Trang 5
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu và hệ thống hoá những lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh
tranh của NHTM và tính tất yếu của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế nói chung
và của NHTM nói riêng.
Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động và năng lực cạnh tranh, điểm
mạnh, điểm yếu, những cơ hội và thách thức của NHTMCP Á Châu trong hiện tại
và tương lai.
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của ACB trong quá
trình hội nhập quốc tế.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu năng lực nội tại của ngân hàng thương mại cổ phần Á
Châu trong mối quan hệ tương tác với toàn bộ hệ thống NHTM Việt Nam nói
chung và hệ thống NHTMCP nói riêng.
Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên tác giả chỉ khảo sát mẫu điều tra
ở một số chi nhánh của ACB trên phạm vi TP.HCM. Mặt khác, lónh vực cạnh tranh
và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, ngân hàng rất rộng và trong khuôn khổ
có hạn của luận văn nên đề tài chỉ có thể nghiên cứu trong phạm vi : các nhân tố
cấu thành nên năng lực cạnh tranh nội tại của NHTMCP Á Châu và thời gian phân
tích là giai đoạn 2001 – 2006.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp
như :
- Phương pháp nghiên cứu đònh tính được sử dụng trong giai đoạn nghiên cứu
khám phá để nghiên cứu các tài liệu thứ cấp và thảo luận với các chuyên gia trong
lónh vực ngân hàng để xây dựng thang đo sơ bộ về năng lực cạnh tranh của một
ngân hàng.
Trang 6
- Phương pháp đònh lượng được sử dụng để kiểm đònh thang đo và đánh giá
về năng lực cạnh tranh của ACB.
- Phương pháp phân tích dữ liệu thông qua phương pháp thống kê, phân tích
các dữ liệu thứ cấp và sử dụng phần mềm SPSS 11.5 để phân tích số liệu sơ cấp
qua bảng câu hỏi điều tra.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, luận
văn gồm 91 trang. Nội dung của luận văn bao gồm 3 chương như sau :
Chương 1 : Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu về năng lực cạnh tranh
của ngân hàng thương mại
Chương 2 : Thực trạng năng lực cạnh tranh của NHTMCP Á Châu trong quá
trình hội nhập quốc tế
Chương 3 : Một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của
NHTMCP Á Châu trong quá trình hội nhập quốc tế.
Trang 7
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. KHÁI NIỆM NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ CÁC YẾU TỐ ẢNH
HƯỞNG ĐẾN NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA MỘT DOANH NGHIỆP.
1.1.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh
Thuật ngữ “năng lực cạnh tranh” là một khái niệm được sử dụng để đánh giá
cho tất cả các doanh nghiệp, các ngành, các quốc gia và cả khu vực liên quốc gia.
Nhưng những mục tiêu cơ bản lại được đặt ra khác nhau phụ thuộc vào những góc
độ nghiên cứu khác nhau. Trong khi đối với một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức
sống và phúc lợi cho nhân dân, thì đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu là
tồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế. Có khá
nhiều những khái niệm về năng lực cạnh tranh và trong luận văn này xin trích dẫn
một số khái niệm nhằm làm hiểu rõ hơn về vấn đề này.
Theo báo cáo về đánh giá năng lực cạnh tranh toàn cầu, năng lực cạnh tranh
đối với một quốc gia là “Khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và
bền vững về mức sống, nghóa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác
đònh bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”.
Báo cáo đầu tiên về Năng lực cạnh tranh Công nghiệp Châu u (CEC -1996)
cũng chỉ ra rằng, “năng lực cạnh tranh của một quốc gia là khả năng quốc gia đó tạo
ra mức tăng trưởng phúc lợi cao và gia tăng mức sống cho người dân của nước mình”
Diễn đàn cấp cao về cạnh tranh công nghiệp của Tổ chức Hợp tác và phát
triển kinh tế (OECD) lại đưa ra một khái niệm về năng lực cạnh tranh. Đó là :
Trang 8
“Khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia và vùng trong việc tạo ra việc
làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế”
Theo Micheal Porter thì “Những doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh là
những doanh nghiệp đạt được mức tiến bộ cao hơn mức trung bình về chất lượng
hàng hoá và dòch vụ và/hoặc có khả năng cắt giảm các chi phí tương đối cho phép
họ tăng được lợi nhuận (doanh thu – chi phí) và/hoặc thò phần .”. Khái niệm trên
đã phần nào phản ánh tương đối toàn diện về năng lực cạnh tranh của một doanh
nghiệp. Nó chỉ rõ mục tiêu của cạnh tranh và những đặc điểm cơ bản của việc cạnh
tranh thành công. Theo ông, để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp
phải có được lợi thế cạnh tranh dưới hình thức hoặc là có chi phí sản xuất thấp hơn
hoặc là có khả năng khác biệt hoá sản phẩm để đạt được những mức giá cao hơn
trung bình. Để duy trì lợi thế cạnh tranh, các doanh nghiệp cần ngày càng đạt được
những lợi thế cạnh tranh tinh vi hơn, qua đó có thể cung cấp những hàng hoá hay
dòch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu suất cao hơn.
1.1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Theo Micheal Porter thì sức cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm 4 yếu tố sau:
Một là các yếu tố của bản thân doanh nghiệp (Factor conditions) : các yếu tô
này bao gồm các yếu tố về con người : chất lượng, kỹ năng, chi phí; yếu tố vật
chất; các yếu tố về trình độ như khoa học kỹ thuật, kinh nghiệm thò trường; các yếu
tố về vốn. Các yếu tố này có thể chia thành 2 loại: Một là các yếu tố cơ bản như:
môi trường tự nhiên, đòa lý, lao động không có kỹ năng; Hai là các yếu tố nâng cao
như : thông tin, lao động có trình độ cao, . .
Trong hai yếu tố trên thì yếu tố thứ hai có ý nghóa quyết đònh tới khả năng
cạnh tranh của doanh nghiệp. Chúng quyết đònh lợi thế cạnh tranh của doanh
nghiệp ở mức độ cao và những công nghệ có tính độc quyền. Trong dài hạn thì đây
là những yếu tố có tính quyết đònh, chúng phải được đầu tư phát triển một cách đầy
đủ và đúng mức.
Trang 9
Hai là nhu cầu của khách hàng : đây là yếu tố có tác động rất lớn tới sự phát
triển của doanh nghiệp, nó quyết đònh tới sự sống còn của doanh nghiệp. Thông
qua nhu cầu của khác hàng mà doanh nghiệp có thể tận dụng được lợi thế về quy
mô, từ đó cải thiện các hoạt động kinh doanh dòch vụ của mình.
Nhu cầu của khách hàng còn có thể gợi mở ra cho doanh nghiệp để phát triển
các loại hình sản phẩm và dòch vụ mới. Các loại hình này có thể được phát triển
rộng rãi ra thò trường bên ngoài và khi đó doanh nghiệp là người có lợi thế cạnh
tranh trước tiên.
Ba là các lónh vực có liên quan và phụ trợ : Sự phát triển của doanh nghiệp
không thể tách rời sự phát triển các lónh vực có liên quan và phụ trợ như thò trường
tài chính, sự phát triển của công nghệ thông tin, tin học, mạng truyền thông, . .
Đối với các ngân hàng thương mại yếu tố thông tin có vai trò quan trọng. Nhờ
sự phát triển của công nghệ tin học và thông tin mà các ngân hàng có thể theo dõi
và tham gia vào thò trường tài chính 24/24 giờ trong ngày, chính điều đó càng
chứng tỏ vai trò quan trọng của các lónh vực có liên quan và phụ trợ đối với năng
lực cạnh tranh của NHTM.
Bốn là chiến lược của doanh nghiệp, cấu trúc ngành và đối thủ cạnh tranh:
Đây là những vấn đề liên quan đến cách thức doanh nghiệp được hình thành, tổ
chức và quản lý cũng như mức độ cạnh tranh trong nước và trong nền kinh tế toàn
cầu hiện nay. Sự phát triển các hoạt động doanh nghiệp sẽ thành công nếu có được
sự quản lý và tổ chức trong một môi trường phù hợp và kích thích được các lợi thế
cạnh tranh của nó. Sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp sẽ là yếu tố thúc đẩy sự
cải tiến và thay đổi nhằm hạ chi phí, nâng cao chất lượng dòch vụ và chất lượng
phục vụ khách hàng.
Trang 10
Cơ hội Chiến lược của
doanh nghiệp, cấu
trúc và đối thủ
cạnh tranh
Các yếu tố của bản
thân doanh nghiệp
Nhu cầu của
khách hàng
Các lónh vực có
liên quan và
phụ trợ
Chính
phủ
Hình 1.1 : Sự tương tác giữa các nhân tố liên quan tới sức cạnh tranh
Trong bốn yếu tố trên, yếu tố thứ nhất và thứ tư được coi là yếu tố nội tại của
doanh nghiệp, yếu tố thứ hai và thứ ba là những yếu tố có tính chất tác động và thúc
đẩy sự phát triển của chúng. Ngoài bốn nhóm yếu tố trên, còn hai yếu tố khác tác
động tương đối lớn tới năng lực cạnh tranh của một doanh nghiệp. Đó là những cơ
hội như những phát minh sáng chế, khủng hoảng và vai trò của Chính phủ. Các yếu
tố này ảnh hưởng đến việc đònh ra các chính sách về công nghệ, đào tạo, trợ cấp, .
của các doanh nghiệp. Trong phạm vi khuôn khổ của luận văn này chỉ đi vào phân
tích, đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên 2 yếu tố thứ nhất và thứ
tư, tức là chỉ tập trung vào phân tích và đánh giá các yếu tố nội tại của NHTM.
Trang 11
1.2. NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ HỆ THỐNG CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ
NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại
Trong bài viết “Đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM Việt Nam trong quá
trình hội nhập quốc tế” tác giả Đỗ Thò Minh Đức đã đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh
của các NHTM như sau : “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả năng tạo ra và sử
dụng hiệu quả các lợi thế so sánh để giành thắng lợi trong quá trình cạnh tranh với NHTM
khác”. Như vậy, đây là một yếu tố năng động, luôn được đặt trong sự phát triển liên tục.
Các lợi thế so sánh (hiện có và được tạo ra) chỉ là những yếu tố tiềm năng, điều quan trọng
là các lợi thế này phải được sử dụng một cách hợp lý, có hiệu quả, đồng thời phải luôn đầu
tư nhằm duy trì và tăng cường thêm năng lực một cách bền vững. Ngoài ra, cạnh tranh là
một hoạt động có chủ đích, do vậy năng lực cạnh tranh thường gắn liền với kết quả hoạt
động cạnh tranh, tức là mức độ đạt được các mục tiêu cạnh tranh đã đặt ra.
Theo PGS.TS Nguyễn Thò Quy thì “Năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là
khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và
mở rộng thò phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và
liên tục tăng đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng
chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”.
Với khái niệm này thì PGS.TS Nguyễn Thò Quy đã đề cập đến năng lực nội tại
của một NHTM và mối quan hệ của nó với sự phát triển của của ngành ngân hàng
trên cơ sở tận dụng được lợi thế của mình nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn. Mặt
khác, khái niệm trên cũng thể hiện sự linh hoạt trong chiến lược cạnh tranh của
NHTM khi thích nghi và tận dụng những sự thay đổi của môi trường kinh doanh.
Từ những quan điểm trên, theo tôi, “Năng lực cạnh tranh của một NHTM là khả
năng tạo ra, sử dụng và duy trì lợi thế của mình so với đối thủ cạnh tranh, nhằm đứng
vững và phát triển trong môi trường kinh doanh luôn thay đổi”. Nó bao gồm các yếu
tố nội tại và ngoại sinh của ngân hàng tác động đến chiến lược cạnh tranh của ngân
hàng đó. Từ đó, có thể tận dụng các cơ hội trên cơ sở phát huy lợi thế của mình, đồng
Trang 12
thời cũng khắc phục, hạn chế những tác động tiêu cực của môi trường kinh doanh
đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
1.2.2. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của ngân hàng
thương mại
Hoạt động của các NHTM có ổn đònh và phát triển hay không, có khả năng
cạnh tranh với các đối thủ khác hay không phụ thuộc không chỉ vào bản thân các
nguồn lực nội tại và hiện có của các ngân hàng như : tiềm lực tài chính, công nghệ,
chất lượng đội ngũ nguồn nhhân lực, . .mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như
những đối thủ cạnh tranh của chính các ngân hàng đó là ai (các sản phẩm, dòch vụ
thay thế), khả năng thâm nhập của các đối thủ như thế nào, mức độ cạnh tranh giữa
các đối thủ hiện tại sẽ ra sao, các nguồn lực mà ngân hàng có để thích ứng với
những thay đổi thế nào, chiến lược mà các ngân hàng sử dụng có phù hợp không,
ngân hàng có khả năng thay đổi chiến lược cạnh tranh của mình không, có điều
kiện của môi trường vó mô sẽ tác động như thế nào đến khả năng đó của các ngân
hàng trước những thách thức và cơ hội mới.
Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh nội tại của các NHTM:
Chất lượng nhân sự :
- Chất lượng nhân viên
- Thủ tục giao dòch
- Độ an toàn chính xác
Hình 1.2 : Hệ thống chỉ tiêu phản ánh sức cạnh tranh nội tại của NHTM
Sản phẩm dòch vụ :
- Tiện ích tối ưu
- Dòch vụ đa dạng
- Kênh phân phối rộng
- Quan hệ khách hàng
Liên tục đổi mới:
- Dòch vụ mới
- Đòa điểm cung ứng mới
- Công nghệ tiên tiến
Tiềm lực tài chính :
- Vốn tự có
- ROE
- ROA
- Chi phí/Thu nhập
SỨC
CẠNH
TRANH
Trang 13
1.2.2.1. Tiềm lực tài chính
Tiềm lực tài chính là thước đo sức mạnh của một ngân hàng tại một thời điểm
nhất đònh. Tiềm lực tài chính thể hiện qua các chỉ tiêu sau :
- Mức độ an toàn vốn và khả năng huy động vốn: Chỉ tiêu này được thể hiện
thông qua các chỉ tiêu cụ thể như : quy mô vốn chủ sở hữu, hệ số an toàn vốn (CAR
– Capital Adequacy Ratio). Tiềm lực vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh tài chính
của một ngân hàng và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng đó. Cách thức mà
một ngân hàng có khả năng cơ cấu lại vốn, huy động thêm vốn cũng là một khía
cạnh phản ánh tiềm lực về vốn của một ngân hàng. Đây là một trong những nguồn
lực quan trọng nhất quyết đònh khả năng cạnh tranh của một ngân hàng.
- Chất lượng tài sản có : Đây là chỉ tiêu phản ánh “sức khoẻ” của ngân hàng,
nó được thể hiện thông qua chỉ tiêu như : tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản có, mức độ
lập dự phòng và khả năng thu hồi các khoản nợ xấu, mức độ tập trung và đa dạng
hoá của danh mục tín dụng, rủi ro tín dụng tiềm ẩn, . .
- Mức sinh lời : Chỉ tiêu này phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của ngân
hàng, đồng thời cũng phản ánh một phần kết quả cạnh tranh của ngân hàng. Nó có
thể được phân tích thông qua những chỉ tiêu cụ thể như : giá trò tuyệt đối của lợi
nhuận sau thuế, tốc độ tăng trưởng và cơ cấu lợi nhuận; tỷ suất lợi nhuận trên vốn
chủ sở hữu (ROE); tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản có (ROA); các chỉ tiêu về
mức sinh lợi trong mối tương quan với chi phí, . .
- Khả năng thanh khoản : Nó được thể hiện thông qua các chỉ tiêu như khả
năng thanh toán tức thì, khả năng thanh toán ngay, đặc biệt là khả năng quản lý rủi
ro thanh khoản của các NHTM.
1.2.2.2. Năng lực về công nghệ
Trong lónh vực ngân hàng, công nghệ ngày càng đóng vai trò như là một trong
những nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của mỗi ngân hàng.
Công nghệ ngân hàng không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp
Trang 14
như hệ thống thanh toán điện tử, hệ thống ngân hàng bán lẻ, máy rút tiền tự động
ATM, , , mà còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý (MIS – Managerment
Informtics System), hệ thống báo cáo rủi ro, . . trong nội bộ ngân hàng. Khả năng
nâng cấp và đổi mới công nghệ của các NHTM cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực
công nghệ của ngân hàng. Như vậy, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số
lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng đổi mới của
công nghệ hiện tại về mặt kỹ thuật cũng như kinh tế.
1.2.2.3. Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là nguồn lực quan trọng và không thể thiếu của bất kỳ ngân
hàng nào. Nhân sự của một ngân hàng là yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực
của ngân hàng, đồng thời cũng là cái gốc của mọi cải tiến và đổi mới. Năng lực
cạnh tranh về nguồn nhân lực được thể hiện qua một số tiêu chí như : trình độ đào
tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, động cơ phấn đấu, mức độ cam kết gắn bó với
ngân hàng.
Trình độ, hay kỹ năng của người lao động là những chỉ tiêu quan trọng thể
hiện chất lượng của nguồn nhân lực. Quá trình tuyển dụng và đào tạo một chuyên
viên ngân hàng thường rất tốn kém cả về thời gian và công sức. Hiệu quả của
chính sách nhân sự, đặc biệt là chính sách tuyển dụng và cơ chế thù lao là một chỉ
tiêu quan trọng đánh giá khả năng duy trì đội ngũ nhân sự chất lượng cao của một
ngân hàng.
Động cơ phấn đấu và mức độ cam kết gắn bó của nhân viên ngân hàng cũng
là những chỉ tiêu quan trọng phản ánh một ngân hàng có lợi thế cạnh tranh từ
nguồn nhân lực của mình hay không.
1.2.2.4. Năng lực quản lý và cơ cấu tổ chức
Năng lực quản lý phản ánh năng lực điều hành của ban lãnh đạo của một
ngân hàng. Năng lực quản lý thể hiện ở mức độ chi phối và khả năng giám sát của
hội đồng quản trò đối với ban giám đốc; mục tiêu, động cơ, mức độ cam kết của ban
lãnh đạo đối với việc duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng; chính
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét