhưng
không ngừng được củng cố và phát triển.
Từ bối cảnh ban đầu còn khó khăn và thiếu thốn do mới được thành
lập, công ty đã tìm mọi giải pháp để khai thác tiềm năng lao động, nguồn
nguyên liệu sẵn có để sản xuất và tạo nguồn hàng xuất khẩu, thực hiện nhiệm
vụ Bộ và Nhà nước giao cho.
Từ khi Miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất hoạt động
của công ty được mở rộng, công ty đã lần lượt thành lập các chi nhánh tại TP
Hồ Chí Minh và Đà Nẵng để khai thác nguồn hàng thủ công các tỉnh miền
Trung và phía Nam.
Nhiều chủng loại hàng được đưa vào thị trường xuất khẩu như mây, tre,
lá, mành tre, mành cọ, bàn ghế song mây… với chục triệu sản phẩm mỗi năm,
hàng trăm cơ sở sản xuất, thu hút hàng triệu người lao động ở thành thị cũng
như các làng nghề ở nông thôn, góp phần đáng kể vào giải quyết việc làm cho
nhân dân lao động.
Giữa lúc tình hình kinh doanh và thị trường của công ty đang có nhiều thuận
lợi thì từ năm 1991 trước sự tan rã và sụp đổ của các nước Đông Âu và Liên
Xô ( cũ) đã đưa công ty rơi vào tình trạng hết sức khó khăn về thị trường tiêu
thụ. Là đơn vị có tới 95% hàng xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên
Xô, việc mất phần lớn thị trường tiêu thụ đã đặt ra cho công ty nhiều khó
khăn nan giải, song với tinh thần vượt khó và phát huy truyền thống trong hơn
20 năm xây dựng và trưởng thành, công ty đã tập trung định hướng lại thị
trường, đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu, thăm dò….Nhờ vậy, chỉ sau 2
năm từ khi mất thị trường cũ, công ty đã mở đựoc thị trường sang các nước
7
8
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
khác và tự khẳng định được mình trong giai đoạn mới. Cho đến nay, công ty
đã quan hệ với gần 300 thương nhân, hãng kinh doanh và tổ chức thương gia
quốc tế thuộc trên 56 nước
Với kết quả sau nhiều năm xây dựng và phát triển, công ty XNK Mây
tre Việt Nam đã được Nhà nước tặng thưởng 7 huân chương lao động cho
Doanh nghiệp và các đơn vị trực thuộc Công ty, nhiều năm được Chính phủ
và Bộ Thương Mại tặng cờ luân lưu của ngành về công tác XNK khác nhau
trên thế giới.
Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh của công ty thực sự chuyển mình kể
từ khi thực hiện chủ trương cổ phần hóa các doanh nghiệp của Nhà Nước.
Ngày 23 tháng 08 năm 2000 công ty XNK Mây tre Việt Nam chính thức đổi
tên thành Công ty cổ phần XNK Mây tre Việt Nam theo quyết định số
1189/QĐ-BTM của Bộ Thương Mại. Hiện nay, công ty hoạt động theo Giấy
chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0103006399 của Sở Kê hoạch và đầu tư
TP Hà Nội cấp ngày 05/01/2000.
Để phù hợp hơn với cơ chế kinh tế thị trường và hình thức tổ chức hoạt
động, quản lý mới của công ty cổ phần, ban giám đốc công ty đã đa dạng hóa
các loại hình hoạt động cũng như sản phẩm sản xuất kinh doanh như kinh
doanh hàng nông sản, sản phẩm gỗ, khoáng sản, vật tư, NVL máy móc thiết
bị, phương tiện vận tải; kinh doanh bất động sản, khách sạn nhà hàng, sản
xuất các mặt hàng giầy dép, hàng giả da….
Ngoài trụ sở chính tại 100 Thái Thịnh- Đống Đa- Hà Nội và 2 chi
nhánh XNK mây tre ở TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng, công ty còn thiết lập
thêm chi nhánh XNK mây tre ở Hải Phòng, xí nghiệp tre trúc TP Hồ Chí
Minh và xí nghiệp giầy xuất khẩu Barotex ( xí nghiệp giầy Barotex).Như vậy,
xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Barotex là một đơn vị thành viên trực thuộc
công ty cổ phần XNK mây tre Việt Nam.
Sau khi được Bộ Thương Mại phê duyệt dự án đầu tư xuất khẩu giầy
thể thao số 162/TM-KH-ĐT ngày 12 tháng 3 năm 1999 và quyết định số
122/TM- TCCB ngày 20 tháng 07 năm 1999 của công ty Barotex Việt Nam,
xí nghiệp giầy thể thao xuất khẩu Barotex được chính thức thành lập với
quyết định số 196/TM-TCCB vào ngày 22 tháng 7 năm 2000.
Xí nghiệp giầy Barotex hoạt động theo Giấy chứng nhận kinh doanh số
0113006787 ngày 17/01/2000 do Sở kế hoạch và đầu tư TP Hà Nội cấp, có trụ
sở giao dịch và sản xuất tại địa bàn xã Barotex, huyện Gia Lâm, TP Hà Nội
với ngành nghề kinh doanh chính là sản xuất, kinh doanh hàng mây tre, thủ
công mỹ nghệ, giầy dép hàng giả da…
Như vậy, xí nghiệp giầy Barotex là đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách
pháp nhân, có tài khoản và con dấu riêng.
8
9
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Tuy còn khá non trẻ với thời gian hoạt động chưa đầy 6 năm nhưng xí
nghiệp giầy Barotex đã đạt được một số kết quả đáng kể. Tổng kim ngạch
xuất khẩu luôn đạt khá cao với mức lợi nhuận liên tục tăng đóng góp một tỷ
trọng không nhỏ vào thành tích của toàn công ty. Nhờ đó, quy mô sản xuất
không ngừng được mở rộng, thu hút thêm nhiều lao động nói chung và giúp
giải quyết việc làm cho số lượng lớn lao động ở một địa bàn ngoại thành còn
nhiều khó khăn của Hà Nội.
1.1.2. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và quy trình công nghệ sản
xuất của xí nghiệp.
Mô hình sản xuất kinh doanh của xí nghiệp:
Xí nghiệp giầy Barotex tiến hành sản xuất gia công sản phẩm dựa trên
nguồn nguyên liệu chính mà đối tác cung cấp sau đó xuất khẩu thành phẩm
( tức là một đơn vị sản xuất gia công) nên đặc điểm chính của tổ chức sản
xuất là:
Theo dõi các đơn đặt hàng của các đối tác nước ngoài, tiến hành sản xuất
và giao gọn hàng cho từng đơn đặt hàng.
Lập kế hoạch chuẩn bị NVL, kế hoạch sản xuất, kế hoạch giao hàng đi
được theo sát.
Do đặc điểm của sản xuất là theo đơn đặt hàng nên sự chuẩn bị NVL mang
tính đồng bộ cao.
Nguyên liệu phục vụ cho sản xuất được nhập từ hai nguồn:
NVL chính được nhập từ Hàn Quốc hoặc Đài Loan, bao gồm: da thật,
giả da, vải hóa học, chỉ, keo dán, một số loại tem nhãn, vật liệu đóng gói theo
yêu cầu của khách. Toàn bộ NVL chính đều do đối tác TMC ( Tawain
Marchandise Coporation) cung cấp và quản lý. Chúng được nhập theo định
mức tiêu hao của từng đơn hàng.Loại NVL này không được xem là một
khoản mục chi phí đối với xí nghiệp xí nghiệp chỉ có trách nhiệm tiếp nhận nó
để đưa vào sản xuất theo định mức.
NVL phụ do xí nghiệp chịu trách nhiệm cung ứng cho sản xuất. Nguồn
vật liệu này được mua từ các cơ sở trong nước như:dây giầy, hộp carton, mút
xốp, nylon, chun buộc…Những vật liệu này khi sử dụng cho sản xuất được
hạch toán vào giá thành.
Quá trình luân chuyển nguyên vật liêu & quy trình sản xuất như sau:
Trên cơ sở các đơn đặt hàng và định mức đã ký với đối tác, xí nghiệp nhập
khẩu các NVL chính của xí nghiệp. Tại đây, quá trình kiểm tra chất lượng và
định lượng được tiến hành. Các hướng dẫn sử dụng NVL và định mức tiêu
hao cũng được lập và kiểm chứng.
9
10
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Các nhóm vật tư thuộc các loại như xốp, giả da, tri cót, terion… được
chuyển qua kho bán thành phẩm, phân xưởng cắt để gia công chi tiết và xử lý
giầy.
Các nguyên liệu cho may như chỉ, keo may, dầu ngâm chỉ được chuyển
qua kho nguyên liệu bán thành phẩm, phân xưởng cắt may để may thành
phẩm mũ, giầy.
Các loại keo gò, đế, dây giầy…được chuyển qua kho nguyên liệu bán
thành phẩm,phân xưởng gò để hoàn thiện sản phẩm.
Sơ đồ 1.1 Quy trình sản xuất tại xí nghiệp giầy Barotex
NVL
Đế giầy
Cắt
Cán sấy
May
Gò
Thành phẩm
Phân loại và đóng gói
Nhập kho
10
11
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Sản phẩm sản xuất của xí nghiệp là các loại giầy da thật, giả da, giầy nam,
nữ, trẻ em… tuỳ theo từng đơn đặt hàng. Chúng được sản xuất trên 3 dây
chuyền , trong đó 1 dây chuyền sản xuất giầy thể thao & 2 dây chuyền sản
xuất giầy vải. Giầy chủ yếu được sản xuất trên máy, chỉ có một số khâu bằng
thủ công như quét keo, đóng hộp, dán nhãn hiệu….
Đối tác chủ yếu của xí nghiệp là Tawain Marchandise Coporation. Đây là
một công ty Đài Loan đã có nhiều năm hoạt động và kinh doanh giầy, có uy
tín trên thị trường giầy quốc tế. Nó vừa là khách hàng vừa là nhà cung cấp
NVL chính cho xí nghiệp. Toàn bộ sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ theo
hợp đồng với kế hoạch hàng tháng, quý, năm đã đựơc ký kết giữa xí nghiệp
với đối tác.
Hiện trên thị trường có rất nhiều các cơ sở, công ty sản xuất giầy da xuất
khẩu đang là đối thủ cạnh tranh của Xí nghiệp cả về chất lượng và giá cả. Do
đó, nếu xí nghiệp không chủ động tìm kiếm thị trường, đầu tư máy móc, trang
thiết bị hiện đại cho sản xuất, cải tiến mẫu mã sản phẩm thì có thể sẽ bị mất đi
bạn hàng truyền thống và thị phần vốn có của mình. Đây vừa là khó khăn,
thách thức nhưng đồng thời cũng là cơ hội để xí nghiệp tự khẳng định sự tồn
tại của mình trên thương trường.
1.1.2. Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh
Để phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình
lao động, mô hình tổ chức bộ máy quản lý tại xí nghiệp giầy Barotex như sau:
Trong doanh nghiệp, giúp việc cho giám đốc là một phó giám đốc phụ trách
vấn đề tài chính và kinh doanh, một trợ lý giám sát kiêm phụ trách sản xuất.
Cấp dưới là các bộ phận chức năng bao gồm 5 phòng: Phòng Tổ chức hành
chính, Phòng Kế toán- tài vụ, Phòng Kỹ thuật KCS, Phòng Kế hoạch vật tư,
Phòng xuất nhập và 5 phân xưởng: P/x Cắt, P/x May, P/x Gò ráp, P/x Đế, P/x
Cơ điện.
Giám đốc
Phòng tổ chức
Ghi chú
Quan hệ phối hợpQuan hệ chỉ đạo
11
12
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
HC
Phòng kế toán tài vụ
Phòng kỹ thuật
Phòng kế hoạch vật tư
Phòng xuất nhập
Phân xưởng cắt
Phân xưởng may
Phân xưởng gò ráp
Bộ phận đế
Bộ phận
cơ điện
Sơ đồ 1.2 Bộ máy quản lý của xí nghiệp
PGĐ phụ trách sản xuất
PGĐ phụ trách KD
PGĐ phụ trách vật tư
12
13
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Ban giám đốc: gồm 4 người ( 1Giám đốc+ 3 Phó giám đốc)
Giám đốc: Là đại diện tư cách pháp nhân của xí nghiệp, là người phụ
trách chung về tình hình sản xuất kinh doanh, chịu trách nhiệm trước công ty
và pháp luật về kết quả hoạt động kinh doanh của xí nghiệp.
Phó giám đốc: Là người giúp việc cho giám đốc, điều hành công việc
theo sự phân công của giám đốc, chịu trách nhiệm trước xí nghiệp và pháp
luật về nhiệm vụ được phân công thực hiện.
+Phó giám đốc phụ trách sản xuất: Kiểm tra, giám sát về tình hình hoạt
động cụ thể từng phân xưởng, bộ phận.
+Phó giám đốc phụ trách kinh doanh: Phụ trách công việc mua bán,
thực hiện công tác Marketing, chào hàng, giao dịch với đối tác.
+Phó giám đốc phụ trách vật tư: Chịu trách nhiệm cung cấp các thiết bị
sản xuất, NVL…để đảm bảo cho quá trình sản xuất được đầy đủ.
13
14
Chuyên đề tốt nghiệp Đại học Kinh tế Quốc dân
Các bộ phận chức năng:
Phòng tổ chức hành chính: là bộ phận bao gồm ban tổ chức lao động
tiền lương, hành chính quản trị.
Phòng kế toán tài vụ: là công cụ xí nghiệp giúp giám đốc thực hiện tốt
công tác hạch toán kinh tế, thống kê tài chính, thông tin kinh tế cho xí nghiệp.
Ngoài ra, phòng kế toán tài vụ còn có nhiệm vụ lập và thực hiện tốt các kế
hoạch tài chính và báo cáo tài chính theo quy định.
Phòng kỹ thuật: có nhiệm vụ quan trọng là kiểm tra chất lượng sản
phẩm, an toàn trong sản xuất trên từng công đoạn.
Phòng kế hoạch vật tư: Dựa trên các đơn đặt hàng từ phòng kinh doanh
chuyển sang, các định mức vật tư phòng kỹ thuật chuyển tới để lập kế hoạch
sản xuất theo đơn đặt hàng, kế hoạch mua sắm, dự trữ, cấp phát vật tư sau khi
đã kiểm tra lại các định mức.
Phòng xuất nhập: có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường, tìm nguồn cung cấp
NVL, tìm đối tác kinh doanh, ký kết hợp đồng, tiêu thụ sản phẩm, làm thủ tục
xuất thành phẩm, nhập NVL
1.1.4. Đặc điểm tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của xí nghiệp giầy
Barotex
Xí nghiệp giầy Barotex là một đơn vị kinh doanh còn non trẻ, lại chủ
yếu sản xuất gia công cho khách hàng nên mức lợi nhuận đạt được hàng năm
chưa cao, đặc biệt trong những năm đầu thành lập còn thua lỗ. Hoạt động sản
xuất của xí nghiệp còn phụ thuộc vào các đơn hàng của đối tác do đó, kết quả
hoạt động kinh doanh cũng thường xuyên biến động theo. Có những quý đạt
mức lợi nhuận khá cao do sử dụng được tối đa công suất của máy móc, công
nhân, tiết kiệm được chi phí nhưng cũng có những kỳ, xí nghiệp bị thua lỗ do
đơn hàng ít, các mặt hàng có tỉ suất lợi nhuận thấp trong khi đó các chi phí bất
biến như chi phí khấu hao, bảo dưỡng, bảo trì máy móc…vẫn phát sinh.Tuy
nhiên, trong một số năm gần đây, do đổi mới công nghệ sản xuất và hoạt động
kinh doanh ngày càng có hiệu quả nên mức lợi nhuận hàng năm đã tăng dần.
a)Về tình hình tăng giảm nguồn vốn chủ sở hữu
Tính đến 31/12/2006:
Nguồn vốn kinh doanh của công ty bao gồm: vốn góp, thặng dư vốn và
vốn khác. Các nguồn này đều tăng với mức tổng cộng là 1,437,291,304 đồng,
tương ứng với tốc độ tăng là 5.54%.
Các quỹ
Quỹ khen thưởng, phúc lợi tăng: 582,763,000 đồng, tương ứng với 53.14%
Quỹ phát triển sản xuất kinh doanh và Quỹ dự phòng tài chính giảm
741,454,215 đồng, tương ứng với tốc độ giảm là 23.54%
Lợi nhuận chưa phân phối tăng 5%.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét