sinh hành vi và những thông tin liên quan để đánh giá ảnh hưởng có thể có đến báo cáo tài
chính.
25. Khi xét thấy các hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định có ảnh hưởng đến báo
cáo tài chính, kiểm toán viên phải xem xét đến:
- Khả năng xảy ra hậu quả về tài chính, thậm chí dẫn đến rủi ro buộc đơn vị được kiểm toán
phải ngừng hoạt động;
- Sự cần thiết phải giải trình hậu quả về tài chính trong phần Thuyết minh báo cáo tài chính;
- Mức độ ảnh hưởng đến tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.
26. Khi có nghi ngờ hoặc khi đã phát hiện có hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định,
kiểm toán viên phải ghi lại và lưu hồ sơ kiểm toán những phát hiện đó và thảo luận với Giám
đốc (hoặc người đứng đầu) của đơn vị được kiểm toán. Hồ sơ lưu bao gồm bản trích sao
chứng từ, sổ kế toán, biên bản họp và các tài liệu khác có liên quan.
27. Trường hợp Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị không cung cấp đầy đủ thông tin
chứng minh rằng đơn vị tuân thủ đúng pháp luật và các quy định thì kiểm toán viên và công ty
kiểm toán cần thảo luận, trao đổi với các chuyên gia tư vấn pháp luật hoặc cơ quan chức năng
có liên quan về các hành vi bị nghi ngờ là không tuân thủ ảnh hưởng đến báo cáo tài chính.
Việc trao đổi này giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán hiểu rõ thêm về những hậu quả
xảy ra và những biện pháp phải tiếp tục thực hiện.
28. Trường hợp không thể thu thập được đầy đủ thông tin để xoá bỏ nghi ngờ về hành vi không
tuân thủ pháp luật và các quy định, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải xem xét ảnh
hưởng của việc thiếu bằng chứng và phải trình bày điều đó trong báo cáo kiểm toán.
29. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải phân tích hậu quả của việc không tuân thủ pháp
luật và các quy định liên quan đến công việc kiểm toán, nhất là đối với độ tin cậy vào các bản
giải trình của Giám đốc. Kiểm toán viên phải đánh giá lại rủi ro và xem xét lại các bản giải trình
của Giám đốc trong các trường hợp:
- Hệ thống kiểm soát nội bộ không phát hiện và không ngăn ngừa được hành vi không tuân
thủ;
- Hành vi không tuân thủ không được nêu trong bản giải trình, đặc biệt là những hành vi mà
đơn vị cố tình che dấu.
Thông báo những hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định
Thông báo cho Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị được kiểm toán
30. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải thông báo cho Giám đốc (hoặc người đứng
đầu) đơn vị về các hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định do kiểm toán viên phát
hiện được. Kiểm toán viên được phép không phải thông báo những hành vi không tuân thủ nếu
xác định là không gây hậu quả đáng kể, trừ trường hợp kiểm toán viên và đơn vị có thoả thuận
khác.
31. Nếu kiểm toán viên và công ty kiểm toán xác định các hành vi không tuân thủ pháp luật và
các quy định là cố ý và có ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính thì phải thông báo ngay
phát hiện của mình bằng văn bản cho Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị.
32. Nếu kiểm toán viên và công ty kiểm toán phát hiện Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị
có liên quan đến các hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định làm ảnh hưởng trọng
yếu đến báo cáo tài chính thì phải tham khảo ý kiến của chuyên gia pháp luật và báo cáo lên
cấp cao hơn của đơn vị được kiểm toán.
Thông báo cho người sử dụng báo cáo kiểm toán về báo cáo tài chính
33. Nếu kiểm toán viên kết luận là những hành vi không tuân thủ pháp luật và các quy định làm
ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính nhưng không được phản ảnh đúng trong báo cáo
tài chính mặc dù kiểm toán viên đã đề nghị sửa đổi, điều chỉnh thì kiểm toán viên phải đưa ra ý
kiến chấp nhận từng phần, hoặc ý kiến không chấp nhận.
34. Nếu đơn vị không tạo điều kiện cho kiểm toán viên thu thập được đầy đủ bằng chứng kiểm
toán thích hợp để đánh giá các hành vi không tuân thủ pháp luật và các qui định có ảnh hưởng
trọng yếu đến báo cáo tài chính, thì kiểm toán viên phải đưa ra ý kiến chấp nhận từng phần,
hoặc ý kiến từ chối đưa ra ý kiến vì bị hạn chế về phạm vi kiểm toán.
35. Nếu không thể thu thập được đầy đủ bằng chứng về các hành vi không tuân thủ pháp luật
và các quy định đã xảy ra thì kiểm toán viên phải xem xét ảnh hưởng của nó đến báo cáo kiểm
toán.
Thông báo cho cơ quan chức năng có liên quan
36. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán có trách nhiệm bảo mật các thông tin, số liệu của
khách hàng. Tuy nhiên, nếu đơn vị được kiểm toán có hành vi không tuân thủ pháp luật và các
quy định thì tuỳ theo yêu cầu của pháp luật, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thông báo
hành vi đó cho cơ quan chức năng có liên quan. Trường hợp này, kiểm toán viên được phép
trao đổi trước với chuyên gia tư vấn pháp luật.
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán rút khỏi hợp đồng kiểm toán
37. Khi xét thấy đơn vị được kiểm toán không có biện pháp cần thiết để xử lý các hành vi, hoặc
những biểu hiện không tuân thủ pháp luật và các quy định, kể cả những hành vi không ảnh
hưởng trọng yếu đến báo cáo tài chính, thì công ty kiểm toán được phép chấm dứt hợp đồng
kiểm toán. Công ty kiểm toán phải cân nhắc kỹ lưỡng và trao đổi với chuyên gia tư vấn pháp
luật trước khi đưa ra quyết định này.
38. Khi kiểm toán viên khác được thay thế yêu cầu cung cấp thông tin về khách hàng, kiểm
toán viên hiện tại phải có trách nhiệm:
- Nếu khách hàng cho phép thảo luận về công việc của họ thì kiểm toán viên hiện tại phải đưa
ra những thông tin về hành vi không tuân thủ pháp luật và các qui định, lý do chấm dứt hợp
đồng và khuyến nghị với kiểm toán viên khác được thay thế nên từ chối hoặc chấp nhận hợp
đồng;
- Nếu khách hàng không cho phép thảo luận về công việc của họ thì kiểm toán viên và công ty
kiểm toán hiện tại cũng phải thông báo về việc không cho phép này cho kiểm toán viên được
thay thế./.
PHỤ LỤC SỐ 01: CÁC DẤU HIỆU CHỦ YẾU DẪN ĐẾN HÀNH VI KHÔNG TUÂN THỦ PHÁP
LUẬT VÀ CÁC QUY ĐỊNH
- Đã có sự kiểm tra, thanh tra, điều tra của cơ quan chức năng có liên quan về việc vi
phạm pháp luật và các qui định, như vay mượn, quan hệ thanh toán, tiền phạt ;
- Có những khoản thanh toán không rõ ràng, hoặc cho các đối tượng là những người có
chức, có quyền vay;
- Các khoản chi phí trả cho các dịch vụ quá cao so với các doanh nghiệp khác cùng ngành
hoặc so với giá trị bản thân dịch vụ nhận được;
- Giá cả mua bán quá cao hoặc quá thấp so với mức giá của thị trường;
- Doanh nghiệp có những quan hệ không bình thường với những công ty có nhiều đặc
quyền, kinh doanh quá thuận lợi hoặc những công ty có vấn đề nghi vấn;
- Thanh toán hàng hoá và dịch vụ cho một nước khác với nước sản xuất hoặc cung cấp
hàng hoá, dịch vụ đó;
- Không có chứng từ mua bán hợp lệ, thích hợp khi thanh toán;
- Chấp hành không đúng, không đầy đủ chế độ kế toán phải thực hiện;
- Những nghiệp vụ thu, chi không được phê duyệt hoặc những nghiệp vụ ghi chép sai quy
định;
- Đơn vị đã bị tố giác, hoặc đã có dư luận không tốt trên các phương tiện thông tin đại
chúng hoặc từ xã hội;
- Kết quả sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp không ổn định, báo cáo kết quả hoạt
động kinh doanh thường xuyên biến động;
- Chi phí quản lý, chi phí quảng cáo quá cao;
- Bổ nhiệm kế toán trưởng không đúng quy định;
- Thực hiện chế độ kiểm kê không đúng quy định.
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM
CHUẨN MỰC SỐ 310 HIỂU BIẾT VỀ TÌNH HÌNH KINH DOANH
(Ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTC ngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính )
QUY ĐỊNH CHUNG
01. Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể
thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản để tìm hiểu tình hình kinh doanh và việc sử dụng
những hiểu biết đó trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính.
02. Để thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải có hiểu biết cần thiết, đầy đủ
về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá và phân tích được các sự kiện, nghiệp vụ và thực tiễn
hoạt động của đơn vị được kiểm toán mà theo kiểm toán viên thì có ảnh hưởng trọng yếu đến
báo cáo tài chính, đến việc kiểm tra của kiểm toán viên hoặc đến báo cáo kiểm toán. Ví dụ:
Kiểm toán viên sử dụng sự hiểu biết về tình hình kinh doanh để xác định rủi ro tiềm tàng, rủi ro
kiểm soát và xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của các thủ tục kiểm toán.
03. Hiểu biết cần thiết của kiểm toán viên để thực hiện một cuộc kiểm toán bao gồm những
hiểu biết tổng quan về nền kinh tế, lĩnh vực hoạt động của đơn vị, hiểu biết cụ thể hơn về tổ
chức và hoạt động của đơn vị được kiểm toán. Mức độ hiểu biết về đơn vị của kiểm toán viên
không nhất thiết phải như Ban Giám đốc của đơn vị được kiểm toán.
Nội dung cụ thể những vấn đề cần hiểu biết khi thực hiện một cuộc kiểm toán báo cáo tài chính
được trình bày trong Phụ lục số 01. Kiểm toán viên được phép bổ sung thêm các nội dung vào
danh mục này và cũng được phép không phải áp dụng tất cả danh mục này cho một cuộc kiểm
toán cụ thể.
04. Chuẩn mực này áp dụng cho kiểm toán báo cáo tài chính và cũng được vận dụng cho kiểm
toán thông tin tài chính khác và các dịch vụ có liên quan của công ty kiểm toán.
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải tuân thủ các quy định của chuẩn mực này trong quá
trình thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính.
NỘI DUNG CHUẨN MỰC
Thu thập thông tin
05. Trước khi chấp nhận một hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu
thập những thông tin sơ bộ về lĩnh vực hoạt động, loại hình doanh nghiệp, hình thức sở hữu,
công nghệ sản xuất, tổ chức bộ máy quản lý và thực tiễn hoạt động của đơn vị, qua đó đánh
giá khả năng có thể thu thập được những thông tin (hiểu biết) cần thiết về tình hình kinh doanh
để thực hiện công việc kiểm toán.
06. Sau khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên phải thu thập những thông tin chi
tiết cần thiết ngay từ khi bắt đầu công việc kiểm toán. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên
phải luôn xem xét, đánh giá, cập nhật và bổ sung thêm các thông tin mới.
07. Việc thu thập các thông tin cần thiết về tình hình kinh doanh của đơn vị là một quá trình tích
luỹ liên tục, bao gồm việc thu thập, đánh giá và đối chiếu thông tin thu thập được với các bằng
chứng kiểm toán ở tất cả các giai đoạn của quá trình kiểm toán. Ví dụ: Các thông tin đã thu
thập ở giai đoạn lập kế hoạch vẫn phải được tiếp tục cập nhật và bổ sung thêm ở các giai đoạn
kế tiếp để kiểm toán viên hiểu biết đầy đủ hơn về hoạt động của đơn vị.
08. Đối với hợp đồng kiểm toán năm sau, kiểm toán viên phải cập nhật và đánh giá lại những
thông tin đã thu thập trước đây, nhất là những thông tin trong hồ sơ kiểm toán các năm trước.
Kiểm toán viên phải chú ý đến các vấn đề tồn tại đã phát hiện trong năm trước và thực hiện các
thủ tục nhằm phát hiện ra những thay đổi đáng kể phát sinh sau lần kiểm toán trước.
09. Kiểm toán viên thu thập thông tin về tình hình kinh doanh từ các nguồn như:
- Kinh nghiệm thực tiễn về đơn vị và ngành nghề kinh doanh của đơn vị được kiểm toán trên
báo cáo tổng kết, biên bản làm việc, báo chí;
- Hồ sơ kiểm toán năm trước;
- Trao đổi với Giám đốc, kế toán trưởng hoặc cán bộ, nhân viên của đơn vị được kiểm toán;
- Trao đổi với kiểm toán viên nội bộ và xem xét báo cáo kiểm toán nội bộ của đơn vị được kiểm
toán;
- Trao đổi với kiểm toán viên khác và với các nhà tư vấn đã cung cấp dịch vụ cho đơn vị được
kiểm toán hoặc hoạt động trong cùng lĩnh vực với đơn vị được kiểm toán;
- Trao đổi với chuyên gia, đối tượng bên ngoài có hiểu biết về đơn vị được kiểm toán (Ví dụ:
Chuyên gia kinh tế, cơ quan cấp trên, khách hàng, nhà cung cấp, các đối thủ cạnh tranh );
- Tham khảo các ấn phẩm liên quan đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán (Ví dụ:
Số liệu thống kê của Chính phủ, báo chí chuyên ngành, thông tin của ngân hàng, thông tin của
thị trường chứng khoán );
- Các văn bản pháp lý và các quy định có ảnh hưởng đến đơn vị được kiểm toán;
- Khảo sát thực tế văn phòng, nhà xưởng của đơn vị được kiểm toán;
- Các tài liệu do đơn vị được kiểm toán cung cấp (Ví dụ: Nghị quyết và biên bản các cuộc họp,
tài liệu gửi cho các cổ đông hay cho cơ quan cấp trên, báo cáo quản lý nội bộ, báo cáo tài
chính định kỳ, các chính sách về quản lý kinh tế, tài chính, thuế, hệ thống kế toán, tài liệu kiểm
soát nội bộ, quy định về quyền hạn, chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận trong đơn vị ).
Sử dụng hiểu biết
10. Những hiểu biết về tình hình kinh doanh là cơ sở quan trọng để kiểm toán viên đưa ra các
xét đoán chuyên môn. Mức độ hiểu biết tình hình kinh doanh và việc sử dụng các hiểu biết này
một cách hợp lý sẽ trợ giúp kiểm toán viên trong các công việc:
- Đánh giá rủi ro và xác định các vấn đề đáng chú ý;
- Lập kế hoạch và thực hiện công việc kiểm toán một cách hiệu quả;
- Đánh giá bằng chứng kiểm toán;
- Cung cấp dịch vụ tốt hơn cho đơn vị được kiểm toán.
11. Trong quá trình kiểm toán, hiểu biết về tình hình kinh doanh là rất quan trọng để giúp kiểm
toán viên xét đoán trên các khía cạnh cụ thể sau:
- Đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát;
- Phân tích rủi ro kinh doanh và các phương án giải quyết của Giám đốc (hoặc người đứng
đầu);
- Xây dựng kế hoạch và chương trình kiểm toán;
- Xác định mức độ trọng yếu và đánh giá sự phù hợp của mức độ trọng yếu đó trong quá trình
kiểm toán;
- Đánh giá về sự đầy đủ và tính thích hợp của các bằng chứng kiểm toán;
- Đánh giá các ước tính kế toán và giải trình của Giám đốc;
- Xác định các vùng phải chú ý đặc biệt trong việc kiểm toán và các kỹ năng kiểm toán cần
thiết;
- Xác định các bên liên quan và nghiệp vụ phát sinh giữa các bên liên quan;
- Xác định các thông tin có mâu thuẫn ;
- Xác định các tình huống bất thường (Ví dụ: Gian lận hoặc không tuân thủ pháp luật và các qui
định; số liệu thống kê mâu thuẫn với số liệu báo cáo tài chính );
- Đặt ra câu hỏi thăm dò và đánh giá mức độ hợp lý của các câu trả lời;
- Xem xét sự phù hợp của chế độ kế toán, các thông tin trình bày trên báo cáo tài chính.
12. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán sử dụng các trợ lý kiểm toán được phân công thực
hiện công việc kiểm toán cũng phải đảm bảo đạt được sự hiểu biết nhất định về tình hình kinh
doanh để thực hiện công việc của mình. Ngoài ra, các trợ lý phải thực hiện việc thu thập thông
tin bổ sung đáp ứng yêu cầu công việc của mình và trao đổi các thông tin đó với các thành viên
khác của nhóm.
13. Để sử dụng hiệu quả các hiểu biết về tình hình kinh doanh, kiểm toán viên phải đánh giá,
xem xét mức độ ảnh hưởng tổng thể từ những hiểu biết của mình đến báo cáo tài chính của
đơn vị, cũng như sự phù hợp của các cơ sở dẫn liệu trong báo cáo tài chính so với những hiểu
biết của kiểm toán viên về tình hình kinh doanh./.
PHỤ LỤC SỐ 01: NHỮNG NỘI DUNG CỤ THỂ KIỂM TOÁN VIÊN PHẢI HIỂU BIẾT VỀ TÌNH
HÌNH KINH DOANH CỦA ĐƠN VỊ ĐƯỢC KIỂM TOÁN
A- Hiểu biết chung về nền kinh tế:
- Thực trạng nền kinh tế (Ví dụ: Suy thoái, tăng trưởng kinh tế, );
- Các tỷ lệ lãi suất và khả năng tài chính của nền kinh tế;
- Mức độ lạm phát và giá trị đơn vị tiền tệ;
- Các chính sách của Chính phủ:
+ Chính sách tiền tệ ngân hàng (Ví dụ: Mức lãi suất, tỉ giá hối đoái, hạn mức tín dụng, );
+ Chính sách tài chính;
+ Chính sách thuế ( Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng; thuế xuất nhập khẩu; thuế thu nhập doanh
nghiệp, );
+ Chính sách khuyến khích đầu tư (Ví dụ: Các chương trình trợ giúp của Chính phủ, ).
- Biến động thị trường chứng khoán và các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh
của đơn vị được kiểm toán;
- Kiểm soát ngoại hối và tỉ giá ngoại tệ.
B- Môi trường và lĩnh vực hoạt động của đơn vị được kiểm toán:
- Các yêu cầu về môi trường và các vấn đề liên quan;
- Thị trường và cạnh tranh;
- Đặc điểm hoạt động kinh doanh (liên tục hay theo thời vụ);
- Các thay đổi trong công nghệ sản xuất, kinh doanh;
- Rủi ro kinh doanh (Ví dụ: Công nghệ cao, thị hiếu của thị trường, cạnh tranh, );
- Sự thu hẹp hay mở rộng quy mô kinh doanh;
- Các điều kiện bất lợi (Ví dụ: Cung, cầu tăng hoặc giảm, chiến tranh, giá cả, );
- Các tỷ suất quan trọng và các số liệu thống kê về hoạt động kinh doanh hàng năm;
- Chuẩn mực, chế độ kế toán và các vấn đề liên quan;
- Các quy định pháp luật và các chính sách, chế độ cụ thể có liên quan;
- Các nguồn cung cấp (Ví dụ: Hàng hóa, dịch vụ, lao động, ) và giá cả.
C- Nhân tố nội tại của đơn vị được kiểm toán:
1- Các đặc điểm quan trọng về sở hữu và quản lý
- Hội đồng quản trị:
+ Số lượng uỷ viên và thành phần;
+ Uy tín và kinh nghiệm của từng cá nhân;
+ Tính độc lập đối với Giám đốc và kiểm soát hoạt động của Giám đốc;
+ Các cuộc họp định kỳ;
+ Sự tồn tại và phạm vi hoạt động của Ban kiểm soát;
+ Sự tồn tại và tác động của quy chế hoạt động của đơn vị;
+ Những thay đổi về các cố vấn chuyên môn (nếu có).
- Giám đốc (người đứng đầu) và bộ máy điều hành:
+ Thay đổi nhân sự (Ví dụ: Giám đốc, Phó Giám đốc, Kế toán trưởng, );
+ Kinh nghiệm và uy tín;
+ Thu nhập;
+ Các cán bộ tài chính chủ chốt và vị trí của họ trong đơn vị;
+ Kế toán trưởng và nhân viên kế toán;
+ Các chế độ khuyến khích vật chất, khen thưởng, kỷ luật;
+ Sử dụng các ước tính kế toán và dự toán;
+ Phân cấp quyền hạn và trách nhiệm trong bộ máy điều hành;
+ áp lực đối với Giám đốc (hoặc người đứng đầu);
+ Các hệ thống thông tin quản lý.
- Loại hình doanh nghiệp ( Ví dụ: Nhà nước, tập thể, tư nhân, cổ phần, trách nhiệm hữu hạn,
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài );
- Lĩnh vực, phạm vi và đối tượng được phép kinh doanh;
- Thời hạn được phép hoạt động;
- Các chủ sở hữu vốn và các bên liên quan (Ví dụ: Trong nước, ngoài nước, uy tín và kinh
nghiệm, );
- Cơ cấu vốn (những thay đổi gần đây hay dự kiến trong tương lai, );
- Sơ đồ tổ chức bộ máy sản xuất, kinh doanh;
- Phạm vi hoạt động;
- Cơ sở sản xuất, kinh doanh chính và các chi nhánh, đại lý;
- Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý;
- Các mục tiêu quản lý và kế hoạch chiến lược;
- Thu hẹp hay mở rộng hoạt động kinh doanh (đã lên kế hoạch hay đã thực hiện gần đây);
- Các nguồn và biện pháp tài chính;
- Chức năng và chất lượng hoạt động của bộ phận kiểm toán nội bộ (nếu có);
- Quan niệm và thái độ của Giám đốc đối với hệ thống kiểm soát nội bộ;
- Công ty kiểm toán và kiểm toán viên các năm trước.
2- Tình hình kinh doanh của đơn vị
(Sản phẩm, thị trường, các nhà cung cấp, chi phí, các hoạt động nghiệp vụ)
- Đặc điểm và qui mô hoạt động sản xuất, kinh doanh;
- Các điều kiện sản xuất, kho bãi, văn phòng;
- Các vấn đề về nhân lực (Ví dụ: Số lượng, chất lượng lao động, sự phân bố nhân lực, nguồn
cung cấp, mức lương, quy chế nhân viên, thoả ước lao động tập thể và công đoàn, việc thực
hiện chế độ hưu trí và quy định của Chính phủ về lao động, );
- Sản phẩm, dịch vụ và thị trường (Ví dụ: Các khách hàng và hợp đồng chính, các điều khoản
về thanh toán, tỷ lệ lợi nhuận gộp, phần thị trường chiếm lĩnh, các đối thủ cạnh tranh, xuất
khẩu, các chính sách giá cả, danh tiếng các mặt hàng, bảo hành, đơn đặt hàng, xu hướng,
chiến lược và mục tiêu tiếp thị, quy trình sản xuất, );
- Các nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ quan trọng (Ví dụ: Các hợp đồng dài hạn, mức độ ổn
định của nhà cung cấp, các điều kiện thanh toán, các hình thức nhập khẩu, các hình thức cung
ứng, );
- Hàng tồn kho (Ví dụ: Địa điểm, số lượng, chất lượng, quy cách, );
- Lợi thế thương mại, quyền sử dụng nhãn hiệu, bằng phát minh sáng chế ;
- Các khoản chi phí quan trọng;
- Nghiên cứu và phát triển;
- Các tài sản, công nợ, nghiệp vụ bằng ngoại tệ và các nghiệp vụ bảo hiểm rủi ro hối đoái;
- Luật pháp và các quy định có ảnh hưởng lớn đến đơn vị được kiểm toán;
- Các hệ thống thông tin quản lý (Tình trạng hiện tại, dự kiến thay đổi, );
- Cơ cấu nợ vay, các điều khoản thu hẹp và giới hạn nợ.
3- Khả năng tài chính
(Các nhân tố liên quan đến tình hình tài chính và khả năng sinh lợi của đơn vị được kiểm toán)
- Các tỷ suất quan trọng và số liệu thống kê về hoạt động kinh doanh;
- Xu hướng biến động của kết quả tài chính.
4- Môi trường lập báo cáo
(Các tác động khách quan có ảnh hưởng đến Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị trong
việc lập các báo cáo tài chính)
5- Yếu tố luật pháp
- Môi trường và các quy định pháp luật;
- Các chính sách tài chính và chính sách thuế ;
- Các yêu cầu đối với báo cáo kiểm toán;
- Những người sử dụng báo cáo tài chính.
HỆ THỐNG CHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM
CHUẨN MỰC SỐ 500 BẰNG CHỨNG KIỂM TOÁN
(Ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTCngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính)
QUI ĐỊNH CHUNG
01. Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể
thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản đối với số lượng và chất lượng các bằng chứng
kiểm toán phải thu thập khi kiểm toán báo cáo tài chính.
02. Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích
hợp để làm cơ sở đưa ra ý kiến của mình về báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán.
03. Chuẩn mực này áp dụng cho kiểm toán báo cáo tài chính và cũng được vận dụng cho kiểm
toán thông tin tài chính khác và các dịch vụ có liên quan của công ty kiểm toán.
Kiểm toán viên và công ty kiểm toán phải tuân thủ các qui định của chuẩn mực này trong quá
trình thu thập và xử lý bằng chứng kiểm toán.
Đơn vị được kiểm toán (khách hàng) và các bên sử dụng kết quả kiểm toán phải có những hiểu
biết cần thiết về chuẩn mực này để phối hợp công việc và xử lý các mối quan hệ liên quan đến
quá trình cung cấp và thu thập bằng chứng kiểm toán.
04.Bằng chứng kiểm toán được thu thập bằng sự kết hợp thích hợp giữa các thủ tục thử
nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ bản. Trong một số trường hợp, bằng chứng kiểm toán chỉ
có thể thu thập được bằng thử nghiệm cơ bản.
Các thuật ngữ trong chuẩn mực này được hiểu như sau:
05. Bằng chứng kiểm toán: Là tất cả các tài liệu, thông tin do kiểm toán viên thu thập được liên
quan đến cuộc kiểm toán và dựa trên các thông tin này kiểm toán viên hình thành nên ý kiến
của mình.
Bằng chứng kiểm toán bao gồm các tài liệu, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài
liệu, thông tin từ những nguồn khác.
06. Thử nghiệm kiểm soát (kiểm tra hệ thống kiểm soát): Là việc kiểm tra để thu thập bằng
chứng kiểm toán về sự thiết kế phù hợp và sự vận hành hữu hiệu của hệ thống kế toán và hệ
thống kiểm soát nội bộ.
07. Thử nghiệm cơ bản (kiểm tra cơ bản): Là việc kiểm tra để thu thập bằng chứng kiểm toán
liên quan đến báo cáo tài chính nhằm phát hiện ra những sai sót trọng yếu làm ảnh hưởng đến
báo cáo tài chính. “Thử nghiệm cơ bản" gồm:
a/ Kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và số dư;
b/ Quy trình phân tích.
NỘI DUNG CHUẨN MỰC
Bằng chứng kiểm toán đầy đủ và thích hợp
08. Kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ các bằng chứng kiểm toán thích hợp cho mỗi loại ý
kiến của mình. Sự "đầy đủ" và tính "thích hợp" luôn đi liền với nhau và được áp dụng cho các
bằng chứng kiểm toán thu thập được từ các thủ tục thử nghiệm kiểm soát và thử nghiệm cơ
bản. “Đầy đủ” là tiêu chuẩn thể hiện về số lượng bằng chứng kiểm toán; “Thích hợp” là tiêu
chuẩn thể hiện chất lượng, độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán. Thông thường kiểm toán viên
dựa trên các bằng chứng mang tính xét đoán và thuyết phục nhiều hơn là tính khẳng định chắc
chắn. Bằng chứng kiểm toán thường thu được từ nhiều nguồn, nhiều dạng khác nhau để làm
căn cứ cho cùng một cơ sở dẫn liệu.
09. Trong quá trình hình thành ý kiến của mình, kiểm toán viên không nhất thiết phải kiểm tra
tất cả các thông tin có sẵn. Kiểm toán viên được phép đưa ra kết luận về số dư tài khoản, các
nghiệp vụ kinh tế hoặc hệ thống kiểm soát nội bộ trên cơ sở kiểm tra chọn mẫu theo phương
pháp thống kê hoặc theo xét đoán cá nhân.
10. Đánh giá của kiểm toán viên về sự đầy đủ và tính thích hợp của bằng chứng kiểm toán chủ
yếu phụ thuộc vào:
. Tính chất, nội dung và mức độ rủi ro tiềm tàng của toàn bộ báo cáo tài chính, từng số dư tài
khoản hoặc từng loại nghiệp vụ;
. Hệ thống kế toán, hệ thống kiểm soát nội bộ và sự đánh giá về rủi ro kiểm soát;
. Tính trọng yếu của khoản mục được kiểm tra;
. Kinh nghiệm từ các lần kiểm toán trước;
. Kết quả các thủ tục kiểm toán, kể cả các sai sót hoặc gian lận đã được phát hiện;
. Nguồn gốc, độ tin cậy của các tài liệu, thông tin.
11. Khi thu thập bằng chứng kiểm toán từ các thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên phải
xem xét sự đầy đủ và tính thích hợp của các bằng chứng làm cơ sở cho việc đánh giá của
mình về rủi ro kiểm soát.
12. Kiểm toán viên cần thu thập bằng chứng kiểm toán từ hệ thống kế toán và hệ thống kiểm
soát nội bộ về các phương diện:
Thiết kế: Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế sao cho có khả năng
ngăn ngừa, phát hiện và sửa chữa các sai sót trọng yếu;
Thực hiện: Hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ tồn tại và hoạt động một cách hữu
hiệu trong suốt thời kỳ xem xét.
13. Khi thu thập bằng chứng kiểm toán từ các thử nghiệm cơ bản, kiểm toán viên phải xem xét
sự đầy đủ và tính thích hợp của các bằng chứng từ các thử nghiệm cơ bản kết hợp với các
bằng chứng thu được từ thử nghiệm kiểm soát nhằm khẳng định cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài
chính.
14. Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính: Là căn cứ của các khoản mục và thông tin trình bày
trong báo cáo tài chính do Giám đốc (hoặc người đứng đầu) đơn vị chịu trách nhiệm lập trên cơ
sở các chuẩn mực và chế độ kế toán qui định phải được thể hiện rõ ràng hoặc có cơ sở đối với
từng chỉ tiêu trong báo cáo tài chính.
Cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính phải có các tiêu chuẩn sau:
a/ Hiện hữu: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên báo cáo tài chính thực tế phải tồn tại
(có thực) vào thời điểm lập báo cáo;
b/ Quyền và nghĩa vụ: Một tài sản hay một khoản nợ phản ánh trên báo cáo tài chính đơn vị
phải có quyền sở hữu hoặc có trách nhiệm hoàn trả tại thời điểm lập báo cáo;
c/ Phát sinh: Một nghiệp vụ hay một sự kiện đã ghi chép thì phải đã xảy ra và có liên quan đến
đơn vị trong thời kỳ xem xét;
d/ Đầy đủ: Toàn bộ tài sản, các khoản nợ, nghiệp vụ hay giao dịch đã xảy ra có liên quan đến
báo cáo tài chính phải được ghi chép hết các sự kiện liên quan;
e/ Đánh giá: Một tài sản hay một khoản nợ được ghi chép theo giá trị thích hợp trên cơ sở
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được thừa nhận);
f/ Chính xác: Một nghiệp vụ hay một sự kiện được ghi chép theo đúng giá trị của nó, doanh thu
hay chi phí được ghi nhận đúng kỳ, đúng khoản mục và đúng về toán học.
g/ Trình bày và công bố: Các khoản mục được phân loại, diễn đạt và công bố phù hợp với
chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận).
15. Bằng chứng kiểm toán phải được thu thập cho từng cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính.
Bằng chứng liên quan đến một cơ sở dẫn liệu (như sự hiện hữu của hàng tồn kho) không thể
bù đắp cho việc thiếu bằng chứng liên quan đến cơ sở dẫn liệu khác (như giá trị của hàng tồn
kho đó). Nội dung, lịch trình và phạm vi của các thử nghiệm cơ bản được thay đổi tuỳ thuộc vào
từng cơ sở dẫn liệu. Các thử nghiệm có thể cung cấp bằng chứng kiểm toán cho nhiều cơ sở
dẫn liệu cùng một lúc (như việc thu hồi các khoản phải thu có thể cung cấp bằng chứng cho sự
hiện hữu và giá trị của các khoản phải thu đó).
16. Độ tin cậy của bằng chứng kiểm toán phụ thuộc vào nguồn gốc (ở bên trong hay ở bên
ngoài); hình thức (hình ảnh, tài liệu, hoặc lời nói) và từng trường hợp cụ thể. Việc đánh giá độ
tin cậy của bằng chứng kiểm toán dựa trên các nguyên tắc sau đây:
. Bằng chứng có nguồn gốc từ bên ngoài đơn vị đáng tin cậy hơn bằng chứng có nguồn gốc từ
bên trong;
. Bằng chứng có nguồn gốc từ bên trong đơn vị có độ tin cậy cao hơn khi hệ thống kế toán và
hệ thống kiểm soát nội bộ hoạt động có hiệu quả;
. Bằng chứng do kiểm toán viên tự thu thập có độ tin cậy cao hơn bằng chứng do đơn vị cung
cấp;
. Bằng chứng dưới dạng văn bản, hình ảnh đáng tin cậy hơn bằng chứng ghi lại lời nói.
17. Bằng chứng kiểm toán có sức thuyết phục cao hơn khi có được thông tin từ nhiều nguồn và
nhiều loại khác nhau cùng xác nhận. Trường hợp này kiểm toán viên có thể có được độ tin cậy
cao hơn đối với bằng chứng kiểm toán so với trường hợp thông tin có được từ những bằng
chứng riêng rẽ. Ngược lại, trường hợp bằng chứng có từ nguồn này mâu thuẫn với bằng chứng
có từ nguồn khác, thì kiểm toán viên phải xác định những thủ tục kiểm tra bổ sung cần thiết để
giải quyết mâu thuẫn trên.
18. Trong quá trình kiểm toán, kiểm toán viên phải xem xét mối quan hệ giữa chi phí cho việc
thu thập bằng chứng kiểm toán với lợi ích của các thông tin đó. Khó khăn và chí phí phát sinh
để thu thập bằng chứng không phải là lý do để bỏ qua một số thủ tục kiểm toán cần thiết.
19.Khi có nghi ngờ liên quan đến cơ sở dẫn liệu có thể ảnh hưởng trọng yếu đến báo cáo tài
chính, kiểm toán viên phải thu thập thêm bằng chứng kiểm toán để loại trừ sự nghi ngờ đó. Nếu
không thể thu thập đầy đủ bằng chứng thích hợp, kiểm toán viên sẽ phải đưa ra ý kiến chấp
nhận từng phần, hoặc ý kiến không thể đưa ra ý kiến.
Phương pháp thu thập bằng chứng kiểm toán
20. Kiểm toán viên thu thập bằng chứng kiểm toán bằng các phương pháp sau: kiểm tra, quan
sát, điều tra, xác nhận, tính toán và quy trình phân tích. Việc thực hiện các phương pháp này
một phần tuỳ thuộc vào thời gian thu thập được bằng chứng kiểm toán.
21. Kiểm tra: Là việc soát xét chứng từ, sổ kế toán, báo cáo tài chính và các tài liệu có liên
quan hoặc việc kiểm tra các tài sản hữu hình. Việc kiểm tra nói trên cung cấp bằng chứng có
độ tin cậy cao hay thấp tuỳ thuộc vào nội dung, nguồn gốc của các bằng chứng và tuỳ thuộc
vào hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với quy trình xử lý tài liệu đó. Bốn nhóm tài liệu
chủ yếu sau đây cung cấp cho kiểm toán viên các bằng chứng với độ tin cậy khác nhau:
. Tài liệu do bên thứ ba lập và lưu giữ;
. Tài liệu do bên thứ ba lập và đơn vị được kiểm toán lưu giữ;
. Tài liệu do đơn vị được kiểm toán lập và bên thứ ba lưu giữ;
. Tài liệu do đơn vị được kiểm toán lập và lưu giữ.
Việc kiểm tra tài sản hữu hình cung cấp bằng chứng tin cậy về tính hiện hữu của tài sản, nhưng
không hẳn là bằng chứng đủ tin cậy về quyền sở hữu và giá trị của tài sản đó.
22. Quan sát: Là việc theo dõi một hiện tượng, một chu trình hoặc một thủ tục do người khác
thực hiện (Ví dụ: Kiểm toán viên quan sát việc kiểm kê thực tế hoặc quan sát các thủ tục kiểm
soát do đơn vị tiến hành ).
23. Điều tra: Là việc tìm kiếm thông tin từ những người có hiểu biết ở bên trong hoặc bên ngoài
đơn vị. Điều tra được thực hiện bằng việc chính thức gửi văn bản, phỏng vấn hoặc trao đổi kết
quả điều tra, sẽ cung cấp cho kiểm toán viên những thông tin chưa có, hoặc những thông tin bổ
sung để củng cố các bằng chứng đã có.
24. Xác nhận: Là sự trả lời cho một yêu cầu cung cấp thông tin nhằm xác minh lại những thông
tin đã có trong các tài liệu kế toán (Ví dụ: Kiểm toán viên yêu cầu đơn vị gửi thư cho khách
hàng xác nhận trực tiếp đối với số dư các khoản phải thu của khách hàng ).
25. Tính toán: Là việc kiểm tra tính chính xác về mặt toán học của số liệu trên chứng từ, sổ kế
toán, báo cáo tài chính và các tài liệu liên quan khác hay việc thực hiện các tính toán độc lập
của kiểm toán viên.
26. Quy trình phân tích: Là việc phân tích các số liệu, thông tin, các tỷ suất quan trọng, qua đó
tìm ra những xu hướng, biến động và tìm ra những mối quan hệ có mâu thuẫn với các thông tin
liên quan khác hoặc có sự chênh lệch lớn so với giá trị đã dự kiến./.
HỆ THỐNGCHUẨN MỰC KIỂM TOÁN VIỆT NAM
CHUẨN MỰC SỐ 510 KIỂM TOÁN NĂM ĐẦU TIÊN - SỐ DƯ ĐẦU NĂM TÀI CHÍNH
(Ban hành theo Quyết định số 219/2000/QĐ-BTCngày 29 tháng 12 năm 2000 của Bộ trưởng
Bộ Tài chính)
QUI ĐỊNH CHUNG
01. Mục đích của chuẩn mực này là quy định các nguyên tắc, thủ tục cơ bản và hướng dẫn thể
thức áp dụng các nguyên tắc, thủ tục cơ bản liên quan đến số dư đầu năm tài chính khi kiểm
toán báo cáo tài chính năm đầu tiên. Chuẩn mực này cũng yêu cầu kiểm toán viên nắm được
những sự kiện không chắc chắn hay những cam kết hiện hữu ở thời điểm đầu năm tài chính
trong trường hợp kiểm toán báo cáo tài chính năm đầu tiên.
02. Khi thực hiện kiểm toán báo cáo tài chính năm đầu tiên, kiểm toán viên phải thu thập đầy đủ
bằng chứng kiểm toán thích hợp nhằm bảo đảm:
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét