Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014

Biện pháp thúc đẩy XK mặt hàng gốm xây dựng của Cty Kinh doanh và XNK thuộc Tổng Cty Thủy tinh và Gốm xây dựng – Viglacera

Có hai cách nhìn nhận và tác động của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế:
-Xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vợt quá nhu cầu nội
địa. Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển nh nớc ta, sản xuất
về cơ bản còn cha đủ tiêu dùng, nếu chỉ thụ động chờ ở sự thừa ra của sản xuất, thì
xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng triển chậm. Sản xuất và sự thay đổi cơ cấu kinh
tế sẽ rất chậm chạp.
-Coi thị trờng và đặc biệt thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ chức sản xuất.
Quan điểm này xuất phát từ nhu cầu của thị trờng thế giới để tổ chức sản xuất. Điều
đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Sự tác động này đến sản xuất thể hiện ở chỗ:
+ Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành khác có cơ hội phát triển thuận lợi.
+ Xuất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần cho sản xuất phát
triển và ổn định
+ Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản xuất, nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc.
+ Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và tạo ra một năng
lực sản xuất mới.
+ Xuất khẩu góp phần trong việc hình thành cơ cấu sản xuất luôn thích nghi đợc
với thị trờng.
+ Xuất khẩu thúc đẩy chuyên môn hoá, tăng cờng hiệu quả sản xuất từng quốc gia.
Khoa học công nghệ càng phát triển thì phân công lao động càng sâu sắc. Ngày nay,
nhiều sản phẩm mà việc chế tạo từng bộ phận đợc thực hiện ở các quốc gia khác
nhau. Để hoàn thiện đợc những sản phẩm này, ngời ta phải tiến hành xuất khẩu linh
kiện từ nớc này sang nớc khác để lắp ráp sản phẩm hoàn chỉnh. Nh vậy, mỗi nớc có
thể tập trung vào sản xuất một vài loại mà họ có lợi thế, sau đó tiến hành trao đổi lấy
những hàng hoá mà mình cần.
*Xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm và cải thiện
đời sống nhân dân.
Xuất khẩu tác động đến nhiều mặt của đời sống nhân dân. Trớc hết sản xuất hàng
xuất khẩu là nơi thu hút hàng triệu ngời lao động và tạo ra thu nhập không thấp.
Hoạt động thơng mại nói chung và xuất khẩu nói riêng phát triển kéo theo hàng triệu
ngời tham gia lao động vào lĩnh vực này và dần dần nâng cao mức sống của ngời
dân. Bởi vì xuất khẩu phát triển đã kéo theo hàng loạt các ngành nghề khác phát
triển, khôi phục lại những ngành nghề truyền thống, khắc phục số nông nhàn trong
lĩnh vực nông nghiệp ngày càng triệt để hơn. Xuất khẩu phát triển thúc đẩy quá trình
liên doanh liên kết, hàng loạt các ngành nghề mới ra đời đáp ứng nhu cầu ngày càng
cao của ngời tiêu dùng.
Bên cạnh đó, xuất khẩu còn tạo nguồn vốn để nhập khẩu những vật phẩm tiêu dùng
thiết yếu mà trong nớc không tự sản xuất đợc hoặc sản xuất với giá thành cao phục
vụ đời sống và đáp ứng ngày một phong phú thêm nhu cầu của ngời dân.
*Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối ngoại. Xuất
khẩu nâng cao uy tín nớc ta trên thị trờng thế giới và tăng cờng các quan hệ kinh tế
đối ngoại. Xuất khẩu và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại có sự tác động qua lại
phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu là hoạt động cơ bản, là hình thức ban đầu
của kinh tế đối ngoại, từ đó thúc đẩy các mối quan hệ khác nh: du lịch quốc tế, bảo
hiểm quốc tế, tín dụng quốc tế phát triển theo. Ngợc lại, sự phát triển của các ngành
này lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu phát triển.
Xuất khẩu có vai trò quan trọng trong qúa trình phát triển nền kinh tế đất nớc. Hiện
nay Nhà nớc ta đã và đang thực hiện các biện pháp thúc đẩy các ngành kinh tế hớng
vào xuất khẩu, khuyến khích các khu vực t nhân mở rộng xuất khẩu để giải quyết
việc làm và tăng thu ngoại tệ cho đất nớc.
2.2Đối với doanh nghiệp.
-Thông qua hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nớc có điều kiện tham gia
vào cuộc cạnh tranh trên thị trờng thế giới. Những yếu tố này đòi hỏi các doanh
nghiệp phải hình thành một cơ cấu sản xuất phù hợp với thị trờng.
-Xuất khẩu đòi hỏi các doanh nghiệp phải luôn đổi mới và hoàn thiện công việc
quản trị sản xuất và kinh doanh cho phù hợp với thời đại. Đồng thời xuất khẩu còn
tạo nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp để tái đầu t vào quá trình sản xuất cả về
chiều rộng lẫn chiều sâu.
-Sản xuất hàng xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu hút đợc nhiều lao động, tạo ra thu
nhập ổn định cho họ, tạo nguồn ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng. Nó vừa đáp
ứng đợc nhu cầu ngày càng cao của nhân dân vừa thu đợc lợi nhuận.
-Xuất khẩu tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội mở rộng thị trờng, mở rộng
quan hệ buôn bán với nhiều đối tác nớc ngoài trên cơ sở đôi bên cùng có lợi. Vì vậy,
đã giúp doanh nghiệp tăng đợc doanh số bán và lợi nhuận. Đồng thời chia sẻ đợc rủi
ro mất mát trong hoạt động kinh doanh tăng cờng uy tín kinh doanh của công ty. Từ
đó có điều kiện học hỏi, tiếp thu kinh nghiệm quản lý tiên tiến từ phía đối tác nớc
ngoài, góp phần nâng cao năng lực chuyên môn cho các thành viên trong doanh
nghiệp.
-Kinh doanh xuất khẩu phát huy đợc những khả năng vợt trội của doanh nghiệp và
khắc phục đợc những hạn chế của doanh nghiệp.
-Xuất khẩu khuyến khích phát triển các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nh
hoạt động đầu t, nghiên cứu và phát triển, các hoạt động sản xuất, Marketing cũng
nh sự phân phối và mở rộng kinh doanh.
Có thể nói một cách khái quát rằng xuất khẩu góp phần quan trọng trong sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp cũng nh sự phát triển kinh tế của một quốc gia.
3. Khái niệm và các hình thức kinh doanh xuất khẩu.
3.1 Khái niệm về kinh doanh xuất khẩu.
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh buôn bán ở phạm vi quốc tế. Nó không phải là
hành vi mua bán riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền
thơng mại có tổ chức cả bên trong và bên ngoài nhằm bán sản phẩm, hàng hoá sản
xuất trong nớc ra nớc ngoài thu ngoại tệ, qua đó có thể đẩy mạnh sản xuất hàng hoá
phát triển, chuyển đổi cơ cấu kinh tế ổn định từng bớc nâng cao mức sống nhân dân.
Xuất khẩu là hoạt động kinh tế đối ngoại đem lại những hiệu quả đột biến cao hoặc
có thể gây thiệt hại vì nó phải đối đầu với một hệ thống kinh tế khác từ bên ngoài mà
chủ thể trong nớc tham gia không dễ dàng khống chế đợc.
Kinh doanh xuất nhập khẩu cũng chính là hoạt động kinh doanh quốc tế đầu tiên của
một doanh nghiệp. Hoạt động này đợc tiếp tục ngay cả khi doanh nghiệp đã đa dạng
hoá hoạt động kinh doanh của mình.
Mục đích của kinh doanh xuất khẩu là khai thác đợc lợi thế của các quốc gia trong
phân công lao động quốc tế, tạo nguồn thu ngoại tệ cho đất nớc. Hoạt động xuất
khẩu diễn ra trong mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện với nhiều loại mặt hàng khác
nhau. Phạm vi hoạt động xuất khẩu rất rộng cả về không gian và thời gian.
3.2 Các hình thức xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu đợc thực hiện dới nhiều hình thức khác nhau nhng những hình
thức chủ yếu thờng đợc các doanh nghiệp ngoại thơng lựa chọn sau:
3.2.1 Xuất khẩu trực tiếp.
Đây là hình thức mà hàng hoá đợc mua hay bán trực tiếp của nớc ngoài không qua
trung gian. Theo hình thức này đơn vị kinh doanh xuất nhập khẩu trực tiếp ký kết
hợp đồng ngoại thơng. Các doanh nghiệp ngoại thơng tự bỏ vốn ra mua các sản
phẩm từ các đơn vị sản xuất trong nớc sau đó bán các sản phẩm này cho các khách
hàng nớc ngoài (có thể qua một số công đoạn gia công chế biến).
Ưu điểm của hình thức xuất khẩu này là lợi nhuận của đơn vị kinh doanh xuất khẩu
thờng cao hơn các hình thức khác do giảm bớt đợc các khâu trung gian. Với vai trò
là ngời bán trực tiếp, các đơn vị kinh doanh chủ động trong kinh doanh, có điều kiện
tiếp cận thị trờng, nắm bắt đợc các thông tin một cách nhạy bén hơn để tự mình có
thể thâm nhập thị trờng, đa ra đợc những ứng xử linh hoạt, thích ứng với thị trờng và
do vậy có thể đáp ứng nhu cầu thị trờng, gợi mở, kích thích nhu cầu. Nếu đơn vị tổ
chức hoạt động kinh doanh tốt sẽ đem lại hiệu quả kinh doanh cao, tự khẳng định
mình về sản phẩm nhãn hiệu dần dần đ a đợc uy tín về sản phẩm trên thế giới.
Nhợc điểm: Hình thức này đòi hỏi phải ứng trớc một số vốn khá lớn để sản xuất
hoặc thu mua hàng và có thể gặp nhiều rủi ro. Đối với đơn vị mới tham gia kinh
doanh thì áp dụng hình thức này rất khó do điều kiện về vốn sản xuất hạn chế, am
hiểu thơng trờng quốc tế còn ít, uy tín nhãn hiệu còn xa lạ đối với khách hàng.
3.2.2 Xuất khẩu gián tiếp.
Đây là hình thức xuất khẩu qua trung gian thơng mại.
Ưu điểm: Ngời trung gian giúp cho ngời xuất khẩu tiết kiệm đợc thời gian, chi phí,
giảm bớt nhiều việc liên quan đến tiêu thụ hàng. Ngoài ra ngời trung gian còn có thể
giúp cho ngời xuất khẩu tín dụng trong ngắn hạn và trung hạn bởi vì trung gian có
quan hệ với công ty vận tải, ngân hàng
Nhợc điểm: Lợi nhuận bị chia xẻ do tổn phí, doanh nghiệp xuất khẩu mất mối quan
hệ trực tiếp với thị trờng, thông tin nhiều khi không chính xác.
3.2.3 Xuất khẩu uỷ thác.
Trong phơng thức này, đơn vị có hàng xuất khẩu là bên uỷ thác giao cho đơn vị xuất
khẩu gọi là bên nhận uỷ thác tiến hành xuất khẩu một hoặc một số lô hàng nhất định
với danh nghĩa của mình (bên nhận uỷ thác) nhng với chi phí của bên uỷ thác. Về
bản chất, chi phí trả cho bên nhận uỷ thác chính là tiền thù lao trả cho đại lý.
Ưu điểm: Công ty uỷ thác xuất khẩu không phải bỏ vốn vào kinh doanh, tránh đợc
rủi ro trong kinh doanh mà vẫn thu đợc một khoản lợi nhuận là hoa hồng cho xuất
khẩu. Do chỉ thực hiện hợp đồng uỷ thác xuất khẩu nên tất cả các chi phí từ nghiên
cứu thị trờng, giao dịch đàm phán ký kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng không
phải chi, dẫn tới giảm chi phí trong hoạt động kinh doanh của Công ty.
Nhợc điểm: Do không phải bỏ vốn vào kinh doanh nên hiệu quả kinh doanh thấp
không bảo đảm tính chủ động trong kinh doanh. Thị trờng và khách hàng bị thu hẹp
vì Công ty không có liên quan tới việc nghiên cứu thị trờng và tìm khách hàng.
3.2.4 Chuyển khẩu, tạm nhập tái xuất.
Đây là hình thức mua của nớc này bán cho nớc khác, không làm thủ tục xuất nhập
khẩu và thờng hàng đi thẳng từ nớc xuất khẩu sang nớc nhập khẩu. Ngời kinh doanh
chuyển khẩu trả tiền cho ngời xuất khẩu và thu tiền của ngời nhập khẩu hàng hóa đó.
Thờng khoản thu lớn hơn tiền trả cho ngời xuất khẩu, do đó ngời kinh doanh thu đợc
số chênh lệch (lãi). Các mặt hàng này (tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập, chuyển
khẩu) đợc miễn thuế xuất nhập khẩu.
Xét về đờng đi của hàng hoá tái xuất và chuyển khẩu giống nhau. Chỗ khác nhau là
kinh doanh chuyển khẩu chủ yếu là kinh doanh dịch vụ vận tải, còn tái xuất là loại
hình hợp đồng kinh doanh hàng hoá: nhập khẩu để xuất khẩu hàng đó, không qua
chế biến, thu lãi tức thời. Ngời kinh doanh bỏ vốn ra mua hàng, bán lại hàng đó để
thu lời nhiều hơn. Việc giao dịch thực hiện ở ba nớc: Nớc xuất khẩu, nớc tái xuất, n-
ớc nhập khẩu. Giao dịch tái xuất là giao dịch ba bên ở ba nớc.
3.2.5 Mua bán đối lu.
Đây là hoạt động giao dịch trong đó hoạt động xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với hoạt
động nhập khẩu. Mục đích của hoạt động xuất khẩu không phải nhằm thu về một
khoản ngoại tệ mà là thu về một lợng hàng hoá khác tơng đơng với giá trị của lô
hàng xuất khẩu. Yêu cầu của buôn bán đối lu là cân bằng về tổng giá trị xuất nhập
khẩu, chủng loại hàng hoá quý hiếm, giá cả. Doanh nghiệp có thể sử dụng hình thức
này để nhập khẩu nhiều loại hàng hoá mà thị trờng trong nớc đang rất cần hoặc có
thể xuất khẩu sang một nớc thứ ba.
3.2.6 Gia công quốc tế.
Gia công hàng xuất khẩu là một phơng thức kinh doanh trong đó một bên (gọi là bên
nhận gia công) nhập khẩu nguyên liệu hoặc bán thành phẩm của một bên khác (gọi
là bên đặt gia công) để chế biến ra thành phẩm giao lại cho bên đặt gia công và nhận
thù lao (gọi là chi phí gia công).
Gia công quốc tế là hình thức xuất khẩu khá phổ biến, đợc nhiều nớc, đặc biệt là các
nớc đang phát triển có nguồn nhân lực dồi dào áp dụng. Thông qua hình thức này, họ
vừa tạo cho ngời lao động có công ăn việc làm, lại vừa tiếp nhận đợc công nghệ mới.
Mặt khác nớc này lại không phải bỏ ra nhiều vốn và cũng không lo về thị trờng tiêu
thụ.
Các nớc đặt gia công cũng có lợi vì họ có thể tận dụng đợc nguồn nguyên liệu phụ
và nhân công dồi dào với giá rẻ của nớc nhận gia công. Song hình thức này cũng có
hạn chế là các nớc nhận gia công bị phụ thuộc vào nớc đặt gia công về số lợng,
chủng loại hàng hoá gia công đồng thời cũng bị o ép về phí gia công.
4. Nhiệm vụ của xuất khẩu hàng hoá.
Từ sau năm 1986, Chính phủ Việt Nam bắt đầu mở cửa nền kinh tế, xoá bỏ chế độ
quản lý kế hoạch hoá tập trung, nền kinh tế của Việt Nam nói chung và xuất khẩu
nói riêng đã đạt đợc những thành tựu nhất định. Với mục tiêu: Đẩy mạnh xuất
khẩu, coi xuất khẩu là hớng u tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Tạo thêm
các mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Nâng sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu trên thị tr-
ờng. Giảm tỷ trọng sản phẩm thô và sơ chế; tăng tỷ trọng sản phẩm chế biến sâu và
tinh trong hàng xuất khẩu. ở những thời điểm nhất định mục tiêu xuất khẩu có khác
nhau, nhng mục tiêu quan trọng chủ yếu nhất của xuất khẩu là để nhập khẩu đáp ứng
nhu cầu của nền kinh tế quốc dân. Nhu cầu của nền kinh tế rất đa dạng: Phục vụ cho
sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, cho tiêu dùng, cho xuất khẩu và tạo công
ăn việc làm.
Để thực hiện tốt mục tiêu trên, hoạt động xuất nhập khẩu cần phải hớng vào các
nhiệm vụ sau:
-Phải mở rộng thị trờng, nguồn hàng và đối tác kinh doanh xuất khẩu nhằm tạo
thành cao trào xuất khẩu, coi xuất khẩu là mũi nhọn đột phá cho sự phát triển.
-Phải ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nớc nh đất đai, nhân lực, tài
nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật-công nghệ, chất xám theo hớng khai thác
lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh.
-Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối lợng và kim ngạch
xuất khẩu.
-Tạo ra những mặt hàng (nhóm hàng) xuất khẩu có khối lợng và giá trị lớn đáp ứng
những đòi hỏi của thị trờng thế giới và của khách hàng về chất lợng và số lợng, có
sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao.
II. Nội dung của xuất khẩu hàng hoá ở doanh nghiệp.
1.Nghiên cứu thị trờng xuất khẩu.
Nghiên cứu thị trờng là một khâu rất quan trọng không thể thiếu đợc đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào muốn tham gia kinh doanh trên thị trờng thế giới. Nghiên cứu thị
trờng tạo khả năng cho các nhà kinh doanh thấy đợc quy luật vận động của từng
hàng hoá cụ thể thông qua sự biến đổi nhu cầu, nguồn cung cấp và giá cả hàng hoá
đó trên thị trờng, giúp họ giải quyết đợc các vấn đề thực tiễn kinh doanh.
Nghiên cứu thị trờng là quá trình thu thập thông tin số liệu về thị trờng so sánh, phân
tích những thông tin số liệu đó để rút ra kết luận về xu hớng vận động của thị trờng.
Những kết luận này giúp cho nhà quản lý đa ra đợc những nhận định đúng đắn để
lập kế hoạch kinh doanh, kế hoạch Marketing. Nội dung chính của nghiên cứu thị tr-
ờng là xem xét khả năng xâm nhập và mở rộng thị trờng. Nghiên cứu thị trờng đợc
thực hiện theo hai bớc: nghiên cứu khái quát và nghiên cứu chi tiết thị trờng.
Nghiên cứu khái quát thị trờng cung cấp cho ta biết đợc những thông tin về quy mô,
cơ cấu, sự vận động của thị trờng, các yếu tố ảnh hởng đến thị trờng nh môi trờng
kinh doanh, môi trờng chính trị luật pháp, khoa học công nghệ, môi trờng văn
hoá xã hội, môi trờng sinh thái.
Nghiên cứu chi tiết thị trờng cho biết những thông tin về tập quán mua bán, những
thói quen và những ảnh hởng đến hành vi, mua hàng của ngời tiêu dùng.
Nghiên cứu thị trờng đợc tiến hành theo hai phơng pháp chính: nghiên cứu tại bàn và
nghiên cứu tại hiện trờng. Nghiên cứu tại bàn là nghiên cứu bằng cách thu thập
thông tin từ các nguồn tài liệu đã đợc xuất bản công khai và xử lý các thông tin đó.
Nghiên cứu tại hiện trờng là việc thu thập thông tin chủ yếu thông qua tiếp xúc trực
tiếp, sau đó tiến hành phân tích các thông tin thu thập đợc.
Nghiên cứu thị trờng bao gồm:
1.1Lựa chọn thị trờng xuất khẩu.
Lựa chọn thị trờng xuất khẩu phức tạp hơn nhiều so với việc lựa chọn thị trờng trong
nớc bởi vì các nớc khác nhau có những nhu cầu, yêu cầu rất nhau về mỗi loại hàng
hoá. Do vậy việc lựa chọn thị trờng xuất khẩu đòi hỏi phải tốn nhiều thời gian và
công sức mới đa ra đợc quyết định đúng đắn. Khi nghiên cứu thị trờng doanh nghiệp
cần chú ý đến các vấn đề sau:
-Thông tin về quy mô, cơ cấu, sự vận động của thị trờng và các nhân tố làm thay đổi
dung lợng của thị trờng.
-Nắm vững thông tin về biến động giá cả hàng hoá trên thị trờng thế giới cũng nh giá
nguồn hàng cung cấp trong nớc.
-Công việc nghiên cứu thị trờng phải diễn ra thờng xuyên liên tục vì thị trờng luôn
biến động.
1.2Lựa chọn mặt hàng xuất khẩu.
Mục đích của việc lựa chọn mặt hàng xuất khẩu là để xác định những mặt hàng kinh
doanh phù hợp với năng lực và khả năng của công ty, đồng thời đáp ứng đợc nhu cầu
của thị trờng, từ đó mang lại hiệu quả kinh doanh cao.
Để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu, trớc tiên cần phải dựa vào nhu cầu và thị hiếu của
ngời tiêu dùng về chủng loại, số lợng, chất lợng, giá cả hàng hoá trên thị trờng xuất
khẩu. Mặt khác cần phải xem xét đến khả năng đáp ứng của thị trờng trong nớc về
mặt hàng đó. Nghiên cứu thị trờng để lựa chọn mặt hàng xuất khẩu cũng cần phải
phân tích kỹ tình hình cung trên thị trờng đó chính là toàn bộ khối lợng hàng hoá đã
và đang có khả năng bán ra trên thị trờng, cần xem xét đến giá cả trung bình, sự
phân bố hàng hoá và tình hình sản phẩm của công ty đang ở giai đoạn nào trên thị tr-
ờng. Chú ý đến đối thủ cạnh tranh, khả năng cung ứng, sức mạnh tài chính, kế hoạch
sản xuất kinh doanh của họ và các biện pháp cạnh tranh mà họ sử dụng.
Cần phải đánh giá đúng thực lực của mình về khả năng cung ứng, giá cả và việc dự
báo chính xác những thuận lợi, khó khăn khi tung hàng hoá ra thị trờng nớc ngoài.
1.3Lựa chọn đối tác kinh doanh.
Đối tác kinh doanh là những ngời những hoặc những tổ chức có quan hệ giao dịch
với doanh nghiệp nhằm thực hiện các hợp đồng mua bán hàng hoá hoặc các loại dịch
vụ. Việc lựa chọn đúng đối tác là điều rất quan trọng để thực hiện thắng lợi hợp đồng
xuất khẩu. Để lựa chọn đối tác kinh doanh ngời ta thờng dựa vào những căn cứ sau:
-Tình hình sản xuất, kinh doanh của đối tác để thấy đợc khả năng cung cấp lâu dài.
-Quan điểm kinh doanh của đối tác trên thị trờng trong nớc cũng nh trên thị trờng
quốc tế.
-Lĩnh vực kinh doanh của đối tác.
-Khả năng tài chính và cơ sở vật chất của đối tác. Khả năng thanh toán của đối tác
trong ngắn hạn, dài hạn đảm bảo hợp đồng đợc thanh toán đúng thời hạn. Nghiên
cứu sức mạnh về vốn, về công nghệ của đối tác cho thấy đợc những u thế trong thoả
thuận về giá cả, điều kiện thanh toán.
-Thông tin và mối quan hệ trong kinh doanh.
2.Xây dựng kế hoạch và phơng án xuất khẩu hàng hoá.
2.1 Xây dựng kế hoạch xuất khẩu hàng hoá.
Công ty cần phải đặt ra những mục tiêu kế hoạch trong từng thời kỳ nhất định và
thống nhất với mục tiêu chiến lợc. Mục tiêu cần phải rõ ràng, cụ thể đối với toàn
công ty và đối với từng bộ phận. Chẳng hạn khi mục tiêu chiến lợc của công ty trong
giai đoạn này là lợi nhuận thì mục tiêu kế hoạch chung của công ty là phải đạt đợc
bao nhiêu lợi nhuận trong năm
Có thể vạch ra các mục tiêu định tính hay định lợng. Các mục tiêu định lợng đợc coi
là chỉ tiêu kế hoạch xuất khẩu, bao gồm: Chỉ tiêu doanh số, chỉ tiêu chi phí, chỉ tiêu
lợi nhuận, dự trữ Công ty cần xây dựng kế hoạch các công việc cụ thể cần làm để
hoàn thành các chỉ tiêu này.
Việc xây dựng kế hoạch xuất khẩu là điều kiện tiền đề cho việc hoàn thành tốt chiến
lợc xuất khẩu và là một công việc rất cần thiết. Nó giúp công ty nắm bắt những cơ
hội và giảm thiểu rủi ro. Việc dự báo chính xác nhu cầu thị trờng từ đó xây dựng lên
các kế hoạch thu mua, dự trữ sẽ đảm bảo cho xuất khẩu thắng lợi.
2.2Phơng án xuất khẩu hàng hoá.
Trên cơ sở kết quả thu đợc trong quá trình nghiên cứu tiếp cận thị trờng, đơn vị xuất
khẩu phải lập phơng án kinh doanh cho mình. Việc xác định phơng án kinh doanh
bao gồm:
-Đánh giá tình hình thị trờng và thơng nhân, phác hoạ bức tranh tổng quát về hoạt
động kinh doanh, những thuận lợi và khó khăn.
-Lựa chọn mặt hàng thời cơ điều kiện và phơng thức kinh doanh, sự lựa chọn này
phải mang tính thuyết phục trên cơ sở phân tích tình hình có liên quan.
-Đề ra mục tiêu cụ thể nh sẽ bán đợc bao nhiêu hàng, giá bán lẻ bao nhiêu, thâm
nhập vào thị trờng nào.
-Đề ra biện pháp và công cụ thực hiện nhằm đạt đợc mục tiêu.
-Sơ bộ đánh giá hiệu quả kinh tế của hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu cơ
bản.
+ Chỉ tiêu tỷ suất ngoại tệ hàng xuất khẩu.
+ Chỉ tiêu tỷ suất doanh lợi xuất khẩu.
+ Chỉ tiêu thu hồi vốn cho xuất khẩu.
+ Điểm hoà vốn trong xuất khẩu hàng hoá.
3.Giao dịch, đàm phán ký kết hợp đồng xuất khẩu hàng hoá.
Giao dịch là sự tiếp xúc, quan hệ giữa các cá nhân để trao đổi thông tin hoặc thoả
mãn một nhu cầu nào đó. Giao dịch kinh doanh là sự tiếp xúc, quan hệ giữa các chủ
thể kinh doanh nhằm trao đổi các thông tin về thị trờng, hàng hoá, giá cả, kinh
nghiệm kinh doanh
Đàm phán kinh doanh là bàn bạc, thoả thuận giữa hai hay nhiều bên để cùng nhau
nhất trí hay thoả hiệp giải quyết những vấn đề về kinh doanh có liên quan đến các
bên.
Đàm phán hợp đồng kinh doanh quốc tế: Là một loại đàm phán hợp đồng kinh
doanh, trong đó yếu tố quốc tế đợc thể hiện ở việc có ít nhất hai chủ thể có quốc
tịch khác nhau tham gia đàm phán để lập nên (ký kết) các hợp đồng kinh doanh
quốc tế.
Giao dịch đàm phán trong hoạt động xuất khẩu là một quá trình trong đó diễn ra sự
trao đổi, bàn bạc giữa doanh nghiệp ngoại thơng và khách hàng nớc ngoài về các
điều kiện mua bán một loại hàng hoá để đi đến thoả thuận, nhất trí giữa hai bên.
Trong kinh doanh nói chung và trong kinh doanh quốc tế nói riêng, ngời ta có thể sử
dụng một trong ba phơng thức giao dịch, đàm phán sau:
-Giao dịch, đàm phán qua th tín: Là phơng thức đợc sử dụng phổ biến trong kinh
doanh. Phơng thức này thờng là sự khởi đầu và giúp cho việc duy trì những giao dịch
lâu dài. So với phơng thức gặp gỡ trực tiếp, giao dịch qua th tín tiết kiệm đợc nhiều
chi phí, các quyết định đa ra thờng đợc cân nhắc kỹ càng và tranh thủ đợc nhiều ý
kiến của tập thể.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét