Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
V. Cấu trúc của đề tài: gồm 5 phần.
Phần 1:Giới thiệu về đề tài.
Phần 2:Cơ sở lý luận về Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh.
Phần 3:Giới thiệu về công ty.
Phần 4: Phân tích tình hình hoạt động kinh doanh tại công ty TNHH MỘT
THÀNH VIÊN XNK HÀO PHÁT.
Phần 5: Nhận xét và kiến nghị.
VI. Các tài liệu tham khảo:
“Phân tích hoạt động kinh doanh” – Trường Đại Học Kinh tế TPHCM.
Các chứng từ kế tốn tại công ty TNHH một thành viên xuất nhập khẩu Hào
Phát.
Tài liệu tham khảo tại thư viện trường Đại Học Bình Dương.
Tìm hiểu các thông tin trên mạng internet về ngành nghề hoạt động của công
ty Hào Phát.
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 5
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
PHẦN II:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN
TÍCH TÌNH HÌNH HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 6
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
I. Những vấn đề cơ bản của việc phân tích hoạt động kinh doanh.
1. Khái niệm:
“Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng
trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó”. (PGS.
TS. Phạm Thị Gái.2004. Phân tích hoạt động kinh doanh. NXB Thống Kê, Hà Nội.
Trang 5)
“Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá tồn bộ
quá trình và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần khai thác ở
doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả
hoạt động sản xuất kinh doanh của DN”. (TS. Trịnh Văn Sơn. 2005. Phân tích hoạt
động kinh doanh. Đại học Kinh tế Huế. Trang 4)
Phân tích hoạt động kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh
doanh của con người. Ban đầu, trong điều kiện sản xuất kinh doanh chưa phát triển,
yêu cầu thông tin cho quản lý doanh nghiệp chưa nhiều, chưa phức tạp, công việc
phân tích cũng được tiến hành chỉ là những phép tính cộng trừ đơn giản. Khi nền
kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý kinh tế không ngừng tăng lên. Để
đáp ứng nhu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích hoạt động
kinh doanh được hình thành và ngày càng được hồn thiện với hệ thống lý luận độc
lập.
Phân tích như là một hoạt động thực tiễn, vì nó luôn đi trước quyết định và là
cơ sở cho việc ra quyết định. Phân tích kinh doanh như là một ngành khoa học, nó
nghiên cứu một cách có hệ thống tồn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh để từ đó đề
xuất những giải pháp hữu hiệu cho mỗi doanh nghiệp.
Như vậy, Phân tích kinh doanh là quá trình nhận biết bản chất và sự tác động
của các mặt của hoạt động kinh doanh, là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động
kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng
doanh nghiệp và phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm
mang lại hiệu quả kinh doanh cao.
2. Mục đích.
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 7
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
Phân tích hoạt động kinh doanh nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình
hình kinh tế – tình hình tài chính và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của tình
hình đó. Kết quả phân tích là cơ sở dự báo, hoạch định chính sách và ra quyết định
hoạt động kinh doanh của tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Phân tích hoạt động kinh doanh nhằm đánh giá kết quả và nâng cao hiệu quả
hoạt động kinh doanh. Hiệu quả trên góc độ nền kinh tế mà người ta nhận thấy được
là năng lực sản xuất, tiềm lực kinh tế, khả năng phát triển kinh tế nhanh hay chậm,
khả năng nâng cao mức sống của nhân dân của đất nước trên cơ sở khai thác hết các
nguồn nhân tài và vật lực cũng như nguồn lực phát triển kinh tế của đất nước.
Phân tích hoạt động kinh doanh là môn học nghiên cứu, phân tích, đánh giá
tình hình kinh tế – tình hình tài chính và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của tình
hình đó. Kết quả phân tích là cơ sở dự báo, hoạch định chính sách và ra quyết định
hoạt động kinh doanh của tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Sau khi phân tích kết quả của hoạt động kinh doanh, việc gắn liền hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp với tồn xã hội giúp điều chỉnh mối quan hệ cung ứng –
nhu cầu để có nhận biết cải tạo chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quy mô hoạt động
tốt nhất.
3. Vai trò.
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm
năng trong kinh doanh, mà còn là công cụ cải tiến quy chế quản lý trong công ty.
Bất kỳ hoạt động kinh doanh trong các điều kiệân khác nhau như thế nào đi
nữa, cũng còn những tiềm ẩn, khả năng tiềm tàn chưa được phát hiện. Chỉ có thể
thông qua phân tích Doanh nghiệp mới có thể phát hiện được và khai thác chúng để
mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn. Thông qua phân tích, doanh nghiệp thấy rõ
nguyên nhân cùng nguồn gốc của vấn đề phát sinh và có giải pháp cụ thể để cải tiến
quản lý.
Phân tích hoạt động kinh doanh cho phép các nhà doanh nghiệp nhìn nhận đúng
đắn về khả năng sức mạnh cũng như hạn chế trong doanh nghiệp của mình. Chính
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 8
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
trên cơ sở này, doanh nghiệp sẽ xác định mục tiêu cùng các chiến lược kinh doanh
đúng đắn.
Phân tích hoạt động kinh doanh là cơ sở quan trọng để ra các quyết định kinh
doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng trong những chức năng
quản trị có hiệu quả của doanh nghiệp.
Phân tích là quá trình nhận thức hoạt động kinh doanh, là cơ sở quan trọng cho
việc ra quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là chức năng kiểm tra,
đánh giá, điều hành hoạt động kinh doanh để đạt mục tiêu kinh doanh.
Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng trong việc phòng ngừa
rủi ro.
4. Ý nghĩa:
Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ quan trọng để phát hiện khả năng
tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh.
Thông qua phân tích hoạt động doanh nghiệp chúng ta mới thấy rõ được
các nguyên nhân, nhân tố cũng như nguồn gốc phát sinh của các nguyên nhân và
nhân tố ảnh hưởng, từ đó để có các giải pháp cụ thể và kịp thời trong công tác tổ
chức và quản lý sản xuất. Do đó nó là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh
doanh.
Phân tích kinh doanh giúp doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức
mạnh cũng như những hạn chế trong doanh nghiệp của mình. Chính trên cơ sở này
các doanh nghiệp sẽ xác định đúng đắn mục tiêu và chiến lược kinh doanh có hiệu
quả.
Phân tích kinh doanh là công cụ quan trọng trong chức năng quản trị, là cơ sở để
đề ra các quyết định đúng đắn trong chức năng quản lý, nhất là trong các chức năng
kiểm tra, đánh giá và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
Phân tích hoạt động kinh doanh là biện pháp quan trọng để phòng ngừa và ngăn
chặn những rủi ro có thể xảy ra.
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 9
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
Tài liệu phân tích kinh doanh còn rất cần thiết cho các đối tượng bên ngồi, khi
họ có các mối quan hệ về kinh doanh, nguồn lợi với doanh nghiệp, vì thông qua phân
tích họ mới có thể có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác, đầu tư, cho vay đối
với doanh nghiệp nữa hay không?
II. Phương pháp phân tích và tài liệu phân tích.
1. Phương pháp phân tích
Phương pháp chi tiết:
1.1.1. Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu:
Chi tiết chỉ tiêu theo các bộ phận cấu thành cùng với sự biểu hiện về lượng
của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả
đạt được. Do đó phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thành được sử dụng rộng
rãi trong phân tích mọi mặt về kết qủa sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Chi tiết theo thời gian
Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình. Do nhiều
nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan khác nhau, tiến độ thực hiện quá trình đó
trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đều nhau, ví dụ: Giá trị sản lượng
sản phẩm trong sản xuất kinh doanh thường phải thực hiện theo từng tháng, từng quý
trong năm và thông thường không giống nhau. Tương tự trong thương mại, doanh số
mua vào, bán ra từng thời gian trong năm cũng không đều nhau.
Việc chi tiết theo thời gian giúp đánh giá được nhịp điệu, tốc độ phát triển của
hoạt động sản xuất kinh doanh qua các thời kỳ khác nhau, từ đó tìm nguyên nhân và
giải pháp có hiệu lực để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Mặt khác, phân tích chi tiết theo thời gian cũng giúp ta nghiên cứu nhịp điệu
của các chỉ tiêu có liên quan với nhau như: Lượng hàng hố mua vào, dự trữ với lượng
hàng bán ra; lượng vốn được cấp (huy động) với công việc xây lắp hồn thành;
lượng nguyên vật liệu cấp phát với khối lượng sản phẩm sản xuất Từ đó phát hiện
những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến tiến độ thực hiện các chỉ tiêu trong quá trình
sản xuất kinh doanh.
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 10
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
1.1.3. Chi tiết theo địa điểm và phạm vi kinh doanh:
Kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được thực hiện bởi các bộ
phận, phân xưởng, đội, tổ sản xuất… hay của các cửa hàng, trang trại, xí nghiệp trực
thuộc doanh nghiệp.
Thông qua các chỉ tiêu khốn khác nhau như: Khốn doanh thu, khốn chi
phí,khốn gọn cho các bộ phận mà đánh giá mức khốn đã hợp lý hay chưa và về việc
thực hiện định mức khốn của các bộ phận như thế nào. Cũng thông qua đó mà phát
hiện các bộ phận tiên tiến, lạc hậu trong việc thực hiện các chỉ tiêu, khai thác khả
năng tiềm tàng trong việc sử dụng các yếu tố sản xuấtkinh doanh. Phân tích chi tiết
theo địa điểm giúp ta đánh giá kết quả thực hiện hoạch tốn kinh tế nội bộ.
Phương pháp so sánh:
So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong phân tích kinh
doanh. Sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các
hiện tượng kinh tế đã được lượng hố có cùng một nội dung, một tính chất tương tự để
xác định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu đó. Nó cho phép chúng ta
tổng hợp được những nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng
kinh tế đưa ra so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay các mặt
kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm các giải pháp nhằm quản lý tối ưu
trong mỗi trường hợp cụ thể. Vì vậy, để tiến hành so sánh cần phải thực hiện những
vấn đề cơ bản sau đây:
1.2.1. Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh:
Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu được lựa chọn để làm căn cứ so sánh, được gọi
là kỳ gốc so sánh. Tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc so sánh cho
thích hợp. Các gốc so sánh có thể là:
o Tài liệu của năm trước (kỳ trước hay kế hoạch) nhằm đánh giá xu
hướng phát triển của các chỉ tiêu.
o Các mục tiêu đã dự kiến (kế hoạch, dự đốn, định mức) nhằm đánh giá
tình hình thực hiện so với kế hoạch, dự đốn và định mức.
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 11
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
o Các chỉ tiêu trung bình của ngành, của khu vực kinh doanh; nhu cầu
hoặc đơn đặt hàng của khách hàng nhằm khẳng định vị trí của các doanh nghiệp và
khả năng đáp ứng nhu cầu.
Các chỉ tiêu của kỳ được chọn để so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ
thực hiện và là kết quả kinh doanh đã đạt được.
1.2.2. Ðiều kiện so sánh:
Ðể thực hiện phương pháp này có ý nghĩa thì điều kiện tiên quyết là các chỉ
tiêu được sử dụng trong so sánh phải đồng nhất. Trong thực tế, chúng ta cần quan
tâm cả về thời gian và không gian của các chỉ tiêu và điều kiện có thể so sánh được
giữa các chỉ tiêu kinh tế.
Về thời gian: là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch
tốn và phải thống nhất trên 3 mặt sau:
o Phải phản ánh cùng nội dung kinh tế.
o Các chỉ tiêu phải cùng sử dụng một phương pháp tính tốn.
o Phải cùng một đơn vị đo lường.
Khi so sánh về mặt không gian: yêu cầu các chỉ tiêu đưa ra phân tích cần phải
được quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự như nhau.
1.2.3. Kỹ thuật so sánh: Ðể đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, người ta thường sử
dụng các kỹ thuật so sánh sau:
So sánh bằng số tuyệt đối:
o Số tuyệt đối là số biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế
nào đó, ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế. Nó là cơ sở để tính tốn các loại số
liệu khác.
o So sánh bằng số tuyệt đối là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh tế kỳ
phân tích so với kỳ gốc. Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối lượng, quy mô của
các hiện tượng kinh tế.
So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung là kết
quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với trị số kỳ gốc đã được điều
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 12
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu phân tích có liên quan theo hướng quyết định quy mô
chung
+ Công thức: Mức biến động tương đối = (chỉ tiêu kỳ phân tích - chỉ tiêu kỳ
gốc) * hệ số điều chỉnh.
So sánh bằng số tương đối: Có nhiều loại số tương đối, tuỳ theo yêu cầu phân
tích mà sử dụng cho phù hợp.
o Số tương đối hồn thành kế hoạch tính theo tỉ lệ: là kết quả của phép
chia giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế. Nó phản ánh tỉ
lệ hồn thành kế hoạch của chỉ tiêu kinh tế.
Công thức : Số tương đối hồn thành kế hoạch = chỉ tiêu kỳ phân
tích / chỉ tiêu kỳ gốc * 100%
o Số tương đối kết cấu: So sánh số tương đối kết cấu thể hiện chênh lệch
về tỷ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng số giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của
chỉ tiêu phân tích. Nó phản ánh biến động bên trong của chỉ tiêu.
o Số bình quân động thái: Biểu hiện sự biến động về tỷ lệ của chỉ tiêu
kinh tế qua một khoảng thời gian nào đó. Nó được tính bằng cách so sánh chỉ tiêu kỳ
phân tích với chỉ tiêu kỳ gốc. Chỉ tiêu kỳ gốc có thể cố định hoặc liên hồn, tùy theo
mục đích phân tích. Nếu kỳ gốc cố định sẽ phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu kinh tế
trong khoảng thời gian dài. nếu kỳ gốc liên hồn phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu
kinh tế qua 2 thời kỳ kế tiếp nhau.
1.3. Phương pháp so sánh liên hồn:
Với phương pháp “thay thế liên hồn”, chúng ta có thể xác định được ảnh
hưởng của các nhân tố thông qua việc thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố để xác
định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi. Khi thực hiện phương pháp này cần
quán triệt các nguyên tắc:
o Thiết lập mối quan hệ tốn học của các nhân tố ẩnh hưởng với chỉ tiêu
phân tích theo một trình tự nhất định, từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng;
trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hay chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp
trước đến nhân tố thứ yếu.
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 13
Chuyên đề tốt nghiệp GVHD: TS Mai Thị Hoàng Minh
o Lần lượt thay thế, nhân tố lượng được thay thế trước rồi đến nhân tố
chất; nhân tố được thay thế thì lấy giá trị thực tế, nhân tố chưa được thay thế thì giữ
nguyên kỳ gốc; nhân tố đã được thay thế thì lấy giá trị thực tế, cứ mỗi lần thay thế
tính ra giá trị của lần thay thế đó; lấy kết quả tính được trừ đi kết quả lần thay thế
trước nó ta xác định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó (kết quả lần thay thế
trước của lần thay thế đầu tiên là so với kỳ gốc).
o Tổng đại số mức ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng đối tượng phân
tích (là số chênh lệch giữa kỳ phân tích và kỳ gốc).
Có thể cụ thể các nguyên tắc trên thành các bước:
o Bước 1 : Xác định đối tượng phân tích: là mức chênh lệch giữa chỉ tiêu
kỳ phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc.
Nếu Gọi A1 là chỉ tiêu kỳ phân tích và A0 là chỉ tiêu kỳ gốc thì đối
tượng phân tích được xác định là: A1 - A0 = ΔA
o Bước 2 : Thiết lập mối quan của các nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu
phân tích.
Giả sử có 3 nhân tố ảnh hưởng là: a,b,c đều có quan hệ tích số với chỉ tiêu
phân tích A và nhân tố a phản ánh lượng tuần tự đến c phản ánh về chất theo nguyên
tắc đã trình bày ta thiết lập được mối quan hệ như sau: A = a.b.c
Kỳ phân tích: A1 = a1.b1.c1 và Kỳ gốc là: A0 = a0.b0.c0
o Bước 3 : Lần lượt thay thế các nhân tố kỳ phân tích vào kỳ gốc theo
trình tự sắp xếp ở bước 2.
Thế lần 1: a1.b0.c0
Thế lần 2: a1.b1.c0
Thế lần 3: a1.b1.c1
Thế lần cuối cùng chính là các nhân tố ở phân tích được thay thế
tồn bộ nhân tố ở kỳ gốc. Như vậy có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng thì có bấy nhiêu
lần thay thế.
o Bước 4: Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng
phân tích bằng cách lấy kết quả thay thế lần sau trừ đi kết quả lần thay thế trước nó ta
SVTH: Lê Thị Thanh Thảo 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét