“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
(I) = (1A) – (1B)
X ác định vốn tự có cấp 2:
Các chỉ tiêu thuộc vốn tự có cấp 2:
Stt Khoản mục
Nguồn số liệu từ
Bảng Cân đối TK KT
Ghi chú
1 Giá trị tăng thêm
của tài sản cố định
Tổng giá trị tăng thêm
của các TSCĐ được
đánh giá lại và được
hạch toán trên TK 642.
Chỉ lấy 50% phần giá trị
tăng thêm của TSCĐ được
định giá lại theo quy định
của pháp luật.
2 Giá trị tăng thêm
của các loại chứng
khoán đầu tư (kể cả
cổ phiếu đầu tư, vốn
góp)
Tổng giá trị tăng thêm
của các loại chứng
khoán đầu tư (kể cả cổ
phiếu đầu tư, vốn góp)
được đánh giá lại và
hạch toán trên TK 641.
Chỉ lấy 40% phần giá trị
tăng thêm của các loại
chứng khoán đầu tư được
định giá lại theo quy định
của pháp luật.
3 Trái phiếu chuyển
đổi hoặc cổ phiếu
ưu đãi do TCTD
phát hành:
3a Trái phiếu chuyển
đổi do TCTD phát
hành
Dư Có TK 43 “Tổ chức
tín dụng phát hành giấy
tờ có giá” (phần trái
phiếu chuyển đổi được
theo dõi trên TK, sổ chi
tiết) cộng cấu phần vốn
trái phiếu chuyển đổi
theo dõi trên TK 609
(nếu có).
Chỉ lấy giá trị trái phiếu
chuyển đổi có đủ các điều
kiện quy định tại tiết c,
điểm 1.2, khoản 1, Điều 3
Quyết định 457.
3b Cổ phiếu ưu đãi do
TCTD phát hành
Dư Có TK 487 “cấu
phần nợ của cổ phiếu ưu
đãi” cộng cấu phần vốn
Chỉ lấy giá trị cổ phiếu ưu
đãi có đủ các điều kiện
quy định tại tiết c, điểm
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
5
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
của cổ phiếu ưu đãi theo
dõi trên TK 65 (nếu có).
1.2, khoản 1, Điều 3 Quyết
định 457.
4 Các công cụ nợ
khác
Dư Có TK 43 “Tổ chức
tín dụng phát hành giấy
tờ có giá” (phần công cụ
nợ khác được theo dõi
trên TK, sổ chi tiết)
Chỉ lấy giá trị các công cụ
nợ có đủ điều kiện theo
quy định tại tiết d, điểm
1.2, khoản 1, Điều 3 Quyết
định 457.
5 Dự phòng chung Dư Có các TK “Dự
phòng chung”: 2092,
2192, 2292, 2392, 2492,
2592,2692, 2792, 4895.
Số tiền dự phòng chung
được tính vào vốn cấp 2
tối đa bằng 1,25% tổng
tài sản “Có” rủi ro theo
quy định tại tiết đ, điểm
1.2, khoản 1, Điều 3 Quyết
định 457.
Tổng cộng
Giới hạn khi xác định vốn tự có cấp 2:
Sau khi tính toán các chỉ tiêu thuộc vốn tự có cấp 2 theo điểm 1
Mục này, TCTD thực hiện xác định giới hạn vốn cấp 2 theo quy định tại
Quyết định 457 và các Quyết định sửa đổi, bổ sung có liên quan.
Vốn tự có cấp 2 được tính vào vốn tự có của TCTD (II):
Vốn tự có cấp 2 được tính vào vốn tự có là phần vốn sau khi đã xác
định phần giới hạn quy định tại khoản 2 Mục này.
Các khoản phải trừ khỏi vốn tự có :
Stt Khoản mục
Nguồn số liệu từ
Bảng Cân đối TK KT
Ghi chú
1 Toàn bộ phần giá trị giảm
đi của tài sản cố định
Tổng giá trị giảm đi của
các TSCĐ được đánh giá
lại và hạch toán trên TK
642.
Toàn bộ phần giá trị
giảm đi của TSCĐ
do định giá lại theo
quy định của pháp
luật.
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
6
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
2 Toàn bộ phần giá trị giảm
đi của các loại chứng khoán
đầu tư (kể cả cổ phiếu đầu
tư, vốn góp)
Tổng giá trị giảm đi của
các loại chứng khoán đầu
tư (kể cả cổ phiếu đầu tư,
vốn góp) được đánh giá
lại và hạch toán trên TK
641.
Toàn bộ phần giá trị
giảm đi của các loại
chứng khoán đầu tư
được định giá lại
theo quy định của
pháp luật.
3 Tổng số vốn của TCTD đầu
tư vào TCTD khác dưới
hình thức góp vốn, mua cổ
phần và tổng các khoản đầu
tư dưới hình thức góp vốn,
mua cổ phần nhằm nắm
quyền kiểm soát vào các
doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực bảo hiểm,
chứng khoán:
3a Tổng số vốn của TCTD đầu
tư vào TCTD khác dưới
hình thức góp vốn, mua cổ
phần.
Lấy số liệu trên các TK
341, 342, 343, 344, 345,
346, 347, 348 (phần góp
vốn, mua cổ phần vào
TCTD khác).
3b Tổng các khoản đầu tư dưới
hình thức góp vốn, mua cổ
phần nhằm nắm quyền kiểm
soát vào các doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực
bảo hiểm, chứng khoán.
Lấy số liệu trên các các
TK 341, 342, 343, 345,
346, 347 (phần góp vốn,
mua cổ phần nhằm nắm
quyền kiểm soát vào các
doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực bảo hiểm,
chứng khoán).
Thuật ngữ “quyền
kiểm soát” được
hiểu theo quy định
tại khoản 2, Điều 1
của Quyết định 03
4 Phần vượt mức vốn tự có
của TCTD đối với khoản
góp vốn, mua cổ phần:
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
7
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
4a Phần vượt mức 15% vốn tự
có của TCTD đối với khoản
góp vốn, mua cổ phần của
TCTD vào một doanh
nghiệp, quỹ đầu tư, dự án
đầu tư.
Việc tính toán chỉ tiêu
này được thực hiện theo
quy định tại điểm 3.4,
khoản 3, Điều 3 Quyết
định 03 trên cơ sở số liệu
chi tiết tại các TK 341,
342, 343, 344, 345, 346,
4b Phần vượt mức 40% vốn tự
có của TCTD đối với tổng
các khoản góp vốn, mua cổ
phần của TCTD vào các
doanh nghiệp, quỹ đầu tư,
dự án đầu tư, ngoại trừ phần
vượt mức 15% đã trừ khỏi
vốn tự có nêu trên
5 Khoản lỗ kinh doanh (bao
gồm cả những khoản lỗ luỹ
kế)
Dư Nợ TK 692 “Lợi
nhuận năm trước” (bao
gồm cả lỗ luỹ kế từ các
năm trước)
Được xác định qua
kết quả kiểm toán
của tổ chức kiểm
toán độc lập.
Tổng cộng (IV)
Ta có công thức xác định vốn tự có như sau:
Vốn tự có = Vốn tự có cấp 1 + Vốn tự có cấp 2 – Các khoản giảm trừ
2. Đặc điểm của vốn tự có:
Vốn tự có là nguồn vốn ổn định của ngân hàng và luôn tăng
trưởng trong quá trình hoạt động của ngân hàng.
Vốn tự có của ngân hàng chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn
vốn kinh doanh (thông thường từ 8% đến 10%), tuy nhiên nó lại giữ một
vai trò rất quan trọng vì nó là cơ sở để hình thành nên các nguồn vốn
khác của ngân hàng đồng thời tạo nên uy tín ban đầu của ngân hàng.
Vốn tự có quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng, cụ thể
vốn tự có là cơ sở để xác định giới hạn huy động vốn của ngân hàng. Nó
còn là yếu tố để các cơ quan quản lý dựa vào để xác định các tỉ lệ an toàn
trong kinh doanh ngân hàng (Theo Pháp lệnh ngân hàng năm 1990 thì
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
8
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
một ngân hàng không được phép huy động vốn quá 20 lần so với vốn tự
có vì nó ảnh hưởng đến năng lực chi trả của ngân hàng). Theo luật các tổ
chức tín dụng của VN, một ngân hàng khi cho vay đối với một khách
hàng thì tổng dư nợ cho vay cao nhất không được phép vượt quá 15%
vốn tự có của ngân hàng
3. Chức năng của vốn tự có
Chức năng bảo vệ: Trong hoạt đông kinh doanh luôn tiềm ẩn
rất nhiều rủi ro, những rủi ro này khi xảy ra sẽ gây ra những thiệt hại lớn
cho ngân hàng, đôi khi nó có thể dẫn ngân hàng đến chỗ phá sản. Khi đó
vốn tự có sẽ giúp ngân hàng bù đắp được những thiệt hại phát sinh và
đảm bảo cho ngân hàng tránh khỏi nguy cơ trên.
Trong một số trường hợp ngân hàng mất khả năng chi trả thì vốn tự
có sẽ được sử dụng để hoàn trả cho khách hàng.
Ngoài ra, do mối quan hệ tương hỗ giữa ngân hàng với khách hàng,
vốn tự có còn có chức năng bảo vệ cho khách hàng không bị mất vốn khi
gửi tiền tại ngân hàng.
Chức năng hoạt động: Thể hiện ở chỗ vốn tự có có thể được sử
dụng để cho vay, hùn vốn hoặc đầu tư chứng khoán nhằm mang lại lợi
nhuận cho ngân hàng. Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn
trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên lợi nhuận mà nó mang lại cũng
không cao. Vì vậy chức năng hoạt động ở đây cũng chỉ là thứ yếu.
Chức năng điều chỉnh: Vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan
quản lý ngân hàng thường hướng vào đó để ban hành những quy định
nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định
tính an toàn (ví dụ như các ngân hàng không được đầu tư vào tài sản cố
định vượt quá 50% vốn của ngân hàng). Vốn tự có còn là căn cứ để xác
định và điều chỉnh các giới hạn hoạt động nhằm đảm bảo ngân hàng an
toàn trong kinh doanh.
II. Các biện pháp tăng vốn tự có ngân hàng thương mại
1. Phát hành cổ phiếu
Phát hành cổ phiếu là biện pháp dành riêng cho các ngân hàng
thương mại cổ phần! Biện pháp được các ngân hàng thương mại cổ phần
sử dụng rất phổ biến trong giai đoạn này để tăng vốn.
Có hai hình thức chủ yếu là phát hành cổ phiếu thường (cổ phiếu
phổ thông) hoặc cổ phiếu ưu đãi.
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
9
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
Cổ phiếu thường(CP phổ thông) : Là một loại chứng khoán được
phát hành dưới dạng chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận quyền sở
hữu và lợi ích hợp pháp của cổ đông thường đối với tài sản hoặc vốn của
một công ty cổ phần. Cổ phiếu thường cho phép cổ đông thường được
hưởng các quyền lợi đối với công ty như quyền biểu quyết những vấn đề
liên quan đến quản lý công ty, quyền được hưởng cổ tức cao từ lợi nhuận
sau thuế
Cổ phiếu ưu đãi : là chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của cổ
đông ưu đãi đối với phần vốn góp vào công ty cổ phần; đồng thời cho
phép cổ đông ưu đãi được hưởng một số quyền ưu đãi lớn hơn so với các
cổ đông thường như: ưu đãi về cổ tức( nhận cổ tức theo mức cố định
không phụ thuộc vào kết quả kinh doanh,tích luỹ cổ tức ),chuyển đổi
thành cổ phiếu thường(đối với cổ phiếu ưu đãi chuyển đổi)
Các ngân hàng cổ phần tuỳ thuộc vào nhu cầu cụ thể của mình mà
có thể phát hành thêm cổ phiếu thường hay cổ phiếu ưu đãi.
Ưu điểm của biện pháp tăng vốn bằng cổ phiếu:
Việc phát hành cổ phiếu vừa giúp các ngân hàng tăng quy mô
vốn kinh doanh dài hạn lại vừa giúp các ngân hàng tránh được nghĩa vụ
nợ nần, không phải lo việc trả vốn gốc và lãi
Khi sử dụng biện pháp này sẽ giúp các ngân hàng thương mại
tăng quy mô vốn chủ sở hữu do đó làm thay đổi kết cấu các loại vốn ( kết
cấu giữa vốn chủ sở hữu / nợ phải trả, vốn thường xuyên(dài hạn) / vốn
tạm thời(ngắn hạn) ).Như vậy, làm tăng độ vững chắc về tài chính của
ngân hàng, tăng hệ số đảm bảo nợ, tăng độ tín nhiệm của ngân hàng từ
đó giúp tăng khả năng vay vốn, huy động vốn của ngân hàng trong tương
lai.
Vì cổ phiếu đại diện cho quyền sở hữu của người nắm giữ cổ
phiếu trong ngân hàng và việc phân chia cổ tức cho cổ đông không phải
là cố định mà tuỳ thuộc vào tình hình kinh doanh của ngân hàng nên các
ngân hàng thường có độ chủ động cao hơn trong việc sử dụng vốn thu
được do phát hành cổ phiếu.
Nhược điểm của biện pháp tăng vốn bằng cổ phiếu:
Việc phát hành cổ phiếu(đặc biệt là cổ phiếu thường) ra công
chúng sẽ làm tăng số cổ đông sở hữu ngân hàng và như vậy dẫn tới việc
phân chia quyền kiểm soát và quyền biểu quyết. Điều này dẫn đến bất lợi
cho các cổ đông hiện hành.
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
10
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
Vì cổ phiếu liên quan đến cổ tức nên việc phát hành thêm cổ
phiếu mới ra công chúng đồng nghĩa với việc các cổ đông hiện hành sẽ
phải chia sẻ một phần lợi ích của mình với cổ đông mới. Để giảm thiểu
nhược điểm này các ngân hàng cần phải sử dụng một cách hiệu quả
nguồn vốn tăng thêm do phát hành cổ phiếu, tạo ra một tỉ suất lợi nhuận
cao để đảm bảo việc chi trả cổ tức cho các cổ đông.
Khác với các hình thức vay vốn thì lãi phải trả được tính vào
chi phí khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nên giảm được khoản thuế
phải nộp cho nhà nước, thì cổ tức chi trả cho cổ đông lại lấy từ lợi nhuận
sau thuế. Đặc điểm này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sử dụng vốn
cổ phiếu - yếu tố quan trọng mà các ngân hàng phải cân nhắc khi lựa
chọn các giải pháp tăng vốn.
2. Phát hành trái phiếu
Trái phiếu ngân hàng là chứng chỉ vay vốn do các ngân hàng phát
hành, thể hiện nghĩa vụ và sự cam kết của ngân hàng về thanh toán số lợi
tức tiền vay cho người nắm giữ trái phiếu vào những thời hạn đã xác định
và hoàn trả khoản vay ban đầu khi trái phiếu đáo hạn.
Tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu dài hạn:
Đây là biện pháp hiệu quả để tăng cường năng lực tài chính của
ngân hàng đáp ứng những nhu cầu trước mắt, nhưng về bản chất đây chỉ
là tăng vốn tự có trên danh nghĩa, còn về lâu dài sẽ là một gánh nặng nợ
nần, đồng thời chi phí vốn cao sẽ làm suy giảm mức lợi nhuận của ngân
hàng.
Tăng vốn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi:
Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu
thường vào một thời điểm xác định trong tương lai.
Loại trái phiếu này vừa có đặc điểm của trái phiếu là được trả một
mức lãi suất cố định, nhưng mặt khác lại có khả năng chuyển đổi thành
cổ phiếu thường của ngân hàng và đây cũng chính là điểm hấp dẫn của
trái phiếu chuyển đổi.
Một số lợi điểm khi phát hành trái phiếu:
Lãi suất( hay lợi tức) phải trả cho trái phiếu thường được cố
định trước và được tính vào chi phí kinh doanh của ngân hàng nên sẽ
giúp các ngân hàng giảm được một khoản thuế phải nộp đồng thời giúp
nâng cao mức doanh lợi vốn chủ sở hữu.
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
11
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
Vì trái phiếu là chứng khoán nợ nên ngân hàng không phải
phân chia quyền kiểm soát cho các trái chủ ; số lượng cổ phiếu không
tăng nên thu nhập trên mỗi cổ phần được đảm bảo.
Vì là nợ phải trả có kỳ hạn nên ngân hàng có thể thay đổi cơ
cấu vốn kinh doanh một cách linh hoạt, chủ động thông qua việc ngừng
phát hành trái phiếu hoặc mua lại các trái phiếu đang lưu hành.
Khi phát hành trái phiếu chuyển đổi, ngân hàng có thể định một
mức lãi suất cố định thấp hơn của trái phiếu không có khả năng chuyển
đổi.
Một số nhược điểm khi phát hành trái phiếu:
Ngân hàng sẽ chịu sức ép về nợ nần, phải thanh toán các khoản
nợ gốc và lãi khi tới hạn
Hệ số nợ của ngân hàng sẽ tăng lên khi phát hành thêm trái
phiếu.
Trái phiếu chuyển đổi cũng sẽ mang đến một số bất lợi có thể
có cho ngân hàng và các cổ đông của ngân hàng khi trái phiếu được
chuyển đổi thành cổ phiếu, vốn chủ sở hữu bị “pha loãng” do tăng số
lượng cổ phiếu lưu hành, từ đó gây ra sự thay đổi trong việc kiểm soát
ngân hàng; nợ của ngân hàng giảm thông qua chuyển đổi sẽ làm mất đi
sự cân bằng của cán cân nợ_vốn.
3. Lợi nhuận giữ lại
Sau mỗi kỳ kinh doanh, số lợi nhuận thu được sau khi nộp thuế cho
nhà nước được phân chia một phần cho các chủ sở hữu dưới dạng cổ tức,
một phần được giữ lại tại ngân hàng để bổ xung vốn kinh doanh.
Tỷ lệ phân chia cổ tức cho cổ đông và giữ lại để tăng vốn cho ngân
hàng phụ thuộc vào chính sách phân chia cổ tức của từng ngân hàng
thương mại và đây là một trong những chính sách tài chính quan trọng
của các ngân hàng.
Việc giữ lại lợi nhuận để tăng vốn cho ngân hàng là hình thức tích
luỹ vốn để tái đầu tư mở rộng hoạt động kinh doanh được tất cả các ngân
hàng thương mại áp dụng. Tuy nhiên việc giữ lại nhiều hay ít, một phần
hay toàn bộ lợi nhuận đòi hỏi các ngân hàng cần phải có những tính toán
sao cho hợp lý, phù hợp với mục tiêu và kế hoạch của ngân hàng mình.
Khi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại ở mức cao sẽ càng đẩy mạnh quá
trình tích luỹ vốn và làm giảm yêu cầu huy động vốn từ bên ngoài; do đó
làm giảm mức độ phụ thuộc vào các nguồn cung cấp từ bên ngoài, dẫn
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
12
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
đến giảm rủi ro tài chính cho ngân hàng. Tuy nhiên, việc này dẫn đến làm
giảm thu nhập của cổ đông, nếu kéo dài sẽ ảnh hưởng tới giá của cổ
phiếu cũng như lòng tin của các nhà đầu tư.
Ngược lại, khi tỷ lệ lợi nhuận giữ lại ở mức thấp do tỷ lệ chi trả
cổ tức cao sẽ dẫn đến tăng trưởng vốn chậm chạp, có thể làm giảm khả
năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản.
Vì vậy, nếu một ngân hàng có tỷ lệ lợi nhuận giữ lại để bổ sung vốn
tự có ổn định qua các năm và tương ứng với tốc độ tăng trưởng tài sản có
thì chứng tỏ ngân hàng đang có một sự phát triển ổn định, thể hiện mức
độ ủng hộ cao của các cổ đông đối với chính sách cổ tức của ban lãnh
đạo ngân hàng.
4. Cổ phần hoá
Đây là biện pháp tăng vốn của các ngân hàng thương mại nhà nước.
Thực chất của việc cổ phần hoá là việc chuyển đổi hình thức sở hữu từ sở
hữu nhà nước sang cổ phần bằng biện pháp phát hành cổ phiếu.
Trong thời kỳ kinh tế ngày càng phát triển, vấn đề hội nhập càng
ngày càng trở nên cấp thiết hơn đòi hỏi các ngân hàng cần phải có một
tiềm lực tài chính thật lớn mạnh mà nếu chỉ trông chờ vào phần vốn cấp
của nhà nước thì không đủ.
Khi cổ phần hoá các ngân hàng thương mại nhà nước trở thành các
ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước sẽ có rất nhiều lợi thế:
Tăng quy mô vốn của ngân hàng lên và đa dạng thêm nhiều
nguồn bổ xung vốn như: Vốn của nhân dân, nhà đầu tư nước ngoài, các
tập đoàn tài chính
Khi các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn tài chính lớn trở
thành cổ đông, các ngân hàng thương mại cổ phần nhà nước có thể được
tiếp xúc với cách thức quản lý mới, khoa học công nghệ mới nhằm nâng
cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Tuy trở thành ngân hàng thương mại cổ phần song lượng cổ
phần bán ra tối đa cho các nhà đầu tư là 49%, tức là nhà nước vẫn chiếm
cổ phần cao hơn là 51%, nên vẫn có thể kiểm soát hoạt động của ngân
hàng theo chiến lược của mình.
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
13
“Vốn tự có của ngân hàng thương mại Việt nam và các biện pháp tăng cường vốn tự có!”
Chương 2
THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN
THỰC TRẠNG NGUỒN VỐN TỰ CÓ CỦA CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
I. Tình hình tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại trước
khi Việt Nam ra nhập WTO
Trong những năm đầu của thế kỷ mới, khi nhà nước vẫn đang từng
bước thoả thuận với các nước trong tổ chức thương mại thế giới về việc
Việt nam ra nhập WTO, thì các doanh nghiệp trong nước cũng từng bước
thay đổi mình để chuẩn bị cho quá trình Việt nam hội nhập_Cơ hội thì
lớn nhưng thách thức cũng rất lớn!
Riêng trong lĩnh vực tài chính_ngân hàng, từ năm 1990, cơ chế đổi
mới ngân hàng được hoàn thiện thông qua việc công bố hai Pháp lệnh
ngân hàng vào ngày 24.5.1990 (Pháp lệnh Ngân hàng Nhà nước VN và
Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) đã chính
thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống NHVN từ “một cấp” sang
“hai cấp”. Theo đó, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực thi nhiệm vụ
quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và ngân hàng;
là ngân hàng duy nhất được phát hành tiền, là ngân hàng của các ngân
hàng, là ngân hàng của Nhà nước…, còn hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín
dụng, dịch vụ ngân hàng do các tổ chức tín dụng thực hiện. Các tổ chức
tín dụng bao gồm: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương
mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, hợp
tác xã tín dụng, công ty tài chính. Tháng 12.1997 trước yêu cầu cao của
thực tiễn hai Pháp lệnh ngân hàng đã được Quốc hội nâng lên thành hai
luật về ngân hàng là luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín
dụng(có hiệu lực từ ngày 1.10.1998) và sau đó Luật NHNN và Luật các
TCTD được sửa đổi và bổ sung vào năm 2003, 2004.
Trải qua chặng đường trên, hệ thống NHTM VN đã không ngừng
phát triển về quy mô (vốn điều lệ không ngừng gia tăng, mạng lưới chi
nhánh…), chất lượng hoạt động và hiệu quả trong kinh doanh.
Mạng lưới ngân hàng thương mại VN đến cuối năm 2005 đã có
những bước phát triển mạnh phủ khắp các quận, huyện, tỉnh thành. Hệ
thống NHTM ở nước ta bao gồm: 5 NHTM nhà nước (Ngân hàng ngoại
thương VN, Ngân hàng đầu tư và phát triển VN, Ngân hàng công thương
VN, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng phát
Vũ Văn Hải_505411036
Vũ Văn Hải_505411036
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét