-5-
3.3.3 Thực hiện chính sách đa ngoại tệ
3.3.4 Tạo điều kiện để đồng tiền Việt Nam chuyển đổi được
3.3.5 Chính sách lãi suất
3.3.6 Hoàn thiện thò trường ngoại hối
3.3.7 Dự báo tỷ giá
3.3.8 Phối hợp đồng bộ chính sách tỷ giá hối đoái với các chính sách
kinh tế vó mô khác
3.3.9 Các giải pháp khác
KẾT LUẬN
PHỤ LỤC
TÀI LIỆU THAM KHẢO
70
72
73
75
76
77
81
83
-6-
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
USD Đôla Mỹ
CNY Nhân dân tệ
JPY Yên Nhật
VND Đồøng Việt Nam
EUR Đồng Euro
GBP Bảng Anh
THB Bạt Thái Lan
TW Trung ương
VN Việt Nam
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTW Ngân hàng Trung ương
NHTM Ngân hàng thương mại
ĐTNN Đầu tư nước ngoài
XHCN Xã hội chủ nghóa
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
EU Liên minh Châu Âu
WB Ngân hàng thế giới
IMF Quỹ tiền tệ quốc tế
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Tổng sản phẩm quốc dân
CPI Chỉ số giá tiêu dùng
FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài
LNH Liên ngân hàng
-7-
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Hình 1: Ảnh hưởng của Cung – Cầu đến sự hình thành tỷ giá
Hình 2: Ảnh hưởng của lãi suất đến sự hình thành tỷ giá
Hình 3: Ảnh hưởng của thu nhập tương đối đến sự hình thành tỷ giá
Hình 4: Lý thuyết đường cong chữ J
Hình 5: Tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do 1985-1989
Hình 6: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thò trường 1989 – 1991
Hình 7: Tỷ giá danh nghóa và tỷ giá hối đoái thực 1992 – 1996
Trang 10
Trang 11
Trang 13
Trang 16
Trang 30
Trang 33
Trang 39
-8-
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Tỷ lệ bội chi ngân sách từ năm 1976-1989
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng, lạm phát từ 1986-1989
Bảng 3: Tỷ giá chính thức và tỷ giá tự do bình quân 1985-1989
Bảng 4: Tỷ giá trong ngân hàng và trên thò trường tự do bình quân, thời kỳ
1989-1991
Bảng 5: Tỷ giá chính thức và tỷ giá thò trường 1989-1991
Bảng 6: Tình hình lạm phát, tỷ giá, cán cân thương mại, cán cân thanh
toán, dự trữ ngoại hối của Việt Nam giai đoạn 1989-1991
Bảng 7: Tương quan giữa tỷ giá hối đoái danh nghóa và tỷ giá hối đoái
thực tế và tỷ giá ngang bằng sức mua 1992-1996
Bảng 8: Tình hình xuất khẩu, nhập khẩu, cán cân thương mại 1992-
1997
Bảng 9: Tốc độ tăng trưởng kinh tế, lạm phát và bội chi ngân sách
1992–1997
Bảng 10: Mức giảm giá của một số đồng tiền khu vực từ tháng 7/1997
đến tháng 10/1997 (so với đồng USD)
Bảng 11: Giá đồng USD những tháng cuối năm 1997 tại các cửa hàng
tư nhân
Bảng 12: Tỷ giá hối đoái 1999-2005
Bảng 13: Tình hình xuất nhập khẩu và cán cân thương mại (1999-2005)
Bảng 14: Một số chỉ tiêu 1999-2005
Bảng 15: Tổng hợp nguồn FDI Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005
Trang 28
Trang 28
Trang 29
Trang 32
Trang 33
Trang 34
Trang 38
Trang 42
Trang 42
Trang 44
Trang 45
Trang 48
Trang 51
Trang 52
Trang 52
-9-
PHẦN MỞ ĐẦU
Tỷ giá hối đoái có lòch sử phát triển gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát
triển của thương mại quốc tế và quan hệ kinh tế quốc tế. Tỷ giá hối đoái có thể làm
thay đổi vò thế và lợi ích của các nước trong quan hệ kinh tế quốc tế.
Tỷ giá hối đoái là vấn đề rất phức tạp, liên quan đến nhiều vấn đề như giá cả,
xuất nhập khẩu, dòng luân chuyển vốn và việc thực hiện các mục tiêu kinh tế ở tầm
vó mô. Tỷ giá hối đoái có tác động và ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của mỗi quốc
gia nói riêng và quan hệ kinh tế quốc tế nói chung, đặc biệt là quan hệ thương mại
giữa các nước với nhau nên nó luôn được các Chính phủ và các tổ chức kinh tế thế
giới hết sức quan tâm. Tỷ giá hối đoái là một công cụ quan trọng để thực hiện chính
sách kinh tế vó mô, do vậy, việc điều hành chính sách tỷ giá hối đoái có một tầm
quan trọng đặc biệt.
Sau gần 20 năm đổi mới, Việt Nam đã có những biến đổi sâu sắc, đạt được
thành tựu to lớn trên nhiều lónh vực, trong đó những đổi mới về chính sách tài chính–
tiền tệ và tỷ giá hối đoái đã có tác động tích cực, góp phần tạo nên sự ổn đònh môi
trường kinh tế – xã hội, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, đây chỉ là những
thành tựu đạt được bước đầu, nhìn chung, vẫn chưa theo kòp với sự phát triển kinh tế
và những đòi hỏi của thực tiễn đất nước trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, việc đúc rút những kinh nghiệm quý giá từ những
thành công và cả những thất bại của các nước và lựa chọn một chính sách tỷ giá hối
đoái phù hợp, thực sự có hiệu quả, cùng với một số chính sách vó mô khác thúc đẩy
nền kinh tế phát triển bền vững là một vấn đề hết sức quan trọng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài: Những vấn đề lý luận và thực
tiễn về tỷ giá hối đoái và cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam trong thời gian qua,
-10-
đồng thời nghiên cứu kinh nghiệm sử dụng tỷ giá hối đoái trong xây dựng và phát
triển kinh tế của một số nước trên thế giới.
Phương pháp nghiên cứu: Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp tổng hợp, phân
tích, so sánh, đối chiếu kết hợp với các học thuyết kinh tế hiện đại, kinh nghiệm
điều hành tỷ giá của một số nước, từ đó đưa ra phương hướng hoàn thiện cơ chế điều
hành tỷ giá của nước ta.
Nội dung nghiên cứu chủ yếu của đề tài bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan về tỷ giá hối đoái và chính sách tỷ giá hối đoái
- Chương 2: Thực trạng về cơ chế điều hành tỷ giá của Việt Nam trong thời gian qua
- Chương 3: Đònh hướng và những giải pháp chủ yếu góp phần hoàn thiện chính sách
tỷ giá hối đoái của Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế
Ý nghóa khoa học và thực tiễn của đề tài: Qua việc nghiên cứu lý luận về tỷ
giá, học hỏi kinh nghiệm điều hành của một số nước trên thế giới, cùng với thực tiễn
điều hành tỷ giá ở Việt Nam trong những năm qua, tìm ra những tồn tại, vướng mắc
và đưa ra biện pháp khắc phục nhằm hoàn thiện cơ chế điều hành tỷ giá của Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay để có thể sử dụng hiệu quả hơn công cụ điều tiết này
trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với sự cố gắng và mong muốn hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu nhưng đề tài
không tránh khỏi những hạn chế và sai sót. Rất mong nhận được sự chỉ dẫn và đóng
góp tận tình của q Thầy Cô và các bạn.
-11-
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ CHÍNH SÁCH TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1. Tỷ giá hối đoái
1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
Cho đến nay, mặc dù nền kinh tế thế giới đã được quốc tế hóa mạnh mẽ, vấn đề
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại đã trở thành một quy luật tất yếu trong quá trình
phát triển kinh tế của mỗi nước, nhưng hầu hết mỗi quốc gia hay một nhóm các quốc
gia liên kết vẫn sử dụng đồng tiền riêng của mình: Mỹ có đồng Đôla (USD), Trung
Quốc có đồng nhân dân tệ (CNY), Nhật có đồng Yên (JPY), Việt Nam có tiền đồng
(VND), Liên minh Châu Âu (EU) có đồng tiền chung Euro (EUR)
Vì vậy, để giải quyết và thực hiện các mối quan hệ kinh tế, mà trước hết là các
mối quan hệ về mua bán, trao đổi hàng hóa dòch vụ và đầu tư giữa các nước hay các
nhóm nước với nhau, đồng tiền của các quốc gia vẫn phải được chuyển hóa cho
nhau. Theo đó, mối tương quan đồng tiền các nước được chuyển đổi cho nhau theo tỷ
lệ nào đó để thực hiện các thanh toán phục vụ cho việc giao dòch, buôn bán, trao đổi
và chuyển vốn quốc tế thì được gọi là tỷ giá hối đoái.
Tỷ giá hối đoái là sự so sánh mối tương quan giá trò giữa hai đồng tiền với nhau
hay nói cách khác, tỷ giá hối đoái là giá cả của một đơn vò tiền tệ nước này được thể
hiện bằng số lượng đơn vò tiền tệ nước khác.
Ở Việt Nam, theo Khoản 5 Điều 4 Nghò đònh 63/1998/NĐ-CP ngày 17/8/1998 của
Chính phủ về quản lý ngoại hối có đònh nghóa:
“Tỷ giá hối đoái là giá của một đơn vò tiền tệ nước ngoài tính bằng đơn vò tiền tệ của
Việt Nam”.
-12-
VD: Vào ngày 12/7/2006, tỷ giá bán ra của các ngoại tệ tại các ngân hàng thương
mại Việt Nam là:
1 USD = 15.993 VND
1 JPY = 140,80 VND
1 EUR = 20.534,34 VND
1.2 Lòch sử phát triển của các chế độ tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái đã có một lòch sử phát triển lâu dài. Có thể nói, quá trình hình
thành và phát triển của tỷ giá hối đoái gắn liền với lòch sử phát triển của nền kinh tế
và thương mại thế giới. Có thể chia lòch sử phát triển của tỷ giá hối đoái thành ba
loại chế độ tỷ giá khác nhau: chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh, chế độ tỷ giá hối đoái
thả nổi tự do và chế độ tỷ giá hối đoái hỗn hợp giữa cố đònh và thả nổi.
1.2.1 Chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh
Tỷ giá cố đònh là tỷ giá không biến động thường xuyên, không phụ thuộc vào
quy luật cung – cầu, phụ thuộc vào ý chí chủ quan của Chính phủ. Trong một hệ
thống tỷ giá hối đoái cố đònh, tỷ giá hối đoái hoặc được giữ không đổi hoặc chỉ được
cho phép dao động trong một phạm vi rất hẹp. Nếu tỷ giá hối đoái bắt đầu dao động
quá nhiều, các Chính phủ có thể can thiệp để duy trì tỷ giá hối đoái trong vòng giới
hạn của phạm vi này.
Trong hệ thống tỷ giá hối đoái cố đònh, các công ty đa quốc gia ít phải bận
tâm về việc lên xuống hàng ngày của tỷ giá. Ngược lại, Chính phủ lại gặp nhiều khó
khăn trong việc quản lý và điều hành tỷ giá.
1.2.2 Chế độ tỷ giá hối đoái thả nổi tự do
Trong một hệ thống tỷ giá thả nổi tự do, tỷ giá sẽ được các lực thò trường ấn đònh
mà không có sự can thiệp của Chính phủ.
-13-
Cơ sở cơ bản được sử dụng làm căn cứ xác đònh tỷ giá hối đoái thả nổi là quan
hệ cân bằng cung cầu ngoại tệ trên thò trường ngoại hối. Nó cũng chính là lý lẽ căn
bản của các nhà kinh tế tán thành sự phát triển kinh tế dựa vào cơ chế cạnh tranh tự
do. Chế độ tỷ giá này cho phép xác đònh một tỷ giá danh nghóa gần với sức mua thực
tế của đồng tiền các nước. Nó phản ánh tương đối xác thực những biến đổi kinh tế
của mỗi nước và sự thay đổi trong tương quan kinh tế giữa các nước với nhau. Chính
sách tỷ giá này cũng là cơ sở để thực hiện mong muốn của những nước có khả năng
theo đuổi chính sách tài chính – tiền tệ độc lập, tách rời khỏi sự ràng buộc một cách
chặt chẽ với đồng USD trong chế độ tỷ giá hối đoái Bretton Woods. Nhưng khi phản
ánh được sự thay đổi trong sức mua thực tế của các đồng tiền, có khả năng thích ứng
với các biến động lớn của nền kinh tế và tạo khả năng thực thi chính sách tiền tệ chủ
động của các chính phủ thì tỷ giá hối đoái thả nổi lại gây ra những biến động tỷ giá
hết sức thất thường, làm cho sự lên giá – xuống giá của các đồng tiền không sao dự
đoán được (làm tăng tính rủi ro của tỷ giá hối đoái). Điều này làm tăng thêm những
yếu tố gây mất ổn đònh của các nền kinh tế, cản trở khả năng kiểm soát quá trình
tăng trưởng và phát triển kinh tế của các chính phủ.
Trong chế độ tỷ giá thả nổi tự do, chính phủ giữ thái độ thụ động, để cho thò
trường quyết đònh giá trò đồng tiền nước mình. Thực tế, ít có nước nào thả nổi tự do
mà trái lại, Chính phủ thường can thiệp bằng những công cụ tài chính – tiền tệ (lãi
suất, dự trữ bắt buộc, nghiệp vụ thò trường mở), điều chỉnh dự trữ ngoại tệ, chính
sách kinh tế, kể cả các giải pháp hành chính (mua ngoại tệ phải làm đơn xin mua
ngoại tệ, chính sách kết hối ngoại tệ ).
Vậy trên thực tế, không tồn tại một chế độ tỷ giá hoàn toàn thả nổi mà thường
chỉ tồn tại chế độ tỷ giá hỗn hợp giữa “cố đònh” và “thả nổi”.
1.2.3 Chế độ tỷ giá hối đoái hỗn hợp giữa cố đònh và thả nổi
-14-
Tỷ giá hỗn hợp giữa cố đònh và thả nổi là tỷ giá thả nổi nhưng có sự can thiệp
của Chính phủ để tác động đến tỷ giá hối đoái phục vụ chiến lược chung của nước
mình. Đây là một chế độ tỷ giá trung gian giữa tỷ giá cố đònh với tỷ giá thả nổi,
trong đó tỷ giá hối đoái cần phải có khả năng phản ánh được những biến động
thường xuyên và đột ngột của các nhân tố ngắn hạn để duy trì được khả năng ổn
đònh trong dài hạn. Một tỷ giá hối đoái như thế cần phải được điều chỉnh để duy trì
ổn đònh xung quanh một vùng mục tiêu nhất đònh. Vùng mục tiêu này được xác đònh
thay đổi ở những mức khác nhau, tùy thuộc vào điều kiện và trạng thái nền kinh tế
trong những thời kỳ khác nhau. Việc áp dụng chế độ tỷ giá hỗn hợp hiện nay ở các
nước không chỉ khác nhau về mức độ của vùng mục tiêu mà còn khác nhau về sự lựa
chọn các cực và cơ sở để xác đònh tỷ giá. Khi các nước sử dụng một hệ thống các
công cụ để tác động vào thò trường ngoại hối nhằm đạt được các mục tiêu về tỷ giá
hối đoái, chính là quá trình điều hành chính sách tỷ giá hối đoái của mỗi quốc gia
trong giai đoạn hiện nay.
1.3 Các loại tỷ giá hối đoái
1.3.1 Tỷ giá hối đoái danh nghóa
Tỷ giá hối đoái danh nghóa là tỷ lệ trao đổi giữa đồng tiền của các quốc gia.
Ví dụ, ngân hàng niêm yết:
1USD = 15.700 VND (15.700VND/1USD)
có nghóa là nếu khách hàng trao cho ngân hàng 1 đôla Mỹ thì ngân hàng sẽ đưa lại
cho khách hàng 15.700VND; hoặc nếu khách hàng trao cho ngân hàng 15.700 VND
thì khách hàng sẽ nhận được 1 đôla Mỹ. Trong thực tế, ngân hàng sẽ niêm yết giá
bán và mua đôla khác nhau. Sự chênh lệch này là một trong những nguồn lợi nhuận
cho ngân hàng.
Tỷ giá hối đoái có thể được biểu diễn dưới hai dạng:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét