Thứ Bảy, 15 tháng 2, 2014

1137

Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
kinh tế thị trờng cạnh tranh là một yêu cầu tất yếu, doanh nghiệp nếu không thích
ứng đợc với quy luật cạnh tranh thì sẽ bị loại bỏ và dẫn đến phá sản.
Tuy nhiên bên cạnh những đặc điểm trên có thể coi là những u điểm của
nền kinh tế thị trờng thì vẫn còn tồn tại một số nhợc điểm đó là tình trạng phân
hoá giầu nghèo, lạm phát, khủng hoảng nền kinh tế, thất nghiệp ngày càng tăng,
do chạy theo lợi nhuận nên việc khai thác và sử dụng tài nguyên một cách vô tội
vạ, phá huỷ môi trờng. Cạnh tranh là động lực của nền kinh tế song bản thân cạnh
tranh lại cũng chứa đựng những nhân tố tạo ra sự đối lập với nó, đó là độc quyền,
mà độc quyền chính là cơ sở để làm nảy sinh những quan hệ cạnh tranh không
lành mạnh, gây thiệt hại cho ngời tiêu dùng và xã hội. Chính vì những nhợc điểm
này nên rất cần có sự can thiệp, điều tiết vĩ mô của Nhà nớc đối với nền kinh tế.
Hiện nay Nhà nớc ta đang xây dựng một nền kinh tế thị trờng theo định h-
ớng xã hội chủ nghĩa, đó là một yêu cầu khách quan nhằm phát triển lực lợng sản
xuất qua đó phù hợp với xu thế của thời đại và phù hợp với nguyện vọng của nhân
dân ta.
2. Đặc điểm kế toán nghiệp vụ tiêu thụ thành phẩm trong các doanh
nghiệp sản xuất.
Tiêu thụ thành phẩm là giai đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất kinh
doanh trong doanh nghiệp sản xuất, là giai đoạn có tính quyết định tới sự tồn tại và
phát triển của doanh nghiệp . Thành phẩm mà doanh nghiệp sản xuất ra bán đợc
nhiều sẽ bù đắp đợc những chi phí doanh nghiệp bỏ ra, giúp doanh nghiệp thu hồi
lại vốn để tiếp tục tái sản xuất sản phẩm đem lại hiệu quả sản xuất kinh doanh và
lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó doanh nghiệp mới có điều kiện để nâng
cao và phát triển sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Ngợc lại, nếu sản phẩm
sản xuất ra không đợc thị trờng chấp nhận , không bán đợc sẽ gây ứ đọng vốn, dẫn
đến sản xuất bị ngng trệ, quay vòng vốn chậm, không có vốn để tiếp tục quá trình
tái sản xuất Nếu tình trạng đó không đợc khắc phục, lâu ngày sẽ dẫn doanh
nghiệp đến bờ vực của sự phá sản. Do vậy, với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn
đứng vững trên thị trờng phải luôn xác định đợc khả năng của doanh nghiệp mình,
doanh nghiệp sẽ kinh doanh mặt hàng nào, đối tợng phục vụ là ai, kinh doanh
theo hình thức nào tức là doanh nghiệp phải hoạch định đợc chiến lợc kinh
doanh của mình từ khâu sản xuất cho đến khâu tiêu thụ thành phẩm và xác định
5
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
kết quả kinh doanh có nh vậy mới đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh
nghiệp mình.
2.1. Các phơng thức tiêu thụ :
2.1.1. Phơng thức bán buôn:
Bán buôn là việc bán hàng cho các doanh nghiệp sản xuất hoặc các doanh
nghiệp thơng mại. Kết thúc quá trình này, hàng hoá thành phẩm vẫn nằm trong
lĩnh vực lu thông. Đặc điểm của phơng thức này là số lợng bán một lần lớn nên
doanh nghiệp thờng lập chứng từ cho từng lần bán và kế toán tiến hành ghi sổ sau
mỗi nghiệp vụ kinh tế phát sinh.
Phơng thức này đợc tiến hành theo 2 hình thức sau:
- Hình thức giao hàng trực tiếp : Theo hình thức này, bên mua cử đại diện
đến doanh nghiệp sản xuất để nhận hàng, doanh nghiệp sản xuất giao trực tiếp cho
đại diện bên mua. Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, đã thanh toán tiền hoặc
chấp nhận nợ, hàng bán đợc xác định là tiêu thụ.
- Hình thức chuyển hàng : Theo hình thức này, căn cứ vào hợp đồng đã
ký kết, doanh nghiệp sản xuất bằng phơng tiện vận tải của mình hoặc thuê ngoài,
chuyển hàng đến giao cho bên mua ở một địa điểm đã thoả thuận. Thành phẩm
chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Số thành phẩm này đợc xác
định là tiêu thụ khi nhận đợc tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên
mua đã nhận đợc hàng và chấp nhận thanh toán. Chi phí vận chuyển do doanh
nghiệp sản xuất chịu hay bên mua chịu là theo sự thoả thuận từ trớc giữa hai bên
trong hợp đồng.
2.1.2. Phơng thức bán lẻ:
Bán lẻ là bán hàng trực tiếp cho ngời tiêu dùng, ngời bán giao hàng cho
khách và thu tiền của khách hàng. Phơng thức bán lẻ diễn ra ở các quầy hàng
nhằm phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng của dân c và đợc tiến hành theo các hình thức
sau:
- Bán hàng thu tiền trực tiếp : Theo hình thức này, nhân viên bán hàng vừa
là ngời trực tiếp thu tiền, giao hàng cho khách và ghi hàng đã bán vào thẻ quầy
hàng. Cuối ngày hoặc cuối ca nhân viên bán hàng kiểm kê, nộp tiền bán hàng cho
thủ quỹ hoặc nộp thẳng vào ngân hàng, đồng thời kiểm kê hàng hoá, xác định lợng
hàng bán và lập bảng kê bán lẻ hàng hoá dịch vụ.
6
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
- Bán hàng thu tiền tập trung : Hình thức này tách rời nghiệp vụ bán hàng
và thu tiền tức là việc thu tiền của ngời mua và giao hàng cho ngời mua tách rời
nhau. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ viết hoá đơn và thu
tiền mua hàng của khách. Khi mua hàng, trớc tiên khách hàng đến bàn viết hóa
đơn mua hàng rồi thanh toán tiền hàng, sau đó đem hoá đơn đi nhận hàng do nhân
viên bán hàng giao. Hết ngày nhân viên bán hàng căn cứ vào hoá đơn bán hàng để
xác định lợng hàng đã bán trong ngày và lập báo cáo bán hàng.
- Bán hàng tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chọn
lấy hàng hoá, mang đến bàn tính tiền để tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân
viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hoá đơn bán hàng và thu tiền của khách
hàng. Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hớng dẫn khách hàng và bảo quản hàng
hoá ở quầy do mình phụ trách.
- Bán hàng tự động: Là hình thức bán lẻ hàng hoá mà trong đó các doanh
nghiệp sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên dùng cho một hoặc một vài loại
hàng hoá nào đó đặt ở các nơi công cộng, sau khi ngời mua bỏ tiền vào máy, máy
sẽ tự động đẩy hàng ra cho ngời mua.
2.1.3. Phơng thức bán hàng gửi đại lý :
Theo phơng thức này doanh nghiệp sản xuất giao hàng cho cơ sở đại lý,
bên nhận đại lý sẽ trực tiếp bán hàng và phải thanh toán tiền hàng cho doanh
nghiệp sản xuất, đợc hởng hoa hồng đại lý bán. Số thành phẩm gửi đại lý vẫn
thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp sản xuất, số thành phẩm này đợc xác định là
tiêu thụ khi doanh nghiệp nhận đợc tiền do bên nhận đại lý thanh toán hoặc chấp
nhận thanh toán hoặc thông báo về số hàng đã bán đợc, doanh nghiệp khi đó mới
mất quyền sở hữu về số hàng này.
2.1.4. Phơng thức bán hàng trả góp :
Theo phơng thức này, ngời mua đợc trả tiền mua hàng thành nhiều lần. Số
lần trả và số tiền trả trong từng lần là tuỳ theo sự thoả thuận giữa hai bên mua bán.
Ngoài số tiền thu theo giá bán thông thờng, doanh nghiệp còn thu thêm của ngời
mua một khoản lãi do trả chậm.
2.2. Phạm vi hàng bán và thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng:
2.2.1. Phạm vi hàng bán:
7
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
Trong doanh nghiệp sản xuất hàng hoá, thành phẩm đợc coi là bán phải
đảm bảo các điều kiện sau:
- Phải thông qua mua bán và thanh toán bằng tiền theo một hình thức
thanh toán nhất định.
- Hàng hoá, thành phẩm bán ra thuộc diện sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
- Bên bán mất quyền sở hữu về hàng hoá, thành phẩm và đã thu đợc tiền
hoặc có quyền đòi tiền của ngời mua.
Các trờng hợp xuất hàng đặc biệt đợc coi là bán:
- Hàng hoá xuất để thanh toán tiền lơng, tiền thởng cho công nhân viên,
thanh toán thu nhập cho các bên tham gia liên doanh.
- Trờng hợp hàng hoá xuất đổi để lấy hàng hoá khác (còn gọi là bán hàng
thanh toán bằng hàng hay còn gọi là hàng hoá đối lu).
- Hàng hoá xuất làm quà biếu, tặng thởng đợc trang trải bằng các quỹ khen
thởng, quỹ phúc lợi.
- Hàng hoá xuất dùng trong nội bộ doanh nghiệp, sử dụng phục vụ cho
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp kể cả trờng hợp xuất hàng quảng cáo tiếp
thị.
- Hàng hoá hao hụt tổn thất trong khâu bán theo hợp đồng bên mua chịu.
2.2.2. Thời điểm ghi nhận doanh thu bán hàng:
Theo chuẩn mực số 14 về doanh thu và thu nhập khác ban hành và công bố
theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ trởng Bộ tài chính
thì doanh thu bán hàng đợc ghi nhận khi đồng thời thoả mãn 5 điều kiện sau:
a. Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho ngời mua.
Doanh nghiệp phải xác định thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi
ích gắn liền với quyền sở hữu cho ngời mua trong từng trờng hợp cụ thể :
- Theo hình thức giao hàng trực tiếp thì thời điểm chuyển giao rủi ro và lợi
ích gắn liền với quyền sở hữu cho ngời mua là sau khi hàng hoá, thành phẩm đợc
giao cho bên mua, bên mua ký nhận đủ hàng, đã trả tiền hoặc chấp nhận nợ.
8
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
- Theo hình thức chuyển hàng thì thời điểm chuyển giao này là khi bên
bán nhận đợc tiền do bên mua thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận đợc
hàng và chấp nhận thanh toán.
- Theo hình thức gửi đại lý bán thì thời điểm chuyển giao rủi ro và lợi ích
gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa là khi doanh nghiệp nhận đợc tiền do bên nhận
đại lý thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
- Theo hình thức bán lẻ, bán trả góp thì thời điểm chuyển giao này là lúc
giao hàng cho ngời mua, ngời mua thanh toán toàn bộ tiền hoặc thanh toán một
phần.
Trong hầu hết các trờng hợp, thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro trùng
với thời điểm chuyển giao lợi ích gắn liền với quyền sở hữu hợp pháp hoặc quyền
kiểm soát hàng hoá cho ngời mua.
b. Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lí hàng hoá nh ngời sở
hữu hàng hoá hoặc quyền kiểm soát hàng hoá. Trờng hợp doanh nghiệp vẫn còn
chịu phần lớn rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hóa thì giao dịch không đợc
coi là hoạt động bán hàng và doanh thu không đợc ghi nhận. Nếu doanh nghiệp
chỉ còn chịu một phần nhỏ rủi ro gắn liền với quyền sở hữu hàng hoá thì việc bán
hàng đợc xác định và doanh thu đợc ghi nhận.
c. Doanh thu đợc xác định tơng đối chắc chắn tức là đã xác định đợc tơng
đối chắc chắn về thời điểm chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với
quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho ngời mua.
d. Doanh nghiệp đã thu đợc hoặc sẽ thu đợc lợi ích kinh tế từ giao dịch bán
hàng. Trờng hợp lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng còn phụ thuộc yếu tố không
chắc chắn thì chỉ ghi nhận doanh thu khi yếu tố không chắc chắn này đã xử lý
xong.
e. Xác định đợc chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng. Doanh thu và
chi phí liên quan tới cùng một giao dịch phải đợc ghi nhận đồng thời theo nguyên
tắc phù hợp. Các chi phí, bao gồm cả chi phí phát sinh sau ngày giao hàng thờng
đợc xác định chắc chắn khi các điều kiện ghi nhận doanh thu đợc thoả mãn.
2.3. Các phơng thức thanh toán:
Thực hiện nghiệp vụ tiêu thụ hàng hoá, thành phẩm, vốn của doanh nghiệp
chuyển từ hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ. Doanh nghiệp mất quyền sở
9
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
hữu về hàng hoá thành phẩm nhng lại đợc quyền sở hữu một lợng tiền tệ nhất định
do bên mua chi trả. Việc thanh toán tiền hàng có thể tiến hành ngay hoặc trả chậm
hoặc trả dần do hai bên tự thoả thuận. Phơng thức thanh toán thể hiện sự tín nhiệm
lẫn nhau giữa hai bên mua và bán, đồng thời nó cũng gắn liền với sự vận động
giữa hàng hoá với số tiền vốn , đảm bảo cho hai bên cùng có lợi.
Hiện nay, doanh nghiệp thờng áp dụng 2 phơng thức thanh toán : thanh
toán trực tiếp và thanh toán không trực tiếp.
2.3.1. Phơng thức thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt :
Đây là hình thức thanh toán mà ngời mua sau khi nhận đợc vật t, hàng hoá
do bên bán cung cấp thì tiến hành thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt cho bên bán.
Thông thờng hình thức thanh toán bằng tiền mặt thờng đợc áp dụng đối với hàng
hoá tiêu thụ trong nớc, các bên có khoảng cách địa lý gần nhau. Đối với các mặt
hàng bán với số lợng ít, bán lẻ, các khoản chi về vận chuyển thờng đợc thanh
toán ngay bằng tiền mặt .
2.3.2. Phơng thức thanh toán qua ngân hàng :
Trong điều kiện nền kinh tế phát triển nh hiện nay thì ngân hàng giữ vai
trò quan trọng trong quan hệ thanh toán tiền hàng giữa ngời mua và ngời bán, các
phơng thức thanh toán qua ngân hàng cũng rất phong phú đa dạng, việc lựa chọn
phơng thức nào là phụ thuộc và điều kiện của mỗi bên và sự thoả thuận giữa bên
mua và bên bán. Các phơng thức thanh toán qua ngân hàng gồm :
a. Thanh toán bằng séc:
Séc là một mệnh lệnh trả tiền vô điều kiện do chủ tài khoản ký phát ra lệnh
cho ngân hàng trích tiền trên tài khoản tiền gửi của mình để trả cho ngời có tên
trên séc, hoặc theo lệnh của ngời đó trả cho một ngời khác một số tiền nhất định
bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản.
Thanh toán bằng séc là một phơng thức thanh toán đợc áp dụng phổ biến ở
nhiều nớc trên thế giới, ở Việt Nam phơng thức này đã đợc áp dụng từ những năm
1960 và ngay càng trở nên phổ biến.
b. Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi:
ủy nhiệm chi là một tờ lệnh chi tiền do chủ tài khoản phát hành theo mẫu
in sẵn của ngân hàng trích từ tài khoản tiền gửi của mình để trả cho một ngời khác
10
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
hoặc đáp ứng cho các nhu khác trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp .
Thanh toán bằng uỷ nhiệm chi đợc áp dụng khi quan hệ mua bán diễn ra
thờng xuyên, đồng thời đơn vị mua là một khách hàng truyền thống của doanh
nghiệp, mặt khác doanh nghiệp có thể khống chế đơn vị mua thông qua việc cung
cấp hàng hoá. Theo hình thức này, độ an toàn về việc thu tiền hàng của doanh
nghiệp là không cao, rủi ro trong thanh toán cao.
c. Thanh toán bằng ủy nhiệm thu :
ủy nhiệm thu là một tờ lệnh thu tiền do ngời bán ký phát ủy thác cho ngân
hàng phục vụ mình thu hộ số tiền về giá trị hàng hoá đã giao. Hình thức này đợc
áp dụng đối với những đơn vị có mức độ tín nhiệm tơng đối cao trong quan hệ mua
bán. Theo hình thức này, doanh nghiệp sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng cho
ngời mua thì sẽ lập uỷ nhiệm thu cùng các chứng từ, hoá đơn liên quan chứng
minh hàng hoá đã đợc chuyển giao rồi gửi tới ngân hàng phục vụ mình nhờ thu hộ
số tiền trên.
d. Thanh toán bằng th tín dụng (L/C ):
Th tín dụng là một bảng cam kết của ngân hàng bên mua sẽ trả tiền cho
đơn vị bán nếu đơn vị bán xuất trình đợc một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với
nội dung và yêu cầu của th tín dụng.Thanh toán bằng th tín dụng đợc áp dụng đối
với trờng hợp hai bên mua bán không tín nhiệm lẫn nhau, đơn vị bán đòi hỏi đơn
vị mua phải có đủ tiền để thanh toán ngay, nó còn đợc áp dụng với các chủ thể vi
phạm kỷ luật thanh toán trong thời gian thực thi quyết định xử phạt của ngân hàng.
Đây là hình thức thanh toán đợc áp dụng phổ biến hiện nay, ở hình thức này ngân
hàng đóng vài trò là ngời đứng ra cam kết thanh toán, do đó doanh nghiệp tránh đ-
ợc rủi ro trong thanh toán, quyền lợi của doanh nghiệp luôn đợc bảo đảm khi
doanh nghiệp thực hiện đúng hợp đồng, tiền hàng thu về đợc an toàn hơn.
e. Thanh toán bằng thẻ thanh toán :
Thẻ thanh toán là một phơng tiện do ngân hàng phát hành cho các đơn vị,
tổ chức kinh tế, các cá nhân để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc rút tiền mặt
tại các ngân hàng, đại lý hay các quầy trả tiền mặt tự động của ngân hàng, Thẻ
thanh toán bao gồm ba loại : Thẻ ký quỹ, thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng.
11
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
f. Phơng thức thanh toán bù trừ :
Phơng thức này đợc áp dụng giữa các đơn vị có quan hệ giao dịch tín
nhiệm lẫn nhau, theo định kỳ các bên tiến hành cung cấp hàng hoá dịch vụ cho
nhau và thông báo cho ngân hàng về số d nợ trên tài khoản của mình để ngân hàng
tiến hành bù trừ.
Phơng thức thanh toán qua ngân hàng có nhiều u điểm hơn so với phơng
thức thanh toán trực tiếp đó là đảm bảo sự an toàn về vốn cho doanh nghiệp, việc
thanh toán đợc tiến hành nhanh, chống tham nhũng lãng phí, chống lạm phát, ổn
định giá cả và góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển
2.4. Giá thành phẩm trong khâu bán.
2.4.1. Giá bán thành phẩm :
Nguyên tắc xác định:
Giá cả hàng hoá luôn luôn là vấn đề quan trọng đợc quan tâm hàng đầu
đối với cả ngời mua và ngời bán, vì vậy cần phải xác định giá bán sao cho phù hợp
với cả hai bên mua bán. Khi hàng hoá đợc cung cấp đầy đủ, dồi dào từ nhiều
nguồn khác nhau, mẫu mã bao bì đa dạng phong phú thì giá cả là yếu tố cạnh
tranh lớn nhất trong việc chiếm lĩnh thị trờng. Do vậy, việc xác lập giá bán phải
đạt đợc các mục tiêu sau:
- Giá bán phải kích thích khối lợng hàng hoá bán ra và đợc tiêu thụ một
cách tối đa.
- Xác định giá bán phải đảm bảo cho doanh nghiệp thu đợc lợi nhuận.
Giá bán cao hay thấp tuỳ thuộc vào khối lợng bán ra và phơng thức bán
nhng nó phải đợc xác định dựa trên nguyên tắc giá thị trờng. Trên thị trờng, giá cả
thị trờng đợc hình thành do ngời mua và ngời bán thoả thuận với nhau, việc xác
định giá bán thành phẩm phải dựa trên nguyên tắc giá thị trờng tức là phải phản
ánh đợc giá trị xã hội của hàng hoá, thành phẩm phù hợp với sức mua của đồng
tiền và quan hệ cung cầu. Mặt khác nó phải đảm bảo cho ngời sản xuất kinh doanh
bù đắp đợc các chi phí và có lãi cần thiết. Giá bán hàng hoá, thành phẩm chính là
giá thoả thuận giữa ngời mua và ngời bán ghi trên hoá đơn và trong các hợp đồng
mua bán.
12
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
Phơng pháp xác định: Giá bán thực tế của thành phẩm là cơ sở để ghi
nhận doanh thu và đợc xác định theo công thức sau:
Giá bán
thành phẩm
=
Giá thành sản xuất thực
tế của thành phẩm
+
Thặng số
thơng mại
Thặng số thơng mại là một khoản lợi nhuận nhất định dùng để bù đắp chi
phí, thuế và hình thành lợi nhuận cho doanh nghiệp. Nó đợc tính theo tỉ lệ phần
trăm trên giá thành sản xuất thực tế của thành phẩm đã tiêu thụ :
Thặng số thơng mại = Giá thành sản xuất thực tế x % thặng số
Trong cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp đợc quyền xác định giá bán của
thành phẩm, hàng hoá. Nhà nớc chỉ khống chế giá đối với một số mặt hàng chiến
lợc nh : điện, nớc, xăng dầu nhng cũng chỉ trong một khung giá nhất định, do đó tỉ
lệ % thặng số trong cơ chế thị trờng luôn biến động linh hoạt phù hợp với thị tr-
ờng.
2.4.2. Giá vốn hàng bán :
Để đa ra đợc giá bán hàng hoá, thành phẩm hợp lý, doanh nghiệp phải xác
định đợc giá vốn hàng bán để làm căn cứ ghi sổ, cuối kỳ xác định hiệu quả của
hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong thực tế, do giá cả của hàng hoá và nguyên
vật liệu mua vào luôn biến động do đó đơn giá của hàng hoá mỗi lần nhập kho là
khác nhau điều này đòi hỏi kế toán phải có một phơng pháp nhất định để xác định
trị giá hàng hoá xuất kho trên cơ sở các đơn giá nhập kho tơng ứng.
Hiện nay, có nhiều cách tính trị giá vốn hàng bán khác nhau, tuỳ thuộc
vào đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp mà lựa chọn
phơng pháp nào cho phù hợp :
a. Phơng pháp bình quân gia quyền :
Theo phơng pháp này trớc hết phải tính giá mua bình quân của hàng hoá,
thành phẩm theo công thức :
Trị giá thực tế bình quân
của 1 đơn vị thành
phẩm, hàng hoá
=
Trị giá thựctế của thành
phẩm, hàng hoá tồn kho
đầu kỳ
+
Trị giá thực tế của thành
phẩm, hàng hoá nhập kho
trong kỳ
Số lợng thành phẩm
hàng hoá tồn kho đầu kỳ
+
Số lợng thành phẩm,
hàng hoá nhập kho trong kỳ
13
Luận văn tốt nghiệp Nguyễn Thị Quỳnh Phơng K35 D5
Sau đó tính trị giá vốn của từng loại thành phẩm, hàng hoá xuất bán trong
kỳ theo công thức :
Trị giá vốn của thành
phẩm, hàng hoá xuất
bán trong kỳ
=
Tổng số lợng thành
phẩm, hàng hoá xuất
bán trong kỳ
x
Giá bình quân 1
đơn vị thành phẩm,
hàng hoá
Phơng pháp này tuy đơn giản nhng mức chính xác không cao, công việc
tính giá lại thực hiện vào cuối tháng nên ảnh hởng đến độ chính xác và tính kịp
thời của thông tin kế toán. Phơng pháp này có khuynh hớng che dấu sự biến động
của giá cả, cách tính này chỉ thích hợp với các doanh nghiệp hạch toán hàng tồn
kho theo phơng pháp kiểm kê định kỳ.
b. Phơng pháp nhập trớc - xuất trớc :
Phơng pháp này dựa trên giả thiết lô hàng nhập kho trớc sẽ đợc xuất kho
trớc, vì vậy hàng tồn kho đầu kỳ giả định là xuất kho trớc tiên, số hàng hoá thành
phẩm xuất thêm sau đó đợc xuất theo đúng thứ tự nh chúng đợc mua vào nhập
kho. Việc tính giá vốn hàng bán theo phơng pháp này có u điểm là gía vốn của
hàng tồn kho trên báo cáo kế toán sát với thị trờngtại thời điểm lập báo cáo. Nhng
nhợc điểm của phơng pháp này là đòi hỏi kho bảo quản phải thuận tiện cho việc
theo dõi tình hình nhập xuất theo từng lần, trị giá hàng hoá xuất kho thờng bị phản
ánh kém chính xác, đặc biệt trong trờng hợp có sự biến động tăng lên về giá cả.
c. Phơng pháp nhập sau - xuất trớc :
Phơng pháp này dựa trên giả thiết hàng nhập sau cùng sẽ đợc xuất trớc
tiên, giá hàng hoá thành phẩm xuất kho sẽ tính theo giá của lô hàng nhập sau
cùng. Phơng pháp này có u điểm là trị giá hàng hoá xuất kho đợc xác định tơng
đối sát với giá thị trờng tại thời điểm xuất kho hàng hoá, nhng trị giá hàng hoá tồn
kho bị xác định kém chính xác, đặc biệt trong trờng hợp có sự biến động giảm về
giá cả.
d. Phơng pháp thực tế đích danh :
Phơng pháp này dựa trên cơ sở xuất kho hàng hoá thuộc lô hàng nào thì
lấy đúng giá vốn của lô hàng đó để tính giá vốn hàng xuất kho, áp dụng phơng
pháp này trong trờng hợp kế toán nhận diện đợc từng lô hàng, từng loại hàng hoá
tồn kho, từng lần mua vào và từng đơn giá theo từng hoá đơn của chúng. Phơng
14

Xem chi tiết: 1137


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét