Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014

Nâng cao chất lượng tín dụng đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Sở giao dịch Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam

Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Bảng 1.1: Cách phân loại DNV&N của Nhật Bản
Ngành Số lao động (người) Vốn (triệu Yên)
Công nghiệp <300 <100
Thương nghiệp <100 <300
Thương mại, bán lẻ <50 <10
Nguồn: Cẩm nang & kinh nghiệm của Nhật Bản trong phát
triển DNV&N ( TS. Lê Đình Thu- Ban kinh tế trung ương).
Ở Hàn Quốc: Việc phân loại quy mô vừa và nhỏ được thực hiện theo hai
nhóm ngành:
-Trong ngành chế tạo, khai thác xây dựng: Các doanh nghiệp có số vốn
ban đầu dưới 600.000 USD. Số lao động thường xuyên dưới 300 người.
-Trong ngành thương mại: Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có doanh thu
dưới 250.000 USD/ năm. Số lao động dưới 20 người.
Ở các nước Liên minh Châu Âu: Để xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ ,
người ta đưa ra ba tiêu chuẩn đánh giá: Số lao động thường xuyên được sử
dụng trong doanh nghiệp,doanh thu bán/ năm,vốn đầu tư cho sản xuất của
doanh nghiệp.
Bảng 1.2: Cách phân loại DNV&N của Liên minh Châu Âu.
Loại doanh nghiệp Số lao động Doanh thu/ năm
( triệu Euro)
Vốn
(triệu Euro)
Doanh nghiệp lớn >250 >=16 >=8
Doanh nghiệp vừa 50-250 <16 <8
Doanh nghiệp nhỏ <50 <4 <2
Nguồn: Tạp chí nghiên cứu Châu Âu
Các nước Asean:
Nhìn chung các nước trong khu vực cũng đều dựa trên hai tiêu thức cơ
bản để phân loại đó là vốn và lao động. Ở Singapore, các Doanh nghiệp vừa
và nhỏ là các doanh nghiệp có số vốn dưới 1,2 triệu USD Singapore, số lao
động dưới 100. Ở Malaysia thì các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là các doanh
nghiệp có số vốn là 2,5 triệu USD Malaysia, số lao động dưới 100 người.
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
5
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ở Việt Nam , theo Nghị định 90/NĐ-CP quy định tiêu chí để xác định
DNV&N là :
Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những cơ sở sản xuất kinh doanh độc lập,
có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có vốn đăng ký
không vượt quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không
quá 300 người.
Với tiêu chí trên thì tính trên cả nước ta hiện nay có gần 200.000 các
Doanh nghiệp vừa và nhỏ, chiếm tới 96% tổng số Doanh nghiệp trong cả
nước.
2. Đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
2.1. Ưu điểm:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy mô nhỏ bé hơn so với các Doanh
nghiệp lớn cho nên việc đầu tư tìm mặt bằng để sản xuất, đội ngũ lao động,
của các Doanh nghiệp này thuận lợi và dễ dàng hơn nhiều so với các Doanh
nghiệp lớn.Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thành lập nhanh chóng để đáp
ứng các nhu cầu phát sinh tức thời của thị trường.Đồng thời khi thì trường có
những biến động xấu ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh hoặc một lý do
nào đó làm cho Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ thì Doanh nghiệp vừa và nhỏ
cũng có thể chuyển sang lĩnh vực kinh doanh khác phù hợp vói doanh nghiệp
mình một cách dễ dàng.Khả năng thích ứng nhanh là một ưu điểm nổi bật của
Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chỉ sử dụng lượng vốn đầu tư ban đầu không
nhiều với chi phí dành cho mặt bằng sản xuất, chi phí nhân công rẻ họ có thể
tạo ra những sản phẩm có giá rẻ,có chất lượng phục vụ các nhu cầu nhỏ lẻ của
khách hàng.Bên cạnh đó mối quan hệ giữa nhà quản lý và người lao động ở
các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là tương đối chặt chẽ đảm bảo tính thống nhất,
hiệu quả trong hoạt động sản xuất và kinh doanh.
2.2. Nhược điểm:
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
6
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Nguồn tài chính hạn chế: Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có quy mô vốn
đầu tư nhỏ bé (dưới 10 tỷ đồng) đây là một nhược điểm lớn của các các
Doanh nghiệp này.Vốn tự có nhỏ bé làm cho khả năng tiếp cận vốn từ các tổ
chức tín dụng nói chung và của Ngân hàng nói riêng là thấp, vì vậy Doanh
nghiệp vừa và nhỏ thường phải tìm kiếm những nguồn tài chính phi chính
thức để tài trợ cho các hoạt động của mình như vay của anh em, những người
quen biết…Thực tế cho thấy rằng, quy mô càng nhỏ thì khả năng huy động
thêm vốn càng yếu kém.Khó khăn về vốn kéo theo hàng loạt các khó khăn
khác.Đó là khó khăn trong việc đầu tư máy móc thiết bị hiện đại, thu hút
những lao động có tay nghề cao…Doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có khả năng
tham gia vào những hoạt động sản xuất ở những ngành nghề đòi hỏi tập trung
vốn lớn và công nghệ cao.
Sức cạnh tranh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ còn thấp: Các yếu
tố quan trọng để tạo nên một sản phẩm có chất lượng cao đó là công nghệ,
trình độ nhân công… của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là còn thấp cho nên
các sản phẩm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ kém cạnh tranh trên thị
trường.Mặt khác các Doanh nghiệp này lại gặp một số hạn chế nhất định
trong việc thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm như: thiếu thông tin
về thị trường, khả năng Marketing còn kém…Điều đó đã làm cho các mặt
hàng của Doanh nghiệp vừa và nhỏ khó tiêu thụ trên thị trường.
Quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của Doanh
nghiệp vừa và nhỏ còn kém: Một thực tế ở nước ta hiện nay nhiều chủ
Doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa từng qua đào tạo một trường lớp chính quy
nào, thiếu kiến thức về kinh tế và quản lý kinh tế, thậm chí còn chưa nắm rõ
các quy định của pháp luật…Không ít chủ doanh không lập được những kế
hoạch tài chính, phương án sản xuất kinh doanh hợp lý dẫn đến thất bại trên
thị trường.
Hoạt động của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là không ổn định: Mặc
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
7
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dù các Doanh nghiệp này là khá năng động, linh hoạt nhưng do hạn chế về
nguồn tài chính nên khi không có những biến động lớn của thị trường thì
không ít các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trụ vững được, xấu hơn là bị phá sản.
3. Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò và vị trí hết sức quan trọng trong sự
phát triển của mỗi nước, kể các những nước có trình độ phát triển cao.Ngày
nay các quốc gia đã không ngừng chú ý, hỗ trợ nhằm phát huy tối đa vai trò
của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
3.1. Đối với nền kinh tế:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra nhiều việc làm và thu nhập cho
người lao động:
Do sự phân bố rộng khắp và khá đa dạng trong ngành nghề kinh doanh,
hơn nữa các Doanh nghiệp này không đòi hỏi trình độ quá cao, Doanh nghiệp
vừa và nhỏ đã và đang thu hút được rất nhiều lao động ở thành thị và nông
thôn từ đó góp phần nâng cao thu nhập cho người lao động, cải thiện đời sống
nhân dân, đồng thời hạn chế các tệ nạn xã hội từ nguyên nhân thất nghiệp.
Góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương,khai thác tiềm
năng , thế mạnh của từng vùng, thúc đẩy chuyển dịch kinh tế đất nước:
Do quy mô nhỏ bé nên các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể hoạt động ở
khắp nơi trên lãnh thổ, ở cả những nơi chưa có cơ sở hạ tầng phát triển như:
vùng núi cao, hải đảo xa xôi, ở vùng nông thôn rộng lớn…Doanh nghiệp vừa
và nhỏ len lỏi vào từng ngõ ngách của thôn xóm, khơi dậy và phát huy thế
mạnh tiềm ẩn của từng địa phương nhằm phát triển kinh tế của từng vùng,
đóng góp chung và sự phát triển đất nước.Theo thống kê của Bộ kế hoạch và
đầu tư thì mỗi năm các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam tạo ra khoảng
25-26% GDP của cả nước, 31% tổng giá trị sản lượng công nghiệp.
Sự phát triển của các doanh nghiệp này ở các vùng nông thôn tạo điều
kiện cho công nghiệp phát triển đồng thời thúc đẩy các ngành thương mại
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
8
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
dịch vụ, tiểu thương phát triển. Tỷ trọng nông nghiệp trong nền kinh tế quốc
dân vì thế mà có thể được thu hẹp dần. Ngoài ra, các DNV&N thúc đẩy quá
trình đô thị hoá, thu hút và tập trung dân cư vào các vùng trọng điểm. Từ đó
thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn trong việc thu hút nguồn
vốn trong dân cư:
Tiềm lực tài chính trong dân cư là rất lớn, tuy nhiên nó lại không tập
trung thành nhứng khỏan lớn đủ đáp ứng nhu cầu cho các Doanh nghiệp lớn
mà chỉ là những khoản nhỏ lẻ nằm rải rác.Doanh nghiệp vừa và nhỏ có có vai
trò và tác dụng rất lớn trong việc thu hút các nguồn vốn đó vào sản xuất kinh
doanh.Với tính chất nhỏ bé,số lượng lớn hoạt động trên nhiều lĩnh vực và địa
bàn cho nên mặc dù số vốn mà mỗi Doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút được là
không nhiều nhưng tính trên tổng số vốn thu hút được là khá lớn.Với vai trò
này các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã giúp nền kinh tế sử dụng có hiệu quả
các nguồn tài chính trong dân cư và hạn chế đồng tiền nhàn rỗi không sinh lời
trong nền kinh tế.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội
ngày càng phong phú, đa dạng mà các doanh nghiệp lớn không thể làm
được:
Trong thực tế tiêu dùng xã hội, có những mặt hàng mà người tiêu dùng
chỉ có nhu cầu ít và cá biệt song chất lượng, chủng loại,mẫu mã… không
ngừng thay đổi.Các mặt hàng này các Doanh nghiệp lớn không thể đáp ứng
được nhưng ngược lại các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với quy mô sản xuất
nhỏ,có khả năng điều chỉnh hoạt động nên có thể đáp ứng những nhu cầu đó
một cách dễ dàng, tiện lợi.
Đồng thời cũng có nhiều hàng hóa người tiêu dùng có nhu cầu không sản
xuất được ở những Doanh nghiệp lớn, kỹ thuật hiện đại mà chỉ có thể sản xuất
bằng lao động thủ công phân tán đến từng cơ sở sản xuất nhỏ và hộ gia đình.
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
9
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Doanh nghiệp vừa và nhỏ hỗ trợ các Doanh nghiệp lớn phát triển:
Thông qua việc cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các Doanh nghiệp lớn
đồng thời là nơi tiêu thụ sản phẩm cho các Doanh nghiệp lớn, Doanh nghiệp
vừa và nhỏ đóng vai trò là người bán và người mua quan trọng của các Doanh
nghiệp lớn. Giúp cho Doanh nghiệp lớn hoạt động một cách hiệu quả hơn.Các
Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã giúp cho các Doanh nghiệp lớn giảm được
những chi phí do biến động của thị trường gây ra cho cả cung và cầu, giảm
chi phí sửa chữa bảo hành, chi phí vận chuyển và bảo quản hàng hóa cho các
Doanh nghiệp lớn.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ tạo ra sự năng động và hiệu quả cho nền
kinh tế thị trường:
Với ưu thế là tính linh hoạt và lượng vốn yêu cầu tương đối nhỏ, Doanh
nghiệp vừa và nhỏ có khả năng nhanh chóng trong việc chuyển đổi mặt hàng,
chuyển hướng sản xuất… phù hợp với biến động của thị trường.Chúng luôn
tìm kiếm những lĩnh vực kinh doanh ít vốn, có lợi nhuận cao, có thể quay
vòng vốn nhanh.Sự tham gia vào thị trường của số lượng lớn các Doanh
nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra nhiều sản phẩm phong phú và đa dạng, làm tăng
tính cạnh tranh của nền kinh tế thị trường.
Chính điều này mà các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã làm cho nền kinh tế
trở nên năng động hơn, đồng thời làm thúc đẩy sản xuất kinh doanh có hiệu
quả hơn.
3.2. Đối với Ngân hàng:
Các Ngân hàng thương mại là một đối tượng hoạt động kinh doanh trên
lĩnh vực tiền tệ, lợi nhuận chủ yếu mà các Ngân hàng có được là từ việc cho
vay.Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình doanh nghiệp chiếm số lượng đông
đảo nhất trong các Doanh nghiệp của đất nước.Vì vậy nếu Ngân hàng khai
thác hiệu quả nguồn thu từ việc tạo vốn cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ
mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng.
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
10
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
II) Khái quát Tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
I. Khái niệm Tín dụng Ngân hàng:
Tín dụng là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ giữa bên cho vay và bên đi
vay dựa trên nguyên tắc người đi vay sẽ hoàn trả cả vốn và lãi vào một thời
điểm xác định như hai bên đã thoả thuận.Tín dụng Ngân hàng dùng để chỉ
quan hệ vay mượn giữa Ngân hàng và khách hàng.Tuy nhiên trong thực tế do
tính chất phức tạp của hoạt động Ngân hàng mà hoạt động nhận tiền gửi và
hoạt động cho vay được tách riêng do hai bộ phận chuyên môn độc lập nhau
đảm nhận: bộ phận Nguồn vốn và bộ phận Tín dụng.Hoạt động nhận tiền gửi
không gọi là hoạt động Tín dụng mà gọi là hoạt động Huy động vốn do bộ
phận nguồn vốn đảm nhận.Bộ phận tín dụng chuyên làm nghiệp vụ cho
vay.Như vậy,sẽ phù hợp hơn khi sử dụng định nghĩa sau: Tín dụng Ngân hàng
là quan hệ vay mượn bằng tiền tệ giữa một bên là Ngân hàng đóng vai trò là
người cho vay và một bên là các cá nhân ,tổ chức trong xã hội là người đi vay
dựa trên nguyên tắc người đi vay cam kết hoàn trả cả gốc và lãi vào một thời
điểm xác định do hai bên đã thoả thuận.
Tín dụng Ngân hàng khác với tín dụng của các loại hình tín dụng khác là
Ngân hàng cho khách hàng vay từ nguồn mà khách hàng nhận tiền gửi từ dân
cư, các doanh nghiệp, các tổ chức khác…Ngân hàng hưởng lợi từ việc chênh
lệch lãi suất cho vay và lãi suất tiền gửi. Tín dụng là hoạt động mang lại nhiều
lợi nhuận nhất cho Ngân hàng nhưng cũng là hoạt động chứa đựng nhiều rủi
ro nhất.Vì vậy tín dụng Ngân hàng phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản.
2.Nguyên tắc trong Tín dụng Ngân hàng:
Các nguyên tắc này nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời của
ngân hàng.Chúng được cụ thể hóa trong các quy định của Ngân hàng Nhà
nước và các Ngân hàng thương mại:
Nguyên tắc thứ nhất: khách hàng phải cam kết trả đủ gốc và lãi trong
thời gian xác định.Các khoản tín dụng của Ngân hàng chủ yếu có nguồn gốc
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
11
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
từ các khoản tiền gửi của khách hàng và các khỏan Ngân hàng vay mượn từ
các tỏ chức khác.Ngân hàng cũng có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc và lãi
như đã cam kết.Vì vậy Ngân hàng luôn yêu cầu người vay phải thực hiện
đúng cam kết này.Đây là điều kiện quan trọng để Ngân hàng tồn tại và phát
triển.
Nguyên tắc thứ hai: Khách hàng phải cam kết sử dụng tín dụng đúng
mục đích theo thỏa thuận với Ngân hàng, hkông trái với các quy định của
pháp luật và các quy định của của Ngân hàng cấp trên.Mục đích ghi trong hợp
đồng tín dụng đảmbảo khách hàng không tài trợ các hoạt động trái pháp luật
và việc tài trợ đó là phù hợp với cương lĩnh của Ngân hàng.
Nguyên tắc thứ ba: Khách hàng phải có phương án trả nợ có hiệu
quả.phương án hoạt động có hiệu quả của khách hàng là minh chứng cho khả
năng thu hồi vốn và thu được lãi từ hoạt động cho vay của Ngân hàng.Điều
này có thể làm tốt khi có sự đóng góp ý kiến tích cực, bổ ích của Ngân hàng.
3. Phân loại Tín dụng Ngân hàng:
Để mở rộng tín dụng có hiệu quả, các Ngân hàng, bên cạnh việc xây
dựng và thực hiện chính sách Tín dụng đúng đắn , phải không ngừng đa dạng
hóa các hình thức tín dụng phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của khách hàng.
Hiện nay có rất nhiều hính thức tín dụng được các Ngân hàng thương
mại đưa ra.Để sử dụng và quản lý có hiệu quả tín dụng cân có sự phân loai
tín dụng.Phân loại tín dụng là sự sắp xếp tín dụng theo một số tiêu chí nhất
định.
Có các tiêu thức để phân loại tín dụng sau:
Phân loại tín dụng theo thời gian: Tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung và
dài hạn.
Phân loại tín dụng theo hình thức cấp tín dụng có các loại: Chiết khấu,
cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh.Đặc biệt trong cho vay các Ngân hàng
còn phân loại theo các hình thức như: Thấu chi, cho vay trực tiếp, cho vay
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
12
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
gián tiếp, cho vay luân chuyển, cho vay trả góp.
Phân loại theo tài sản đảm bảo có: Tín dụng có tài sản đảm bảo như thế
chấp, cầm cố tài sản và tín dụng không cần có tài sản đảm bảo( đây là loại tín
dụng cung cấp cho các khách hàng có uy tín,thường xuyên, hay là các là các
khoản cho vay theo chỉ thị của Chính phủ mà Chính phủ yêu cầu không cần
tài sản đảm bảo).
Phân loại theo đối tượng khách hàng được cấp tín dụng có : tín dụng đối
với khách hàng là đơn vị kinh doanh và đối tượng khách hàng là người tiêu
dùng.Trong khách hàng là đơn vị kinh doanh có thể phân chia thành: khách
hàng có Vốn chủ sở hữu lớn như các Tổng công ty,các tập đoàn, Doanh
nghiệp có số vốn chủ sở hữu lớn…và khách hàng có Vốn chủ sở hữu nhỏ như
các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, HTX, hộ sản xuất cá thể…
Phân loại tín dụng theo thành phần kinh tế có: Tín dụng đối với Doanh
nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, hộ sản xuất…
4.Tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ:
Doanh nghiệp vừa và nhỏ muốn được Ngân hàng cấp Tín dụng phải thỏa
mãn được các nguyên tắc mà Ngân hàng đề ra.Doanh nghiệp vừa và nhỏ phải
tạo được sự tín nhiệm đối với Ngân hàng: làm ăn có hiệu quả, sử dụng vốn
vay đúng mục đích va hợp pháp, hoàn trả gốc và lãi đúng hạn…Nhưng do hạn
chế của mình như vốn tự có nhỏ, sức cạnh tranh chứ cao,…các Doanh nghiệp
vừa nhỏ gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận vốn từ Ngân hàng.
Tín dụng Ngân hàng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại tín dụng
cấp theo đối tượng khách hàng.Số lượng Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ
lệ đông đảo trong đối tượng khách hàng là những đơn vị sản xuất kinh doanh
của Ngân hàng.Nếu khai thác hết và có hiệu quả tín dụng đối với Doanh
nghiệp vừa và nhỏ sẽ tạo cho Ngân hàng nguồn lợi nhận lớn và góp phần
phân tán rủi ro cho khách hàng.
Có các phương thức tín dụng đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ mà các
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
13
Chuyªn ®Ò tèt nghiÖp
Ngân hàng thường áp dụng sau:
Cho vay thấu chi: đây là nghiệp vụ mà qua đó Ngân hàng cho phép
Doanh nghiệp chi trội quá số dư tiền tiền gửi thanh toán của mình đến giới
hạn nhất định và trong khoảng thời gian nhất định.Giới hạn đó được gọi là
hạn mức thấu chi.Để được thấu chi thì khách hàng làm đơn xin hạn mức thấu
chi và thời gian thấu chi.Các khoản chi qua hạn mức thấu chi sẽ phải chịu lãi
phạt và bị đình chỉ sử dụng hình thức này. Thấu chi là hình thức tín dụng
ngắn hạn, linh hoạt, thủ tục đơn giản và phần lớn là không có tài sản đảm
bảo.Nó giúp Doanh nghiệp chủ động, nhanh, kịp thời trong quá trình thanh
toán.Phương pháp này chỉ áp dụng đối với Doanh nghiệp có độ tin cậy cao,
thu nhập đều đặn và kỳ thu nhập ngắn.
Cho vay trực tiếp từng lần: Đây là hình thức cho vay đối với các
Doanh nghiệp không có nhu cầu cho vay thường xuyên, không có điều kiện
được cấp hạn mức thấu chi.Chỉ khi Doanh nghiệp có nhu cầu tức thời như
thời vụ hay mở rộng sản xuất thì mới vay Ngân hàng.Mỗi lần vay khách hàng
phải làm đơn và trình Ngân hàng phương án vay.Nếu Ngân hàng đồng ý sẽ ký
hợp đồng cho vay.Trong quá trình khách hàng sử dụng vốn vay, Ngân hàng sẽ
kiểm soát mục đích và hiệu quả sử dụng vốn vay của Doanh nghiệp.Nếu thấy
có dấu hiệu vi phạm hợp đồng Ngân hàng sẽ thu nợ trước hạn hoặc chuyển nợ
quá hạn.
Cho vay theo hạn mức: Đây là hình thức cho vay mà Ngân hàng cấp
cho Doanh nghiệp một hạn mức tín dụng. Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ
sở kế hoạch sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của Doanh
nghiệp. Hạn mức tín dụng có thể được tính cho đầu kỳ hoặc cuối kỳ.Trong kỳ
khách hàng có thể thực hiện vay trả nhiều lần song dư nợ không được vượt
quá hạn mức tín dụng. Mỗi lần vay Doanh nghiệp chỉ cần trình bày phương
án sử dụng vốn vay, các chứng từ chứng minh đã mua hàng hoặc dịch vụ.Cho
vay theo hạn mức thuận tiện cho những khách hàng vay thường xuyên, vốn
NguyÔn V¨n Anh Ng©n hµng 45A
14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét