Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
Nguyên. Do vậy trong đề tài này, em dựa trên kết quả mà trung tâm Điện thoại
Di động CDMA khu vực III đạt được để đưa ra các đề xuất nhằm hoàn thiện
chương trình PR, từ đó nâng cao hình ảnh và uy tín thương hiệu Sfone.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài này, chủ yếu sử dụng các phương pháp sau:
- Thu thập số liệu:
+ Từ bảng kết quả hoạt động kinh doanh, các nguồn về doanh thu, về số
lượng các thuê bao, về thị phần… của Trung tâm
+ Từ các tài liệu sách báo, tạp chí nội bộ, Internet có liên quan…
- Phương pháp mô tả: dùng các biểu bảng, đồ thị để có thể minh họa rõ nét hơn
cho các vấn đề cần phân tích.
- Phương pháp đánh giá kết quả: Đo lường mức độ nhận thức, thái độ và sự
đánh giá của người dân trước và sau khi trung tâm thực hiện hoạt động PR.
Vì thời gian thực tập có hạn, một số nhận xét còn mang tính chủ quan nên
không tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của
thầy cô, ban lãnh đạo công ty để đề tài ngày càng hoàn thiện hơn.
Nhân đây tôi cũng xin cám ơn GVHD Hồ Nguyên Khoa đã hướng dẫn hết sức
tận tình và có trách nhiệm để tôi hoàn thành phần Khóa luận của mình. Tôi cũng
xin cám ơn Ban lãnh đạo Trung tâm Điện thoại Di động CDMA đã tạo điều kiện
tốt để tôi thực tập và nghiên cứu.
Đà nẵng tháng 11 năm 2009
Sinh viên thực hiện
Trần Bình Sơn
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 5
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ CÔNG CHÚNG (PR)
1.1 Giới thiệu sơ lược về Marketing
1.1.1 Khái niệm Marketing
Marketing là một quá rình quản lý xã hội, bởi nó mà các cá nhân và các nhóm
người nhận ra cái mà họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra, cung cấp và
trao đổi các sản phẩm có giá trị với những người khác.
Marketing là các hoạt động quảng cáo, khuyến mãi bán hàng,quan hệ công
chúng…với mục đích truyền tin,quảng bá về sản phẩm,dịch vụ của doanh nghiệp
để thuyết phục được khách hàng mục tiêu của sản phẩm ấy
- Quảng cáo: là bất kỳ hình thức giới thiệu gián tiếp và khuyếch trương các ý
tưởng,sản phẩm,dịch vụ do người bảo trợ thực hiện mà phải trả tiền.
- Khuyến mãi bán hàng: là những kích thích ngắn hạn nhằm khuyến khích việc
sử dụng dịch vu hay mua sản phẩm
- Quan hệ công chúng: là các chương trình được thiết kế để cổ động hoặc để
bảo vệ,nâng cao hình ảnh của công ty hay các sản phẩm của công ty.
- Bán hàng trực tiếp: là các tương tác trực tiếp với khách hàng tiềm năng nhằm
mục đích giới thiệu, trả lời các câu hỏi và tìm kiếm các đơn đặt hàng.
- Marketing trực tiếp: sử dụng thư, điện thoại, fax, email hoặc Internet để
truyền thông trực tiếp hoặc xin câu trả lời trực tiếp từ những khách hàng cụ thể.
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 6
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
1.1.2 Nội dung của Marketing Mix
Marketing là hoạt động quan trọng của bất kỳ doanh nghiệp nào. Nó sẽ giúp
cho doanh nghiệp đạt được mục tiêu đề ra, giúp cho chiến lược kinh doanh được
thực thi một cách hiệu quả, tạo dựng được hình ảnh, danh tiếng và nâng cao uy tín
thương hiệu trên thương trường và trong tâm trí khách hàng.
Chính sách về sản phẩm:là bao gồm các sản phẩm,dịch vụ tiện ích của doanh
nghiệp đưa ra nhằm giới thiệu với khách hàng về ngành kinh doanh cua doanh
nghiệp.
Chính sách về giá cả:là giá mà doanh nghiệp đưa ra cho mỗi sản phẩm của
mình,giá cả phải thể hiện được giá tri của sản phẩm và thích hợp vơi người tiêu
dùng.
Chính sách về phân phối: là xây dựng hệ thống đại lý,cửa hàng,bán hàng trực
tiếp nhằm đưa sản phẩm của doanh nghiệp đến gần với khách hàng nhất.
1.2 Quan hệ công chúng (PR: Public Relationship)
1.2.1 Khái niệm công chúng và quan hệ công chúng:
Công chúng là mọi nhóm người có quan tâm hay ảnh hưởng thực tế hay tiềm
ẩn đến khả năng công ty đạt được những mục tiêu của mình
1
Công chúng là các nhóm người, kể cả nội bộ và bên ngoài mà một tổ chức có
liên hệ. Công chúng có thể tạo thuận lợi hay gây trở ngại cho khả năng công ty đạt
được những mục tiêu của mình. Do vậy một công ty khôn ngoan cần có những
biện pháp cụ thể để giải quyết tốt các mối quan hệ với công chúng then chốt.
Hoạt động quan hệ công chúng không hướng đến quan hệ công chúng nói
chung mà nhắm đến những nhóm người được xác định rõ ràng. Điều này có nghĩa
là hoạt động quan hệ công chúng nhắm đến các nhóm công chúng theo nhiều hướng
khác nhau, không phát những thông điệp chung hướng đến một thị trường rộng lớn
thông qua phương tiện truyền thông như quảng cáo. Quan hệ công chúng có sự
sàng lọc nhiều hơn và điều đó cũng có nghĩa là tiết kiệm chi phí cũng như gia tăng
khả năng thành công trong việc truyền tải một thông điệp nào đó.
1.2.2 Vai trò của công chúng
Đóng vai trò xây dựng sự hiểu biết và niềm tin đến đối tượng mục tiêu, PR
không chỉ giúp doanh nghiệp tương tác với khách hàng mà còn rất nhiều đối tượng
bên ngoài khác như chính phủ, cộng đồng, nhà đầu tư, nhà cung cấp, giới truyền
thông, đồng thời có cả công tác truyền thông bên trong nội bộ công ty… Đó là
1
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 7
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
chưa kể đến vai trò của PR trong giải quyết khủng hoảng, mà nó đóng vai trò
truyền thông tin cậy duy nhất có thể sử dụng.
Nếu xem xây dựng thương hiệu là tổng thể các điểm tương tác thì PR là công
cụ chiến lược nhất giúp doanh nghiệp hoàn thành sứ mệnh này.
Quan hệ công chúng là một hình thức truyền thông được thiết kế nhằm tạo
lập sự tin tưởng và thấu hiểu của công chúng.
Là một hệ thống các nguyên tắc và các hoạt động một cách hữu cơ, nhất quán
nhằm tạo dựng một hình ảnh một cách ấn tượng, một quan điểm, một nhận định
hoặc sự tin cậy nào đó.
Một định nghĩa đơn giản hơn mô tả quan hệ công chúng như là một chức
năng quản trị mà sử dụng sự truyền thông để tạo điều kiện thuận lợi cho các mối
quan hệ và sự hiểu biết giữa một tổ chức và các nhóm công chúng của nó. Một tổ
chức là một hệ thống của việc điều hành các mối quan hệ để đạt được mục tiêu, và
duy trì lẫn nhau bởi sự truyền thông.
Các tổ chức cần sự truyền thông trong quan hệ công chúng để xây dựng các
mối quan hệ với công chúng để nâng cao hoặc kìm giữ khả năng của công chúng
nhằm theo đuổi sứ mệnh và mục tiêu của tổ chức. Quan hệ công chúng giúp tổ
chức đạt được sứ mệnh và mục tiêu của nó bằng sự truyền thông cẩn trọng với các
nhóm công chúng chiến lược này. Quan hệ công chúng không giống với
Marketing, chỉ truyền thông với các thị trường mà sử dụng các sản phẩm hay dịch
vụ của tổ chức. Quan hệ công chúng thông đạt với tất các các công chúng mà tác
động hoặc bị tác động bởi tổ chức .
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về PR,chính vì vậy, có rất nhiều cách giới
hạn vai trò và chức năng của PR trong đời sống hiện đại. Tuy nhiên, các định
nghĩa thường đi đến thống nhất với nhau về một vấn đề cốt lõi là:
''PR là một quá trình quản lý về truyền thông nhằm nhận biết, thiết lập và duy
trì những quan hệ hữu ích giữa một tổ chức, cá nhân với những cộng đồng liên
quan có quyết định trực tiếp hay gián tiếp tới sự thành bại của tổ chức, cá nhân
đó.''
Ngày nay, khi mà quảng cáo đang bước vào giai đoạn thoái trào và PR đang
dần lên ngôi, điều này đã chứng tỏ được rằng PR đã, đang và sẽ là một công cụ
Marketing hữu hiệu và quan trọng trong hoạt động truyền thông tích hợp.
1.2.3. Mục tiêu của quan hệ công chúng
Các tổ chức, cũng giống như con người phải giao thiệp với những người khác
bởi vì họ không tồn tại một mình. Nếu con người không có mối quan hệ với gia
đình, hàng xóm, bạn bè, kẻ thù, đồng nghiệp họ sẽ không cần giao thiệp với bất cứ
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 8
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
ai ngoại trừ chính họ. Nhưng họ không tồn tại một mình, và họ phải sử dụng sự
truyền thông để tạo nên cách cư xử với những người mà tác động hay bị tác động
bởi tổ chức. Tổ chức cần các mối quan hệ với công chúng bởi vì họ có những mối
quan hệ với công chúng .
Đóng vai trò xây dựng sự hiểu biết và niềm tin đến đối tượng mục tiêu, quan
hệ công chúng là cầu nối với nhiều đối tượng bên ngoài khác như chính phủ, cộng
đồng, nhà đầu tư, nhà cung cấp, giới truyền thông, đồng thời có cả công tác truyền
thông bên trong nội bộ công ty.
Nếu xem xây dựng thương hiệu là tổng thể các điểm tương tác thì quan hệ
công chúng là công cụ hiệu quả nhất giúp doanh nghiệp hoàn thành mục tiêu đề ra
Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng tạo một phong cách, một hình ảnh, một ấn
tượng, một uy tín riêng cho sản phẩm của mình nhằm đem lại cho sản phẩm hình
ảnh riêng, dễ đi vào nhận thức của khách hàng, nói cách khác đưa thương hiệu vào
tâm trí khách hàng.Các doanh nghiệp định vị và quảng cáo thương hiệu bằng nhiều
phương pháp: thông qua quảng cáo, PR, giá cả hoặc bằng chính sản phẩm, với
mục tiêu chung là làm sao đưa thương hiệu vào tâm trí khách hàng. Trong đó có
thể nói hoạt động PR có tác động tích cực trong việc quảng bá thương hiệu với các
chương trình hành động được thiết kế và hoạch định tỉ mỉ, cẩn thận nhằm gặt hái
được sự thừa nhận của công chúng và thông tin đến họ những hoạt động cũng như
mục tiêu của doanh nghiệp.Vai trò chính của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải
các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi
truyền đi các thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách
hàng, hay cụ thể hơn là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện
với một thương hiệu.
1.2.4 Phân biệt quan hệ công chúng(PR) với các hình thức truyền thông khác
1.2.4.1. Quan hệ công chúng và quảng cáo
Quảng cáo sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng phải trả tiền để khách
hàng biết đến sản phẩm dịch vụ của doanh nghiệp; còn PR cũng sử dụng các
phương tiện truyền thông để cung cấp thông tin cho công chúng nhưng không chỉ
để công chúng biết đến sản phẩm, mà phải hiểu rõ hơn về sản phẩm, dịch vụ
doanh nghiệp cung cấp về tính năng, cách sử dụng, đặc điểm vượt trội hoặc về
doanh nghiệp như mục tiêu hoạt động, chiến lược kinh doanh, chiến lược phát
triển.
Quảng cáo có khuynh hướng tập trung vào khách hàng còn quan hệ công chúng
tập trung vào mọi đối tượng công chúng có thể quan trọng cho sự thành công của
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 9
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
tổ chức. Nét khác biệt cơ bản của PR với quảng cáo là “Người khác nói về doanh
nghiệp bạn” chứ không phải “bạn nói về bạn”.
1.2.4.2. Quan hệ công chúng và khuyến mãi
Khuyến mãi bao gồm các chiến lược ngắn hạn, thường ngay tại thời điểm bán
và cả trong Marketing trực tiếp, để giới thiệu hay làm mới lại sản phẩm, hoặc tăng
khối lượng hàng bán ra .
Quan hệ công chúng đôi khi bị nhầm lẫn với khuyến mãi. Điều này cũng có thể
do khuyến mãi cũng giúp nguời sản xuất và khách hàng gần nhau hơn. Nó là một
hình thức tiếp thị mang tính cá nhân nhiều hơn cách quảng cáo truyền thống trên
phương tiện truyền thông nhưng đồng thời nó cũng có những khía cạnh quan hệ
công chúng
1.2.4.3. Quan hệ công chúng và tuyên truyền
Tuyên truyền là một cách vận động để đạt được sự ủng hộ cho một ý kiến,
hành vi hay niềm tin. Tính chất của tuyên truyền là tập trung vào những vấn đề
tình cảm và lý trí. Đó là những đề tài mang tính lý trí, tri thức hay tình cảm như
vấn đề chính trị hay tôn giáo, những đề tài thường gây tranh cãi
Chiến dịch tuyên truyền có thể được sử dụng với nhiều lý do khác nhau. Như
vậy, tuyên truyền giống như quảng cáo, có khuynh hướng thiên lệch theo từng đề
tài; trong khi đó để thực hiện quan hệ công chúng tốt thì nên trình bày sự thật,
không thiên lệch hay không có sự tán dương. Nếu không, một bài báo sẽ bị nhà
biên tập bác bỏ vì nó là “một lời tâng bốc” được ngụy trang, có chủ đích quảng
cáo hay tuyên truyền. Đôi khi các nhà buôn bán sĩ và lẽ gọi quảng cáo là “tuyên
truyền thương mại”, nhưng đây là cách dùng từ sai lệch
1.2.4.4. Quan hệ công chúng và marketing
PR cũng hoàn toàn khác biệt với Marketing, đối tượng của Marketing chỉ là đối
tượng khách hàng của công ty bạn; trong khi đối tượng của PR rộng lớn hơn, đó là
công chúng, công chúng có thể đã là khách hàng, đang là khách hàng, sẽ là khách
hàng và mãi là khách hàng tiềm năng đối với ngân hàng bạn khi bạn sử dụng thành
công PR; hoạt động PR thực sự chuyên nghiệp sẽ tạo ra sự thân thiện từ phía công
chúng đối với doanh nghiệp bạn và đó chính là mục tiêu xây dựng thương hiệu của
các doanh nghiệp nói chung và công ty bạn nói riêng.
1.2.4.5. Quan hệ công chúng và dư luận
Dư luận là kết quả từ việc cung cấp thông tin . Kết quả dư luận tốt hay xấu
thường nằm ngoài tầm kiểm soát của chủ thể hay vấn đề liên quan. Dư luận tốt hay
xấu phụ thuộc vào hành vi và thông tin và như vậy cũng tương tự như quan hệ
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 10
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
công chúng, vì quan hệ công chúng liên quan nhiều đến hành vi của các cá nhân,
của các tổ chức, các sản phẩm và các dịch vụ.
1.3. Nội dung xây dựng quan hệ công chúng
1.3.1 Các tiền đề để xây dưng quan hệ công chúng(PR)
Đây là bước đầu tiên trong quá trình hoạch định,nhằm nhận diện những vấn đề
sẽ làm nền tảng cho chương trình PR. Nếu không nắm bắt được những vấn đề cốt
lõi, khó có thể tạo nên một chương trình PR đáng tin cậy và hiệu quả, đáp ứng
được những mục tiêu của doanh nghiệp.
Đối với mỗi chiến dịch hay chương trình, cần phải có sự phân tích kỹ lưỡng
môi trường vĩ mô, vi mô và những sự kiện trước mắt có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ
chức. Những người làm PR cần nắm bắt được những áp lực, những vấn đề và yêu
cầu bắt buộc có tác dụng hình thành nên hoàn cảnh, tác động đến thái độ và quyết
định của công chúng, từ đó mới có thể hình thành khung sườn cơ bản cho chương
trình PR.
1.3.1.1 Xác lập công chúng mục tiêu
Mỗi doanh nghiệp khác nhau đều có những nhóm công chúng khác nhau, và
điều quan trọng là xác định một cách chính xác các nhóm công chúng để hướng
đến một cách hiệu quả. Trong sự giới hạn về ngân sách, nguồn lực và sự lựa chọn
phương tiện truyền thông thích hợp, nếu nhóm công chúng quá đa dạng thì nên
hướng đến những nhóm mà doanh nghiệp thấy có khả năng và ảnh hưởng mạnh
đến mình nhất.
1.3.1.2 Xác định thông điệp
Tùy vào bản chất của từng chương trình cụ thể mà thông điệp cần triển khai sẽ
rất khác nhau. Những thông điệp này cần phải rõ ràng, súc tích, dễ hiểu. Thông
điệp thể hiện tính hiệu quả của hoạt động truyền thông, chúng chính là điểm tiếp
xúc giữa một tổ chức và công chúng. Thông điệp và cách chuyển tải thông điệp là
điểm khởi đầu của những thay đổi tư duy, thái độ, hành vi mà tổ chức mong muốn.
Về bản chất, thông điệp có thể mang tính khái quát, nó nói lên một thông tin
hay hình ảnh cụ thể mà tổ chức muốn quảng bá. Và một điều quan trọng nữa là các
thông điệp không được mâu thuẫn nhau vì mọi người có thể thuộc nhiều nhóm
công chúng khác nhau. Các thông điệp có thể có những sắc thái khác nhau, nhưng
tác động thúc đẩy chung của thông điệp phải tương hợp với nhau.
1.3.1.3 Xây dựng chiến lược
Chiến lược là cách thức để đạt được những mục tiêu đã đặt ra, là cách tiếp cận
tổng quát đối với một chương trình hay chiến dịch. Một chiến lược thích hợp sẽ
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 11
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
làm cho mọi việc có liên quan được triển khai một cách hiệu quả. Chiến lược rất
quan trọng vì nó sẽ tập trung các nỗ lực cần thiết, đạt được kết quả mong muốn và
hướng đến tương lai dài hạn. Đó là yếu tố điều phối, nguyên tắc hướng dẫn, là ý
tưởng lớn, là nguyên nhân sâu xa đằng sau các chiến thuật.
Chiến lược được xây dựng dựa trên cơ sở phân tích các thông tin đã thu thập
được. Nó là nền tảng để xây dựng các chiến thuât. Chiến lược có thể thúc đẩy
chuyển đổi từ vị trí hiện tại sang vị thế mong muốn.
1.3.1.4 Xây dựng chiến thuật
Chiến lược là cách thức đạt được mục tiêu đã vạch ra, còn chiến thuật là
những điều cụ thể sẽ triển khai để đạt được mục tiêu đó. Chiến thuật cần gắn kết
chặt chẽ với chiến lược. Khi xây dựng chiến thuật cần tuân thủ một số nguyên tắc
sau:
- Sử dụng chiến lược để định hướng cho quá trình thảo luận sáng tạo ý tưởng.
- Loại bỏ những hoạt động không hỗ trợ cho chiến lược.
- Liên kết mục tiêu với chiến lược, chiến lược với chiến thuật.
- Thử nghiệm các chiến thuật bất cứ khi nào có thể.
1.3.1.5 Xác định ngân sách và đánh giá hiệu quả PR
Ngân sách các chương trình PR gồm 3 loại cơ bản: nguồn nhân lực, chi phí
hoạt động, thiết bị.
- Nguồn nhân lực: Dù là kế hoạch PR do nội bộ hay bên ngoài thực hiện đều
phải trả công cho thời gian và chuyên môn của các cá nhân tham gia. Mức độ phân
bố nguồn nhân lực phụ thuộc vào hai yếu tố: qui mô và bản chất của chương trình
cần được triển khai.
- Chi phí hoạt động: Khi tính toán đến chi phí của các hoạt động cần phải tính
đến tính hiệu quả và hiệu năng của hoạt động. Những kỹ thuật hợp lí cần được lựa
chọn để chương trình đạt được hiệu quả cao.
- Thiết bị: Một chương trình hay chiến dịch không thể hoạt động hiệu quả trừ
phi có sự hỗ trợ của những loại thiết bị phù hợp.
Cũng như những hoạt động khác, chúng ta muốn biết xem liệu mình có thu được
giá trị nào từ khoản tiền đầu tư vào các hoạt động PR hay không. Hoạt động đánh
giá sẽ giúp ta trả lời câu hỏi này.
Sự đóng góp của hoạt động PR khó mà đo lường chính xác được vì nó
được tiến hành cùng với những hình thức truyền thông cổ động khác. Tuy nhiên,
người ta có thể đo lường hiệu quả của nó thông qua một số phương pháp sau:
- Thứ nhất: Cách đo lường hiệu quả PR dễ nhất là xem số lần xuất hiện trên
các phương tiện truyền thông.
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 12
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
- Thứ hai: Cách đo lường số lần xuất hiện này cũng chưa thỏa mãn lắm. Nó
không cho biết thực sự có bao nhiêu người đọc hoặc nghe bản tin đó và sau đó họ
nghĩ gì. Vì thế người ta đánh giá hiệu quả thông qua việc đo sự thay đổi trong
nhận thức của các công chúng được tạo nên từ chiến dịch PR.
- Thứ ba: Tác động trên doanh số và lợi nhuận, đây là cách đo hiệu quả
nhất nếu làm được.
1.3.1.6 Vận động hành lang (lobby)
Tóm lại, PR là những kỹ năng và chiến lược thực tiễn được vận dụng nâng
cao hình ảnh và thương hiệu của doanh nghiệp, tăng cường mối quan hệ với các
giới hữu quan và luôn chủ động đối phó với những tình huống khó khăn, khủng
hoảng. Phát triển và nâng cao hình ảnh và uy tín thương hiệu là hàng loạt các tác
nghiệp, các công việc và các biện pháp mà doanh nghiệp cần phải làm. Hoạt động
quan hệ công chúng chỉ là một trong số các tác nghiệp đó và là hoạt động mang
tính tổng hợp cao, có quan hệ rất mật thiết với các hoạt động khác. Do vậy để đạt
được các mục tiêu đề ra doanh nghiệp cần tiến hành các hoạt động quan hệ công
chúng một cách thường xuyên, có kế hoạch và gắn với hoạt động khác, với toàn bộ
kế hoạch truyền thông của doanh nghiệp.
Do vậy, với marketing, PR là một thành tố quan trọng và người đồng hành
không thể thiếu.
“Một thương hiệu tung ra mà không có hy vọng chiến thắng trên trận địa
PR thì thất bại đã có thể nhìn thấy”
1.3.2. Vai trò của PR trong xây dựng và quản bá thương hiệu.
Về cơ bản vai trò chính của PR là cầu nối giữa doanh nghiệp với các nhóm
công chúng bên trong và bên ngoài của doanh nghiệp. Nói cách khác PR giúp
doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến khách hàng và những nhóm công
chúng của họ.
Với nhóm công chúng đối nội, thông điệp này là những chỉ đạo, ý kiến, tầm
nhìn của lãnh đạo để chuyển tải đến nhân viên ngõ hầu đạt được tốt nhất các mục
tiêu đề ra cũng như xoa dịu các bất đồng trong doanh nghiệp (nếu có).
Với nhóm công chúng đối ngoại, các thông điệp này là nhằm giúp khách
hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương hiệu. Ví du: Dutch
Lady tổ chức một chương trình PR rộng rãi được quảng cáo khá rầm rộ mang chủ
đề “Đèn đom đóm”. Tương tự Unilever vận động chương trình “Áo trắng ngời
sáng tương lai” theo đó nhãn hàng Omo vận động mọi người gởi tặng đồng phục
không dùng nữa cho Omo để gởi tặng các bạn nũ sinh ở vùng sâu vàng xa….
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 13
Xây dựng chương trình PR cho trung tâm Điện thoại Di động CDMA( SFONE)
Cả hai chương trình này đều có tính từ thiện, phục vụ cho cộng đồng nên
tranh thủ được thiện cảm của công chúng với nhãn hiệu nói riêng và xây dựng
hình ảnh tập đoàn nói chung.
PR dễ dàng gây thiện cảm với công chúng nên đi sâu vào trong tâm trí
khách hàng và thương hiệu ngày càng được mở rộng hơn. Do PR ít mang tính
thương mại vì sử dụng các phương tiện trung gian như hoạt động tài trợ, bài viết
trên báo (tin, phóng sự)
"2/3 các vị giám đốc Marketing và Giám đốc nhãn hiệu ở Mỹ tin rằng PR
giữ vai trò quan trọng hơn quảng cáo trong việc xây dựng và quảng bá thương
hiệu" (nguồn Marketing report, 1999)
Trong bối cảnh thị trường hiện nay, hàng hoá, dịch vụ đa dạng phong phú,
người tiêu dùng gặp khó khǎn trong việc phân biệt, đánh giá sán phẩm. Mỗi doanh
nghiệp đều cố gắng tạo một phong cách, một hình ảnh, một ấn tượng, một uy tín
riêng cho sản phẩm của mình nhằm đem lại cho sản phẩm hình ảnh riêng, dễ đi
vào nhận thức của khách hàng, nói cách khác đưa thương hiệu vào tâm trí khách
hàng.
"Doanh nghiệp cần tập hợp các hoạt động nhằm tạo cho sản phẩm và
thương hiệu sản phẩm một vị trí xác định trên thi trường" (Philip.Kotler)
Các doanh nghiệp định vị và quảng cáo thương hiệu bằng nhiều phương
pháp: thông qua quảng cáo, PR, giá cả hoặc bằng chính sản phẩm, với mục tiêu
chung là làm sao đưa thương hiệu vào tâm trí khách hàng. Trong đó có thể nói
hoạt động PR có tác động tích cực trong việc quảng bá thương hiệu với các
chương trình hành động được thiết kế và hoạch định tỉ mỉ, cẩn thận nhằm gặt hái
được sự thừa nhận của công chúng và thông tin đến họ những hoạt động cũng như
mục tiêu của doanh nghiệp.
PR là một công cụ giao tiếp rất linh hoạt trong lĩnh vực giao tiếp
Marketing: bán hàng trực tiếp hoặc qua điện thoại, các hoạt động tài trợ, triển lãm.
PR hiện đang được ứng dụng rộng rãi bởi các tổ chức từ hoạt động phi lợi nhuận,
đến hoạt động kinh doanh thương mại, hội từ thiện, các tổ chức, đảng phái chính
trị , các doanh nghiệp, khu vui chơi giải trí, y tế
Vai trò chính của PR là giúp doanh nghiệp truyền tải các thông điệp đến
khách hàng và những nhóm công chúng quan trọng của họ. Khi truyền đi các
thông điệp này, PR giúp sản phẩm dễ đi vào nhận thức của khách hàng, hay cụ thể
hơn là giúp khách hàng dễ dàng liên tưởng tới mỗi khi đối diện với một thương
hiệu.
SVTH: Trần Bình Sơn Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét