Chủ Nhật, 16 tháng 2, 2014

Một số ý kiến về kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay

lời nói đầu
Ngày nay, nền kinh tế của n ớc ta có nhiều biến đổi to lớn. Cùng với sự
phát triển của nền kinh tế thì l ợng thông tin đ ợc phát ra từ nền kinh tế cũng
ngày càng phức tạp. Đặc biệt trong nền kinh tế thị tr ờng theo định h ớng xã hội
chủ nghĩa với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế và sự cạnh tranh ngày
càng quyết liệt thì để có đ ợc thông tin phục vụ cho những quyết định quản lý,
đầu t vốn của những ng ời sử dụng thông tin ngày một khó khăn.Bên cạnh đó,
nạn tham ô, tham nhũng bòn rút ngân sách của nhà n ớc cũng nh trong doanh
nghiệp bằng nhiều thủ đoạn khác nhau và ngày càng tinh vi hơn thì sự quản lý
của nhà n ớc đó là vai trò của kiểm tra và thanh tra nhà n ớc không còn phát huy
tác dụng đối với các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh. Trong khi đó nó lại
là đối t ợng quan tâm của nhiều ng ời trong nền kinh tế bao gồm cả nhà quản lý,
các nhà đầu t , ng ời lao động Xuất phát từ nhu cầu thực tế đó mà kiểm toán
độc lập đã xuất hiện ở n ớc ta vào năm 1991 với bằng chứng là sự ra đời của 2
công ty thực hiện dịch vụ kiểm toán đó là công ty kiểm toán Việt Nam
(VACO) và công ty dịch vụ t vấn tài chính kế toán và kiểm toán (AASC). Với
thời gian tồn tại còn ngắn ngủi song kiểm toán độc lập ở n ớc ta cũng đã đạt đ -
ợc những thành tựu b ớc đầu góp phần tạo cho môi tr ờng kinh tế của n ớc ta đ ợc
an toàn hơn. Tuy nhiên, vì nó là một khoa học mới ở n ớc ta vì vậy mà nó đòi
hỏi phải có thời gian để tự hoàn thiện dần. Do vậy mà trong những b ớc đi ban
đầu không tránh khỏi những sai sót vấp váp đòi hỏi phải có sự điều chỉnh dần
dần. Đây là vấn đề đ ợc để cập nhiều hiện nay, và rất cần thiết vì vậy mà tôi
chọn đề tài: Một số ý kiến về kiểm toán độc lập tại Việt Nam hiện nay làm
đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp lớp kê toán tr ởng của mình. Ph ơng pháp
nghiên cứu sử dùng trong chuyên đề này là ph ơng pháp vĩ mô, tiếp cận vấn đề
môt cách tổng quát. Để làm rõ đề tài này chuyên đề của tôi gồm 2 phần chính:
Phần 1: Những vấn đề lý luận chung về kiểm toán độc lập
Phần2: Thực trạng và một số ý kiến đối với hệ thống kiểm toán độc
lập ở n ớc ta
Phần 1:
những vấn đề lý luận
chung về kiểm toán độc lập
I.Khái quát chung về kiểm toán
1. Lịch sử hình thành kiểm toán
Trên thế giới, thuật ngữ kiểm toán đã có từ lâu, khi xuất hiện nhu cầu xác
định tính trung thực, độ tin cậy của thông tin trên báo cáo tài chính và thực
trạng tài sản của một chủ thể trong quan hệ kinh tế. Nh ng hoạt động kiểm toán
chuyên nghiệp mới chỉ xuất hiện cách đây khoảng 300 năm, khởi đầu do cuộc
Đại cách mạng công nghiệp. Do cuộc cách mạng này, đã có sự tách biệt giữa
chức năng sở hữu và chức năng quản lý, đồng thời làm xuất hiện khái niệm
chủ nhân và ng ời quản lý. Vì vậy, làm nảy sinh nhu cầu kiểm tra để phát hiện
các gian lận của ng ời quản lý và ng ời làm thuê. Đến năm 1844, n ớc Anh ban
hành luật công ty Cổ Phần- là luật công ty cổ phần đầu tiên trên thế giới, cùng
với đó là sự xuất hiện khái niệm kiểm toán viên. Từ đây, hình thức sơ khai về
ngành nghề kiểm toán bắt đầu xuất hiện và các hiệp hội kiểm toán chính thức
ra đời vào đầu thế kỉ 19. Kiểm toán có gốc từ Latinh Audit. Từ này có nguồn
gốc từ Latinh Audire nghĩa là nghe. Hình ảnh ban đầu của kiểm toán cổ
điển là việc kiểm tra đ ợc thực hiện bằng cách ng òi soạn thảo báo cáo đọc to
lên cho một bên độc lập nghe rồi nhận xét. Nếu kế toán có nhiệm vụ tổ chức
hệ thống thông tin phục vụ cho quyết định kinh tế của các đối t ợng có liên
quan thì kiểm toán có trách nhiệm kiểm tra, đánh giá, đảm bảo và nâng cao độ
tin cậy của các thông tin kế toán.
2.Khái niệm và bản chất của kế toán
a.Khái niệm:
Ngày nay, trên thế giới có nhiều loại kiểm toán khác nhau, nh ng có thể
hiểu một cách chung nhất về kiểm toán nh sau: Kiểm toán là quá trình các
chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kĩ năng nghiệp vụ thu thập và đánh
giá các bằng chứng về các thông tin có thể định l ợng của một đơn vị nhằm
mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với
các chuần mực đã xây dựng
Theo quan điểm hiện đại thì phạm vi của kiểm toán rất rộng, nó có thể
chia ra thành những lĩnh vực chủ yếu sau:
+ Đánh giá tính trung thực và hợp pháp của các tài liệu làm cơ sở
pháp lý cho việc giải quyết các mối quan hệ kinh tế và tạo niềm tin cho
những ng ời quan tâm đến tài liệu kế toán.
+Kiểm toán quy tắc h ớng vào việc đánh giá tình hình thực hiện
các chế độ, thể lệ, luật pháp của đơn vị đ ợc kiểm toán trong quá trình
hoạt động.
+Kiểm toán hiệu quả có đối t ợng trực tiếp là các yếu tố, các
nguồn lực trong từng loại hình nghiệp vụ kinh doanh. Kiểm toán loại
này giúp ích trực tiếp cho việc hoạch định các chính sách hay ph ơng h -
ớng hoạt động kinh doanh của đơn vị đ ợc kiểm toán.
+Kiểm toán hiệu năng đ ợc đặc biệt quan tâm ở khu vực công
cộng nơi mà lợi ích và hiệu quả không giữ nguyên ý nghĩa nh ở doanh
nghiệp, nơi mà năng lực quản lý cần đ ợc đánh giá toàn diện và th ờng
xuyên nhằm nâng cao hiệu năng quản lý của đơn vị đ ợc kiểm toán.
b.Bản chất của kiểm toán
Từ định nghĩa về kiểm toán cũng nh những quan điểm về kiểm
toán ta rút ra bản chất của kiểm toán nh sau:
Thứ nhất, kiểm toán là hoạt động độc lập, chức năng cơ bản của kiểm
toán là xác minh, thuyết phục để tạo niềm tin cho những ng ời quan tâm và
những kết luận kiểm toán cho dù những kết luận này có thể h ớng vào những
mục tiêu khác nhau nh tính trung thực của thông tin, tính quy tắc trong việc
thực hiện các nghiệp vụ Qua xác minh, kiểm toán viên bày tỏ ý kiến của
mình về những lĩnh vực t ơng ứng.
Thứ hai, kiểm toán phải thực hiện mọi hoạt động kiểm tra kiểm soát
những vấn đề liên quan đến thực trạng tài sản, các nghiệp vụ tài chính và sự
phản ánh của nó trên sổ sách kế toán cùng hiệu quả đạt đ ợc.Những công việc
này tự nó đã gắn chặt vào với nhau.
Thứ ba, nội dung trực tiếp của kiểm toán tr ớc hết và chủ yếu là thực
trạng hoạt động tài chính. Một phần của thực trạng này đ ợc phản ánh trên các
bản khai tài chình và những tài liệu kế toán nói chung nh hoá đơn báo cáo kết
quả kinh doanh, sổ ghi tổng hợp kế toán Tuy nhiên do giới hạn về trình độ kĩ
thuật xử lý thông tin kế toán, có những phần thông tin quan trong khác về hoạt
động ch a đ ợc phản ánh trên bất cứ tài liệu kế toán nào. Vì vậy để có thể xác
minh các hoạt động kiểm toán hình thành hai ph ơng pháp: Kiểm toán chứng từ
và kiểm toán ngoài chứng từ.
Thứ t , kiểm toán là một khoa học chuyên ngành nên hoạt động này phải
đ ợc thực hiện bởi những ng ời có trình độ nghiệp vụ chuyên sâu về kiểm toán.
Những ng ời này phải có đủ t cách về trình độ và phải có cả phẩm chất đạo đức
nghề nghiệp.
Thứ năm, hoạt động kiểm toán phải tuân theo khuôn khổ của pháp luật
tức là ng ời làm kiểm toán phải là ng ời đ ợc pháp luật cho phép hành nghề và
việc kiểm toán của kiểm toán viên phải phù hợp với những quy định của pháp
luật.
3.Chức năng và ý nghĩa của kiểm toán
a.Chức năng
Để hiểu sâu hơn về kiểm toán chứng ta xem xét đến chức năng của kiểm
toán, từ bản chất của kiểm toán ta co thể thấy hai chức cơ bản của kiểm toán là
xác minh và bày tỏ ý kiến .
Chức năng xác minh : thực hiện này kiểm toán viên cần khẳng định sự
trung thực của tài liệu, tính pháp lý của việc thực hiện các nghiệp vụ hay là
việc lập các bản khai tài chính. Chức năng này là chức năng cơ bản nhất nó
gắn liền với sự ra đời và phát triển của hoạt động kiểm toán. Bản thân chức
năng này cũng không ngừng phát triển và đ ợc thực hiện tuỳ đối t ợng cụ thể của
kiểm toán. Lúc đầu nó chỉ là chứng thựccác thông tin nh ng ngày nay do
quan hệ kinh tế ngày càng phức tạp và yêu cầu pháp lý ngày càng cao nên việc
xác minh cần tập trung vào hai mặt: Tính trung thực của các con số và tính hợp
thức của các biểu mẫu phản ánh tình hình tài chính. Trong chức năng xác minh
của kiểm toán, một trong những vấn đề đặt ra rất sôi nổi hiện nay là phát hiện
gian lận và vi phạm trong tài chính. Đó là sự khác biệt giữa các chủ thể khác
nhau về trách nhiệm phát hiện sai sót trong hoạt động kiểm toán của kiểm toán
viên. Đối với ng ời quan tâm đến thông tin thì họ cho rằng kiểm toán viên phải
là ng ời phát hiện tất cả các sai sót. Trong khi đó với những đơn vị đ ợc kiểm
toán thì họ yêu cầu sao cho với mức chi phí thấp nhất mà đạt đ ợc kết quả tốt
nhất. Còn đối với kiểm toán viên, ng ời trực tiếp thực hiện cuộc kiểm toán thì
cho rằng kiểm toán viên chỉ có trách nhiệm phát hiện những sai sót trọng yếu
còn việc phát hiện gian lận là trách nhiêm thuộc nội bộ của đơn vị đ ợc kiểm
toán. Nh ng điều quan trọng là kiểm toán phải tạo đ ợc niềm tin đối với những
ng ời quan tâm đến thông tin, do vậy để đảm bảo giữa chi phí và kết quả thu đ -
ợc kiểm toán viên cần phát hiện đ ợc những sai sót và gian lận trọng yếu.
Chức năng bày tỏ ý kiến: Chức năng này đ ợc hiểu là kết luận về chất l -
ợng thông tin và cả pháp lý của đối t ợng đ ợc kiểm toán.Tuy nhiên đối với mỗi
khách thể kiểm toán, mỗi loại kiểm toán thì chức năng này lại đ ợc thể hiện
khác nhau
b.Y nghĩa của kiểm toán
Qua tìm hiểu về bản chất và chức năng cơ bản của kiểm toán chúng ta
đã thấy tính tất yếu cho sự ra đời của kiểm toán.Nh ng mà ý nghĩa của kiểm
toán mang lại là gì mà nó lại đ ợc những ng ời quan tâm đến thông tin tin t ởng.
Đối với mỗi đối t ợng kiểm toán lại có một ý nghĩa riêng:
-Thứ nhất: Đối với ng ời quan tâm đến thông tin, kiểm toán mang lại
niềm tin cho họ. Trong những ng ời quan tâm đến thông tin bao gồm cơ quan
quản lý nhà n ớc, các nhà đầu t , các nhà quản lý, khách hàng và ng ời lao
động
+Đối với cơ quan quản lý nhà n ớc cần có thông tin để thực hiện
điều tiết vĩ mô nền kinh tế bằng hệ thống pháp luật hay chính sách kinh
tế nói chung và các thành phần kinh tế. Đặc biệt trong nền kinh tế nhiều
thành phần thì Nhà n ớc không thể trực tiếp kiểm tra giám sát các thành
phần kinh tế ngoài quốc doanh vì vậy cơ quan quản lý cần có thông tin
chính xác từ kiểm toán độc lập.
+Đối với các nhà đầu t , cần có thông tin tin cậy để tr ớc hết có h -
ớng đầu t đúng đắn, sau đó điều hành sử dụng vốn đầu t cũng nh trong
việc phân phối lợi nhuận và kết quả kinh doanh.
+Các nhà quản trị doanh nghiệp và các nhà quản lý khác cần
thông tin trung thực không chỉ trên các bản khai tài chính mà còn thông
tin cụ thể về tài chính, về hiệu quả và hiệu năng của mỗi bộ phận để có
những quyết định trong mọi giai đoạn quản lý kể cả tiếp nhận vốn liếng,
chỉ đạo và điều chỉnh các hoạt động kinh doanh và hoạt động quản
lý những thông tin đó chỉ có đ ợc qua hoạt động kiểm toán khoa học.
+Ng ời lao động cũng cần thông tin đáng tin cậy vệ kết quả kinh
doanh, về ăn chia phân phối, về thực hiện chính sách tiền l ơng và bảo
hiểm Nhu cầu đó chỉ có thể đáp ứng thông qua hệ thống kiểm toán
hoàn chỉnh.
+Khách hàng nhà cung cấp và những nhà quan tâm khác cung
cần hiểu rõ thực chất về kinh doanh và tài chính của các đơn vị đ ợc
kiểm toán về nhiều mặt: Số l ợng và chất l ợng của sản phẩm hàng hoá,
có cấu tài sản và khả năng thanh toán, hiệu năng và hiệu quả các bộ
phận cung ứng, tiêu thụ hoặc sản xuất ở đơn vị đ ợc kiểm toán.
Thứ hai, kiểm toán h ớng dẫn nghiệp vụ và củng cố nề nếp hoạt động tài
chính bao gồm nhiều mối quan hệ đa dạng luôn biến đổi và đ ợc cấu thành bởi
hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để h ớng nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết tốt
các mối quan hệ trên, không chỉ cần có định h ớng đúng và thực hiện tốt mà
còn cần th ờng xuyên soát xét việc thực hiện để h ớng các nghiệp vụ vào đúng
quỹ đạo mong muốn. Hơn nữa, chính định h ớng và tổ chức thực hiện cũng chỉ
đ ợc thực hiện tốt trên cơ sở những bài học từ soát xét và uốn nắn th ờng xuyên
những lệch lạc trong quá trình thực hiện. Điều này chỉ có thể thực hiện thông
qua hệ thống kiểm toán.
Thứ ba, kiểm toán góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý,
điều này là rõ ràng vì kiểm toán không chỉ xác minh tính trung thực và độ tin
cậy của thông tin mà còn t vấn vế quản lý. Có thể thấy rõ chức năng này đối
với kiểm toán hiệu quả và kiểm toán hiệu năng quản lý.
Tóm lại với những ý nghĩa mà kiểm toán mang lại đã khẳng định sự tồn
tại của kiểm toán trong nền kinh tế là một tất yếu và cũng chứng tỏ rằng nó sẽ
luôn phát triển trong nền kinh tế.
II.Kiểm toán độc lập
1.Khái niệm kiểm toán độc lập và hoạt động của kiểm toán độc lập
a.Khái niệm;
Nếu phân loại kiểm toán theo chủ thể kiểm toán thì có 3 loại đó là:
Kiểm toán nhà n ớc, Kiểm toán nội bộ và kiểm toán độc lập
Trong đó Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán do các kiểm toán viên
chuyên nghiệp thuộc các công ty kiểm toán tiến hành.
b.Hoạt động của kiểm toán độc lập:
Kiểm toán độc lập tiến hành theo lời mời của các đơn vị kiểm toán có
nhu cầu kiểm toán không phân biệt chức năng nhiệm vụ của đơn vị, tổ chức
hoạt động của đơn vị, kiểm toán độc lập là hoạt động dịch vụ đ ợc pháp luật
thừa nhận và bảo hộ. Kiểm toán độc lập tiến hành các cuộc kiểm toán theo lời
mời của đơn vị có nhu cầu và 2 bên phải kí hợp đồng kiểm toán. Doanh nghiệp
đ ợc kiểm toán phải trả tiền chi phí kiểm toán và ghi vào chi phí quản lý doanh
nghiệp, công ty kiểm toán thu tiền dịch vụ kiểm toán ghi vào doanh thu cung
cấp dịch vụ.
2.Sự cần thiết khách quan của hoạt động kiểm toán độc lập.
Hoạt động Kiểm toán độc lập cần thiết khách quan xuất phát từ các luận
điểm sau:
Thứ nhất : Luận điểm xuất phát từ lợi ích của ng ời sử dụng Báo cáo tài
chính(ng ời sử dụng thông tin)
Trong nền kinh tế thị tr ờng, các Báo cáo tài chính hàng năm( Bảng cân
đối kế toán, Báo cáo l u chuyển tiền tệ, Báo cáo kết quả kinh doanh )do các
doanh nghiệp lập ra là đối t ợng quan tâm của nhiều ng ời nh : các chủ doanh
nghiệp, các cổ đông, các doanh nghiệp bạn, các ngân hàng, chủ đầu t , các cơ
quan quản lý cũng nh công chúng trong xã hội nói chung Tuy mỗi đối t ợng
quan tâm đến Báo cáo tài chính của doanh nghiệp ở mỗi góc độ và mục đích
khác nhau nh : nhà đầu t xem xét Báo cáo tài chính để có kế hoạch đầu t cũng
nh việc h ởng lợi nhuận từ hoạt động đầu t của mình: ngân hàng xem xét Báo
cáo tài chính để có chính sách tín dụng phù hợp với doanh nghiệp; cơ quan
quản lý Nhà n ớc quan tâm đến Báo cáo tài chính để xem xét xem doanh
nghiệp có thực hiện đúng các chính sách, chế độ quy định hay không ,nh ng
tất cả đều cần có một Báo cáo tài chính có độ tin cậy cao, hợp lý và trung
thực.Những thông tin tài chính không trung thực sẽ dẫn đến quyết định không
thích hợp cho họ. Trên thực tế đôi khi các thông tin trên Báo cáo tài chính có
những rủi ro sai lệch lớn. Khi các nghiệp vụ kinh tế ngày càng phức tạp và với
số l ợng lớn thì các rủi ro từ các thông tin kém tin cậy mang lại ngày càng tăng
lên.Có rất nhiều lý do dẫn đến khả năng rủi ro của các thông tin nh : sự cách trở
của thông tin, thành kiến và động cơ của ng ời cung cấp Để giảm thiểu mức
độ rủi ro từ các thông tin kém tin cậy, ng ời ta đã sử dụng nhiều biện pháp khác
nhau. Có thể, tự ng ời sử dụng thông tin sẽ kiểm tra tính trung thực của các
thông tin nh tự các cơ quan nhà n ớc kiểm tra thông qua quyết định của Báo cáo
tài chính của các doanh nghiệp. Thực tế cho thấy cách thức này không mang
lại hiệu quả do các thông tin kế toán có tính quy mô và mức độ tổng hợp cao
nên dẫn đến việc kiểm tra đó không kinh tế và khó thực hiện. Hoặc có thể, có
một sự thoả hiệp giữa ng ời sử dụng thông tin với ng ời cung cấp thông tin bằng
một sự ràng buộc pháp lý, tuy nhiên cách này thông th ờng lại mang đến cho
ng ời sử dụng thông tin những thiệt hại nhất định từ lý do bất th ờng nh phá sản,
vỡ nợ Một cách thức hữu hiệu đã thực hiện và ngày càng phát huy tác dụng
đặc biệt trong nền kinh tế thị tr ờng đó là cần có một bên thứ ba, độc lập và
khách quan, có kiến thức về nghề nghiệp, uy tín và trách nhiệm pháp lý kiểm
tra, xem xét và đ a ra kết luận là các Báo cáo tài chính có đ ợc lập phù hợp với
các nguyên tắc, chuẩn mực và ph ơng pháp kế toán hay không, có phản ánh
trung thực và tình hình tài chính cua doanh nghiệp hay không. Đó chính là
công việc của Kiểm toán viên độc lập thuộc các công ty kiểm toán chuyên
nghiêp. Cách làm này có tính hiệu quả và tính kinh tế vì công việc kiểm toán
đ ợc các kiểm toán viên có chuyên môn, có tính độc lập tiến hành khách quan
và vô t thay cho rất nhiều ng ời sử dụng thông tin. Trên thế giới, luật pháp của
nhiều n ớc quy định rằng, chỉ có những Báo cáo tài chính đã đ ợc xem xét và có
chữ kí xác nhận của kiểm toán viên mới đ ợc coi là hợp pháp để làm cơ sở cho
nhà n ớc tính thuế cũng nh các bên quan tâm giải quyết các mối quan hệ kinh
tế khác đối với các doanh nghiệp.
Thứ hai: Luận điểm xét từ lợi ích của ng ời quản lý doanh nghiêp.Luận
điểm này dựa theo Lý thuyết uỷ nhiệmLý thuyết này cho rằng: Kiểm toán là
một ph ơng thức bảo hiểm cho ng ời quản lý doanh nghiệp. Do đó những ng ời
quản lý doanh nghiêp chấp nhận các cuộc kiểm toán một cách tự nguyện, vì
lúc đó quyền lợi của ng ời quản lý đ ợc nâng cao.Quan điểm kiểm toán là một
ph ơng thức bảo hiểm cho cho ng ời quản lý doanh nghiệp xuất phát từ nguyên
nhân trên thế giới ngày càng có nhiều vụ kiện xảy ra.
Thứ ba: Luận điểm xuất phát từ lợi ích xã hội. Luận điểm này xuất phát
từ luận điểm Trách nhiệm báo cáođ ợc tác giả Shaw đ a ra. Theo cả nghĩa hẹp
và nghĩa rộng. Theo ông với nghĩa hẹp, trách nhiệm báo cáo xuất phát từ nghĩa
vụ của ng ời quản lý đối với chủ nhân; còn với nghĩa rộng, trách nhiệm báo cáo
đó không chỉ đối với chủ nhân mà còn đối với các bên liên quan trong xã hội
đó là bên thứ ba. Một Báo cáo tài chính của doanh nghiệp rất đ ợc nhiều bên
quan tâm, đó có thể là chủ nhân của doanh nghiệp; là cơ quan quản lý thuế, tài
chính, thống kê; là bên thứ 3 nh ngân hàng, nhà đầu t , ng ời làm công và xã hội.
Trong điều kiện hiện nay, Báo cáo tài chính nếu ch a đ ợc kiểm toán thì sẽ
không đủ tính thuyết phục đối với các bên quan tâm; ng ợc lại, nếu Báo cáo tài
chính đã đ ợc kiểm toán do một bên thứ 3 độc lập, khách quan, công minh,
chính trực, chuyên nghiệp(Kiểm toán độc lập) và đ ợc kiểm toàn viên độc lập
xác nhận thì sẽ có đầy đủ căn cứ cho các bên quan tâm sử dụng thông tin trên
Báo cáo tài chính. Nh vậy hoạt động kiểm toán đã mang lại không ít lợi ích
cho xã hội thông qua các hoạt động dịch vụ kiểm toán và t vấn tài chính kế
toàn, các công ty kiểm toán đã góp phần phổ cập cơ chế chính sách kinh tế tài
chính, ngăn ngừa lãng phí, tham nhũng, phục vụ đắc lực cho công tác quản lý,
điều hành kinh tế tài chính của nhà n ớc nói chung và hoạt động kinh doanh
của các doanh nghiệp nói riêng. Đặc biệt đối với kiểm toán Báo cáo tài chính,
Kiểm toán độc lập đã góp phần giúp các doanh nghiệp, các dự án quốc tế, các
đơn vị hành chính sự nghiệp nắm bắt đ ợc kịp thời đầy đủ và tuân thủ đ ờng lối
chính sách kinh tế tài chính loại bỏ đ ợc chi phí bất hợp lý, tạo lập đ ợc những
thông tin tin cậy, từng b ớc đ a công tác quản lý tài chinh-kế toán trong các
doanh nghiệp vào nề nếp. Hoạt động kiểm toán độc lập đã tạo lập đ ợc vị trí
trong nền kinh tế thị tr ờng, góp phần quan trọng trong việc lành mạnh hoá môi
tr ờng đầu t và nền tài chính quốc gia.
Tóm lại, hoạt động kiểm toán độc lập là nhu cầu cần thiết tr ớc hết vì lợi
ích của bản thân doanh nghiệp của các nhà đầu t trong và ngoài n ớc, lợi ích
của chủ sở hữu vốn, các chủ nợ; lợi ích và yêu cầu của nhà n ớc của xã hội. Ng -
ời sử dụng kết quả kiểm toán phải đ ợc đảm bảo rằng những thông tin họ đ ợc
cung cấp là trung thực khách quan có độ tin cậy cao để làm căn cứ cho các
quyết định kinh tế hoặc thực thi trách nhiệm quản lý giám sát của mình. Chính
vì xuất phát từ lợi ích thiết yếu của hoạt động kiểm toán độc lập, hoà mình
trong xu thế mở cửa và hội nhập với các n ớc trên thế giới, trong 10 năm qua
Đảng và nhà n ớc ta rất quan tâm đến việc phát triển ngành kiểm toán độc lập
đã tạo mọi điều kiện để kiểm toán độc lập tại Việt Nam không ngừng phát
triển và ngày lớn mạnh.
2.Bản chất xã hội của kiểm toán độc lập
Thực chất của kiểm toán độc lập là loại hình dịch vụ đ ợc thực hiện trên cơ
sở tự nguyện và theo thoả thuận của tổ chức kiểm toán độc lập với các đơn vị
đ ợc kiểm toán. Vì đ ợc pháp luật thừa nhận, bảo hộ và hoạt động theo một cơ
chế rất chặt chẽ nên kiểm toán độc lập có tính pháp lý rất cao. Bản chất của
kiểm toán độc lập đ ợc thể hiện:
- Kiểm toán độc lập là một ph ơng thức đảm bảo ở mức độ nhất định độ
tin cậy của thông tin và giám sát hoạt động của các doanh nghiệp, các
đơn vị để bảo vệ quyền lợi chung của các bên liên quan trong nền kinh
tế thị tr ờng và thông tin là cơ sở để đ a ra các quyết định kinh tế.
- Kiểm toán độc lập không phải đảm bảo 100% mức độ tin cậy mà chỉ ở
mức độ trọng yếu, các vấn đề chính nhất định. Trách nhiệm của kiểm
toán viên là xác nhận Báo cáo tài chính trung thực và hợp lý, tức là
không sai phạm tính trọng yếu. Nghĩa là, trong kiểm toán có thể chấp
nhận những sai phạm không mang tính trọng yếu.
Bản chất xã hội của kiểm toán độc lập đ ợc thể hiện rõ trong quan hệ của
quy định kiểm toán. Nếu nh tr ớc đây, đó là quan hệ giữa: Chủ nhân-Kiểm toán
viên- Ng ời quản lý, thì bây giờ chuyển sang quan hệ giữa: Xã hội (Các nhà đầu
t )-Kiểm toán viên- Ng ời quản lý. Thông tin trên Báo cáo kiểm toán của kiểm
toán độc lập không chỉ còn cần thiết đối với chủ nhân doanh nghiệp, mà còn
đối với các bên liên quan trong xã hội. Nhà đầu t căn cứ vào thông tin của
kiểm toán độc lập để ra quyết định đầu t , bạn hàng lựa chọn thông tin của
kiểm toán độc lập để quyết định trong quan hệ hợp tác kinh doanh; Nhà n ớc
căn cứ vào thông tin của kiểm toán độc lập để xem xét xem hoạt động của
doanh nghiệp nh thế nào, có chấp hành nghiêm chỉnh các qui định của pháp
luật hay không Chính vì vậy mà hiện nay trên thế giới đã xuất hiện khái niệm
kế toán viên công chứng-CPAđể chỉ những công việc của kiểm toán viên
độc lập. Khái niệm này ra đời một lần nữa càng thể hiện rõ hơn bản chất xã hội
của kiểm toán viên độc lập. Hai từ công chứng có thể nói là: trách nhiệm
công việc và nghề nghiệp của kiểm toán viên độc lập không chỉ dừng lại đối
với khách hàng - đơn vị đ ợc kiểm toán, mà hơn nữa là đối với toàn xã hội.
Ngoài ra kiểm toán độc lập còn đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng
quan hệ đối ngoại, trợ giúp t vấn cho ng ời n ớc ngoài và tổ chức quốc tế biết về
pháp luật chính sách tài chính- kế toán của Việt Nam hoặc giúp ng ời Việt Nam
hiểu biêt thông lệ, chuẩn mực quốc tế. Đó là quá trình làm rút ngắn tiến trình
mở cửa, hội nhập kinh tế của Việt Nam nói chung.
Phần 2
thực trạng và một số giải
pháp cho kiểm toán độc lập ở n -
ớc ta hiện nay
I.Thực trạng kiểm toán độc lập ở n ớc ta
Từ nhu cầu của nền kinh tế n ớc ta trong thời kì đổi mới, kiểm toán độc
lập đã có mặt chính thức ở n ớc ta vào năm 1991 theo giấy phép số 957/PPLT
của thủ t ớng chính phủ và bộ tài chính đã kí quyết định thành lập hai công ty :
Công ty kiểm toán Việt Nam với tên giao dịch là VACO( quyết định số165-
TC/QĐ/TCCB). Với c ơng vị là các công ty đầu ngành VACO và AASC đã
đóng góp nhiều công sức không chỉ phát triển công ty, mở rộng địa bàn kiểm
toán mà cả trong việc cộng tác với các công ty kiểm toán n ớc ngoài phát triển
sự nghiệp kiểm toán Việt Nam. Hiện nay, theo số liệu thông kê đến nay n ớc ta
đã có gần 50 công ty kiểm toán thuộc các thành phần kinh tế khác nhau với
các loại hình doanh nghiệp khác nhau( Nhà n ớc,cổ phần, TNHH ).Đặc biệt
hiện nay ở n ớc ta có mặt của các công ty kiểm toán lớn trên thế giới nh công ty
ERNST and YOUNG Việt Nam(E and Y),KPMG peat Marwich Việt
Nam,Price Waterhouse Việt Nam(PW),công ty liên doanh là công ty Coopers
và Lybrand AISC Tổng số nhân viên chuyên nghiệp làm vịêc trong các công
ty kiểm toán là hơn 1800 ng ờ,trong đó có hơn 500 ng ời có chứng chỉ kiểm
toán viên do Bộ tài chính cấp.Tổng doanh thu cung cấp dịch vụ kiểm toán b ớc
đầu đã đ ợc khách hàng tin t ởng và ngày càng có uy tín.Tuy vậy,trên thực tế sự
phát triển của hoạt động kiểm toán hiện nay còn nhiều bất cập,gây trở ngại
không ít đối với quá trình hội nhập quốc tế và khu vực.Trình độ,năng lực,kinh
nghiệm hành nghề và năng lực quản lý của nhiều công ty kiểm toán còn hạn
chế,các loại dịch vụ còn đơn điệu, chủa đủ sức cạnh tranh với các công ty quốc
tế, tính cạnh tranh không lành mạnh giữa các công ty trong n ớc để tranh thủ
khách hàng thông qua việc giảm giá phí vẫn còn tồn tại.Chất l ợng dịch vụ ch a
thật sự đáp ứng đ ợc yêu cầu của thực tế dặt ra. Nh trong những năm gần đây
với việc mở sàn giao dịch chứng khoán nh ng rất nhiều công ty niêm yết cổ
phiếu trên sàn có kết quả thông báo kinh doanh song thực chất thì có thể bị lỗ
hoặc có lãi rất ít tuy nhiên sau nhiều lần kiểm toán mới có thể đ a ra đ ợc kết
luận. Bên cạnh đó, nhận thức của xã hội về dịch vụ kiểm toán còn hạn chế,
khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoạt động dịch vụ kiểm toán tuy đã có nh ng ch a
đồng bộ và ch a đầy đủ . Các tổ chức nghề nghiệp ch a đủ khả năng đảm nhận
việc tổ chức và h ớng dẫn chuyên môn Đặc biệt hiện nay có khuynh h ớng một
số công ty kiểm toán chiều theo ý của khách hàng, do thiếu các kiểm toán
viên đ ợc đào tạo một cách cơ bản và có đủ bản lính cần thiết, nên để xảy ra
hiện t ợng bỏ qua sai sót cần điều chỉnh, thay đổi ý kiến của kiểm toán theo ý
kiến của khách hàng, mặt khác do ch a có đ ợc một quy trình soát xét file hồ sơ
còn lỏng lẻo, không quan tâm hoặc quan tâm rất ít tới việc đào tạo nhân viên
dẫn đến chất l ợng của dịch vụ kiểm toán không đ ợc đảm bảo, tính độc lập của
kiểm toán đã bị ảnh h ởng, đôi khi vi phạm đến đạo đức nghề nghiệp.
II.Một số ý kiến nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm toán độc lập
ở n ớc ta
Tr ớc thực trạng đó, việc tìm ra các giải pháp hữu hiệu phát triển dịch vụ
kiểm toán ở n ớc ta là một tất yếu khách quan, là yêu cầu bức xúc nhằm đảm
bảo nâng cao chất l ợng dịch vụ đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế thế giới và
khu vực. Để nâng cao chất l ợng của kiểm toán ở n ớc ta cần thực hiện một số h -
ớng sau trong thời gian tới. Đó là:
+ Tăng c ờng cả về só l ợng và chất l ợng hoạt động dịch vụ kiểm
toán trên cơ sở tuân thủ pháp luật của nhà n ớc, phù hợp với thông lệ
quốc tế về kiểm toán đ ợc thừa nhận đồng thời phù hợp với chuẩn mực
kế toán Việt Nam.
+ Nâng cao sức cạnh tranh của các tổ chức, cá chức làm dịch vụ
kiểm toán, đảm bảo sự phát triển của dịch vụ này thực sự trở thành công
cụ đắc lực giúp cho nhà n ớc điều hành và quản lý vĩ mô nền kinh tế,
đồng thời giúp cho doanh nghiệp sử dụng tốt các nguồn lực để phát
triển.
+Từng b ớc mở cửa và hội nhập thị tr ờng dịch vụ kiểm toán quốc
tế và khu vực.
* Để thực hiện các định h ớng trên cần thực hiện một số giải pháp cơ bản
sau, để phát triển dịch vụ kiểm toán trong thời gian tới.
- Một là, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về kiểm toán. Hiện nay văn bản
có giá trị pháp lý cao nhất trong lĩnh vực kiểm toán là dựa vào luật kế
toán có hiệu lực ngày 1/1/2004. Luật này gồm các vấn đề liên quan đến
công tác kế toán, làm cơ sở quan trọng cho việc cung cấp dịch vụ kế
toán đồng thời đó cũng là cơ sở để cho hoạt động kiểm toán. Tuy vây,
để kiểm toán có thể phát triển nh một ngành độc lập thì cần phải có một
hệ thống pháp luật riêng trong thời gian tới. Luật kiểm toán này phải
phù hợp với luật kế toán và phù hợp với hệ thống kiểm toán quốc tế và
khu vực đ ợc chấp nhận rộng rãi.
- Thứ hai , mở rộng diện kiểm toán bắt buộc,khuyến khích các doanh
nghiệp, tổ chức kinh tế tăng c ờng nhu cầu cung cấp thông tin tài chính,
kế toán thông qua dịch vụ kiểm toán.Thực hiện giải pháp này Nhà n ớc
cần có những qui định bắt buộc các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế thuộc
mọi thành phần kinh tế phải đ ợc kiểm toán thông qua hợp đồng kiểm
toán. Giá trị của Báo cáo tài chính chỉ đ ợc thừa nhận sau khi kiểm toán (
Tr ớc mắt, các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có vốn điều lệ từ 5 tỉ đồng
trở lên). Mặt khác, cần tăng c ờng xử lý các thông tin tài chính, kế toán
Thông qua các dịch vụ t vấn của các tổ chức, cá nhân làm dịch vụ kiểm
toán đ ợc pháp luật thừa nhận.
- Thứ ba, có b ớc đi thích hợp tăng về số l ợng và đa dạng hoá các loại
hình dịch vụ kiểm toán. Trên cơ sở tổng kết, đánh giá thực trạng hoạt
động dịch vụ kiểm toán trong những năm qua, đúc rút kinh nghiệm và
xây dựng lộ trình cho việc thành lập các công ty dịch vụ kiểm toán. Chú
trọng mở rộng loại hình công ty nh công ty hợp danh, công ty có vốn
đầu t n ớc ngoài bảo đảm việc thành lập công ty đơn giản, đúng thủ tục
pháp luật, tạo môi tr ờng cạnh tranh lành mạnh giữa các công ty. Khuyến
khích các công ty mở rộng quy mô, nâng cao chất l ợng dịch vụ, đa dạng
hoá sản phẩm.
- Thứ t , đổi mới ch ơng trình đào tạo và bồi d ỡng chuyên môn về kiểm
toán. Để thực hiện giải pháp này, tr ớc hết đối với các tr ờng đại học, học
viện, trung học chuyên nghiệp thuộc khối kinh tế, nơi đào tạo căn bản,
b ớc đầu làm nền tảng cho việc tạo lập nghề kiểm toán cung cấp nguồn
nhân lực chuyên môn cho các công ty kiểm toán cần phải có sự đổi mới
căn bản nội dung, ch ơng trình theo h ớng gắn kết giữa lý thuyết và thực
tiễn. Kết cấu các khối kiến thức cơ sở ngành phải phủ hợp với yêu cầu
nâng cao chất l ợng đào tạo nghề kiểm toán. Cần tăng c ờng các kiến thức
về pháp luật nói chung và luật chuyên ngành nói riêng. Trình độ kiến
thức kiểm toán và đạo đức nghề nghiệp đối với sinh viên ngay từ khí
ngồi trên ghế nhà tr ờng phải tăng c ơng về khả năng thích ứng với thực
tiễn. Đối với các công ty kiểm toán hàng năm cần có kế hoạch bồi d ỡng,
cập nhật kiến thức cho đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp. Đối với hội
nghề nghiệp và các cơ quan quản lý nhà n ớc cần có sự phân định trách
nhiệm rõ ràng trong công tác quản lý và h ớng dẫn chuyên môn cũng nh
xây các chính sách , chế độ và các tiêu chuẩn tuyển dụng, thi tuyển, cấp
chứng chỉ hành nghề. Hàng năm phải có sự đánh gía chất l ợng nhân

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét