thành thành viên của các tổ chức kinh tế quốc tế. Điều đó được chứng minh ở
chỗ tuyệt đai đa số các quốc gia trên thế giới trên đều tham gia các tổ chức
kinh tế khu vực, toàn cầu.
Là thành viên, các quốc gia phải thực hiện những định chế, những hiệp
định, những cam kết do các bên thoả thuận. Người ta coi đó là luật chơi chung
hay còn gọi là thông lệ quốc tế mà các quốcgia phải tuân thủ. Nhưng tuyệt đối
không nên nghĩ rằng các luật chơi, các thông lệ hiện hành đã hoàn hảo, bất di
bất dịch. Đấu tranh để cải tiến, hoàn thiện nó theo hướng tích cực đã trở thành
nhu cầu, trách nhiệm của các quốc gia, trước hết và chủ yếu là các quốc gia
chậm phát triển.
Do những đặc điểm nói trên, trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc
tế, luôn luôn tiềm ẩn hai khảnăng: thời cơ và thách thức, mặt phải và mặt trái,
hợp tác và đấu tranh, phát đạt và phá sản, vươn lên và tụt hậu, tự chủ và phụ
thuộc Những khả năng đó tác động theo chiều hướng nào và với mức độ ra
sao đối với từng quốc gia, tuỳ thuộc trước hết và chủ yếu ở bản lĩnh, khả năng
chịu chủ quan của từng quốc gia. Run sợ trước thách thức, do đó không mạnh
dạn, kịp thời hội nhập quốc tế, để tận dụng các lợi thế thì sẽ bỏ lỡ cơ hội, làm
hụt hẫng các nguồn lực, làm chậm đà tăng trưởng kinh tế. Ngược lại, coi
thường thách thức, không thấy hết chiều sâu của thách thức, do đó hội nhập
một cách tuỳ tiện, không tính toán thì vấp váp, thua thiệt, thậm chí đổ vỡ là
không tránh khỏi. Đồng thời phải thẳng thắn thấy rằng:Hậu hoạ lớn nhất là
không hội nhập, bởi vì thế không nên nghĩ rằng không hội nhập có thể tránh
khỏi mọi thách
thức, trái lại có khi thách thức còn lớn hơn. Nừu đặt mình ra ngoài xu thế
chung thi hành chính sách tự lực một chiều không biết tận dụng ưu thế của
phân công lao động quốc tế thì không tránh khỏi tụt hậu ngày càng xa hơn,
cuối cùng sẽ vỡ mộng về nền kinh tế tự chủ, rơi vào tình trạng nền kinh tế phụ
thuộc, kéo theo những tác động khó lường về chính trị-xã hội.
I.2. Cạnh tranh kinh tế quốc tế và sự tác động tới Việt Nam.
Ngay trong thời kỳ đầu của thế kỷ 19 nhà kinh tế cổ điển vĩ đại người Anh
Đavit Ricacđô đã cho rằng sự hoạt động không bị hạn chế của quy luật lợi thế
tương đối làm cho mọi người ngày càng phát đạt hơn. Ông nói: mỗi quốc gia
cần tự do lựa chọn hướng chuyên môn hóa vào những sản phẩm có hiệu quả
và giành việc sản xuất sản phẩm khác cho những nước nào có khả làm việc đó
5
5
một cách có hịêu quả nhất. Như vậy nền kinh tế thế giới sẽ có nhiều hàng hoá
hơn được đem ra trao đổi thông qua ngoại thương.
Từ đó tới nay, thực tiễn kinh tế thế giới đã chững minh hùng hồn sức
mạnh chân lý của lý tưởng vĩ đại đó. Ngày nay, ánh đèn neon quảng cáo của
các công ty đa quốc gia Nhật bản, Mỹ, cộng đồng Châu Âu và các nước Nies
đã chiếu sáng rực rỡ bầu trời của hầu hết các thành phố trên thế giới. Các
công ty này đã vươn rộng các chi nhánh của chúng để khai thác triệt để các
khả năng lợi thế so sánh tương đối trong sản xuẩt ở mọi nơi trên trái đất và cả
lợi thế tương đối về quy mô của bản thân chúng. Tính kinh tế, hiệu quả của
quy mô càng được mạnh thông qua việc đầu tư ra thị trường nước ngoài và
ưu thê của các quy mô kinh tế đó đã vượt qua được những quy đinh và rủi ro
về tài chính khi hoạt động trên phạm vi thế giới.
Nói tới cạnh tranh là nói tới thị trường và ngược lại, nói tới thị trường là
nói tới cạnh tranh. Ngược lại, thị trường mà không có cạnh tranh thì không
còn là thị trường nữa. Mặt tích cực của thị trường cũng là mặt tích cực của
cạnh tranh. Mặt tiêu cực của thị trường tồn tại theo quan niệm của nhiều
người, cũng là mặt tiêu cực của cạnh tranh. ý đồ tạo lập thị trường không có
cạnh tranh, “thị trường có tổ chức” đã sụp đổ hoàn toàn vì nó không tao ra
được cơ chế phân phối tối ưu các nguồn lực của xã hội. Triệt tiêu cạnh tranh
là làm mất tính năng động sáng tạo của mỗi con người cũng như của toàn xã
hội, nền sản xuất xã hội sẽ không có hiệu quả- nguồn gốc của việc nâng cao
đời sống nhân dân.
Ngày nay, cạnh tranh kinh tế quốc tế vừa mang tính chất kinh tế vừa mang
tính chất chính trị, hay nói chính xác hơn, cạnh tranh kinh tế quốc tế được
phát triển trên cơ sở sự thống nhất kinh tế và chính trị. Chúng ta có thể thấy
rất nhiều sự kiện xảy ra trên thế giới minh chứng cho điều này. Cạnh tranh
kinh tế quốc tế lên đến đỉnh cao thường được gọi là chiến tranh kinh tế. Chiến
tranh kinh tế ngoài mục tiêu kinh tế giống như cạnh tranh kinh tế nhằm thu
lợi nhuận, chiến tranh kinh tế nhằm mục đích khác, có thể là quân sự, phi
quân sự, để hỗ trợ cho một cuộc chiến tranh quân sự như kiểm soát tàu hàng,
phong toả cảng, chiến thuật vùng đất trống. Chiến tranh kinh tế còn về chính
trị thường nhằm mục đích làm cho một nước hoặc một nhóm nước bị phụ
thuộc và buộc họ phải thay đổi chính sách của mình với các biện pháp thường
dùng là cấm vận hoặc trừng phạt. Như vậy, chiến tranh kinh tế có thể có
những đặc trưng khác với cạnh tranh kinh tế.
6
6
Lý luận kinh tế học đã chỉ ra tình trạng cấm chợ ngăn sông, hạn chế cạnh
tranh trong một quốc gia sẽ gây thiệt hại lớn, lãng phí ghê gớm các nguồn lực.
Hạn chế cạnh tranh kinh tế quốc tế, thực hiện chế độ bảo hộ dưới mọi hình
thức khác nhau cũng sẽ gây thiệt hại to lớn, lãng phí nhiều hơn cho nền kinh
tế thế giới ở phương diện tổng thể. Thật vô lý khi người ta phải mua những
hàng hoá phải đắt hơn hoặc chất lượng thấp hơn, xấu hơn trong khi vẫn có
người sẵn sàng bán những hàng hóa đó với giá rẻ hơn, chất lượng tốt hơn. Thế
nhưng, lợi ích toàn cục, lợi ích toàn nhân loại vẫn cứ phải lùi bươc trước
những lợi ích cục bộ và nhất thời bởi các hàng rào thuế quan và phi thuế
quan.
I.3. Các quan điểm về hội nhập và nâng cao khả năng cạnh tranh
Để hội nhập nền kinh tế quốc gia vào khu vực và thế giới thì việc nâng
cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam là thách thức vô cìng lớn đối với
chúng ta. Nó đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần lưu tâm giải quyết để tạo ra
những bước đột phá, phát huy tối đa nội lực, đảm bảo tính định hướng XHCN
của nền kinh tế trên con đường hội nhập. Sau đây là sáu quan điểm hội nhập
kinh tế quốc tế xác định cho Việt Nam trong xu thế toàn cầu hoá.
Một là, chủ động vạch ra chiến lược phát triển tổng thể vượt đuổi phù hợp
với những mục tiêu cụ thể trong từng thời kì nhất định
Như chúng ta đã biết, các nền kinh tế công nghiệp mới (Nies) Đông á nhờ
xác định đựơc chiến lược vượt đuổi đầy táo bạo mà họ đã đạt được những kết
quả vượt trội so với nhiều nước trong khu vực, vươn lên trở thành các “con
rồng” với những chỉ tiêu kinh tế tăng liên tục trong nhiều năm, tạo nên những
bước đi thần tốc trong qua trình hphát triển kinh tế đất nước. Trong từng giai
đoạn cụ thể Nies đã xác định đựơc chiến lược đi tắt, đón đầu phù hợp nên đã
có những thành công lớn trong phá triển nền kinh tế. Chẳng hạn, ở thời kì đầu
khi còn thiếu vốn, kỹ thuật kém họ đã tiến hành công nghiệp goá thay thế
nhập khẩu, phát triển một số ngành công nghiệp, giải quyếnt những vấn đề xã
hội bức xúc và ở chiến lược công nghiệp hóa hướng ra xuất khẩu, với mục
tiêu khai thác lợi thế bên trong kà chủ yếu như lao động dồi dào, giá rẻ nên
họ chủ yếu tập trung vào công nghiệp nhẹ, dùng nhiều lao động đã đem lại
nguồn thu ngoại tệ đáng kể, tạo lực cho sự phát triển công nghiệp nặng. Để
theo kịp xu thế phát triển thì họ lại tiến hành công nghiệp hoá hướng tới công
nghệ cao và đã thu được những kết qủa đáng khả quan. Nhìn chung, chỉ có
những nước xác định được những chiến lước táo bạo, với những mục tiêu
7
7
phát triển đầy tham vọng mới có thể tạo ra được những bước phát triển thần
kì, mà không phải nước nào cũng làm được với những chiến lược thông
thường cũng mang lại thành công như vậy. Vì vậy trong xu thế toàn cầu hoá,
khu vực hoá diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì Việt Nam cần phải căn cứ vào
điều kiện cụ thể để xác định chiến lược phát triển có lựa chọn, có trọng điểm.
Đôí với Việt Nam hiện nay thì chiến lược tự do hoá thương mại, tự do hoá thị
trường là con đường phù hợp hơn cả. Có như vậy, Việt Nam mới tiếp cận
được những kỹ thuật công nghệ hiện đại của các nước, mở rộng thị trường
giao lưu, tạo ra cầu nối thông thương với các nước trên thế giới để học hỏi
kinh nghiệm. Tuy vậy, Việt Nam cần lựa chon con đường riêng cho mình, để
phấn đấu phát triển kinh tế xã hội, xác định mục tiêu thiết lập được một nền
kinh tế cạnh tranh công bằng và hiệu quả.
Hai là, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải dựa trên quan điểm khuyến
khích và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh.
Chúng ta biết rằng, cạnh tranh là một trong những đặc trưng cơ bản của cơ
chế thị trường, không có cạnh tranh thì không có nền kinh tế thị trường. Nền
kinh tế thị trường khi vận hành phải tuân thủ những quy luật khách quan riêng
có của mình, trong đó quy luật cạnh tranh. Cạnh tranh là động lực hay như
A.Smith gọi là “bàn tay vô hinh” thúc đẩy lực lượng sản xuất xã hội phát
triển. Nếu lợi nhuận thúc đẩy các cá nhân tiến hành sản xuấ kinh doanh một
cách có hiệu quả nhất thì cạnh tranh lại bắt buộc và thôi thúc họ phải điều
hành các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả nhất. Vì vậy,
cạnh tranh là yếu tố cần thiết cho sự phát triển của nền kinh tế. Cạnh tranh là
động lực kinh tế của sản xuất hàng hóa, bởi lẽ nó là con đường để thực hiện
lợi ích của các chủ thể trong kinh doanh. Động lực này có tác dụng hai mặt,
một mặt thúc đẩy kinh tế phát triển, mặt khác hạn chế có khi đi đến sự phá vỡ
sự phát triển kinh tế. Cạnh tranh chính là môi trường tồn tại và phát triển kinh
tế thị trường, không có cạnh tranh sẽ không có tính năng động và sáng tạo
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Song xã hội dần sẽ chỉ chấp nhận hành
vi cạnh tranh lành mạnh bằng các phương thức sản xuất và chu chuyển hành
hoá một cách khoa học, hiệu quả chứ không thừa nhận các hành vi cạnh tranh
bằng cách dựa vào các thủ đoạn lừa đảo không trong sáng.
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới nền kinh tế, thực hiện kinh tế mở,
gắn nền kinh tế Việt Nam với khu vực và thế giới. Đại hội đại biểu toàn quốc
lần thư VIII của Đảng đã xác định: “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành
8
8
một môi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp, văn minh. Cạnh tranh vì lợi
ích phát triển đất nước, chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lãng phí nguồn
lực, thôn tính lẫn nhau”. Từ quan điểm mang tính nguyên tắc của Đảng, thì
điều kiện cần và đủ để khuyến khích và thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh là phải
xây dựng hệ thống pháp luật nghiêm minh, luật lệ đưa ra phải có tính khả thi.
Cần có sự điều tiết của Nhà nước để tạo điều kiện, môi trường cho cạnh tranh
lành mạnh trong sản xuất kinh doanh. Cần có những quy định cụ thể về thủ
tục khiếu kiện và thẩm quyền xử lý của một tổ chức tài phán trong phạm vi cả
nước đối với những hành vi cạnh tranh không lành mạnh, nhằm giữ nghiêm
kỷ cương phép nước, có như vậy mới tạo sự dung hợp giữa cạnh tranh và
công bằng xã hội.
Ba là, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải phát triển trên cơ sở phát huy
các lợi thế so sánh của đất nước như: con người, truyền thống văn hoá dân
tộc, sự ổn định chính trị- xã hội, vị trí địa lý chính trị và kinh tế, tài nguyên
thiên nhiên
Việt Nam là nước được thiên nhiên ban tặng nhiều tài nguyên thiên nhiên
rất thuận lợi cho quá trình phát triển kinh tế, cộng với nguồn nhân lực dồi dào
với hơn 80 triệu dân và hơn 40 triệu lao động, cơ cấu dân số trẻ, cần cù lao
động, giá nhân công rẻ. Hơn nữa từ sau đổi mới thì tình hình đất nước có sự
ổn định về chính trị và kinh tế tạo điều kiện cho các nhà đầu tư trong và ngoài
nước yên tâm bỏ vốn kinh doanh, mở rộng thị trường và mối quan hệ với các
nước trên thế giới. Chính nhờ những lợi thế này mà sức mạnh cạnh tranh của
nền kinh tế được nâng cao, những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Việt Nam đã
có mặt trên thị trường khu vực và quốc tế, đã có sức cạnh tranh về giá cả. Vì
vậy, cần nhận thức rõ vị trí quan trọng của những lợi thế mà mình đang óc để
có những giải pháp hữu hiệu giữ gìn và khai thác có hiệu quả. Đồng thời, cần
nhận thức được thực chất của những lợi thế so sánh đó là phần lớn do thiên
nhiên ban tặng nên nó không có độ bền vững lâu dài nếu chúng ta không có
chiến lược phát triển quy hoạch, phát triên có kế hoạch.Chính vì vậy, trên cơ
sở phát huy các lợi thế so sánh vốn có thì cần phải có sự phát triển mới, tạo ra
bươc đột phá thu hẹp khoảng cách, đuổi kịp các nước trong khu vực, vươn lên
sánh vai với các nước trên thế giới. Đồng thời, đánh giá đúng tầm quan trọng
của các nguồn lực để có biện pháp khai thác hợp lý có hiệu quả, muốn vậy
nền kinh tế phat có đủ sức mạnh đáp ứng được mọi sự biếnđổi của thị trường
bằng chính nội lực của mình là chủ yếu.
9
9
Tóm lại phát huy nhứng lợi thế so sánh của đất nước là tiền đề quan trọng
và cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam. Vấn để
quan tâm là cần nhận thức và đánh giá đúng mức các lợi thế so sánh. Trong
các nguồn lực thì nguồn nhân lực được đào tạo có ý nghĩa lớn hơn cả, đào tạo
con người là động lực trực tiếp của sự phát triển nền kinh tế. Cần không
ngừng kết hợp sử dụng các nguồn lực có hiệu quả, không ngừng tái tạo, bồi
dưỡng tao ra các nguồn có lợi thế cho đất nước.
Bốn là, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế phải giữ vững định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý
của nhà nước theo định hướng XHCN. Do vậy, định hướng XHCN trong sự
phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần ở nước ta là một tất yếu
khách quan, tức nhà nước ở đây có vai trò điều tiết nền kinh tế, bảo đảm ngày
càng tốt hơn nhu cầu vật chất cho xã hội; bảo đảm công bằng xã hội trên cơ
sở nền đại công nghiệp hiện đại; tạo ra bước chuyển mạnh mẽ về cơ cấu kinh
tế. Định hướng XHCN là sản phẩm tất yếu của quá trình tác động của quy luật
quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất và sự nhận thức của những người cộng sản đối với sự vận
động của các hình thái kinh tế xã hội loài người.
Vì vậy, nhận thức rõ mặt phù hợp giữa kinh tế thị trường với định hướng
XHCN. Bởi vì kinh tế thị trường là sản phẩm chung của nền kinh tế thế giới,
phản ánh các nấc thang tiến hoá trong một giai đoạn cụ thể của nền kinh tế thế
giới. Nó không phải là sản phẩm của một phương thức sản xuất mà sẽ tồn tại
trong nhiều phương thức sản xuất. Và kinh tế thị trường là sản phẩm của sự
tác động biện chứng giữa quy luật quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất.
Chính vì vậy, kinh tế thị trường và định hướng XHCN không thể đối lập nhau
trong sự phát triển. Nhận thức được những mặt tích cực của kinh tế thị
trường, để từ đó kế thừa chọn lọc, tiếp thu những nhân tố kích thích sự phát
triển, đặc biệt là sự vận dụng mặt tích cực của các quy luật: giá trị, cung cầu,
cạnh tranh làm lợi cho nền kinh tế. Đồng thời, giữa KTTT và định hướng
XHCN có những mặt đối lập, xuất phát từ bản chất của chúng, đó là về xu
hướng vận động và mục tiêu phát triển của chúng. Cần nhận thức rõ mặt tiêu
cực của KTTT để có chiến lược đề phòng, hạn chế những tác động xấu cho
nền kinh tế.
10
10
Trong điều kiện Việt Nam để đảm bảo tính định hướng XHCN thì cần
tăng cường lực lượng kinh tế nhà nước; kinh tế nhà nước phải đủ sức mạnh,
vươn lên đóng vai trò chủ đạo, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của
Đảng đã chỉ rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước: làm đòn bẩy đẩy nhanh
tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội; mở đường, hướng dẫn,
hỗ trợ các thành phần kinh tế khác phát triển; làm lực lượng vật chất để nhà
nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô; tạo nền tảng cho chế độ
xã hội mới. Và tiến hành đổi mới, hoàn thiện các công cụ quản lý vĩ mô.
Năm là, nâng cao sức cạnh tranh phải quán triệt quan điểm đa phương
hoá, đa dạng hoá các quan hệ kinh tế đối ngoại.
Sau 15 năm đổi mới nền kinh tế nước ta đã đạt được những thành tựu nhất
định, nhưng vẫn còn những mặt yếu kém chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển
như: khả năng về vốn có hạn, nhu cầu việc làm rất bức bách, đời sống nhân
dân còn nhiều khó khăn, tình hình kinh tế xã hội chưa thật ổn định vững chắc.
Do vậy, vấn đề đặt ra là cần phải tiếp tục kiên trì và mở rộng kinh tế đối ngoại
là nhu cầu bức bách đối với chúng ta. Đại hội IX cũng đã khẳng định: “Thực
hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá
đa dạng hoá các quan hệ kinh tế. Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy
của các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát
triển”.
Để quán triệt được quan điểm trên, chúng ta cần phải mở rộng thị trường
xuất khẩu, đổi mới cơ cấu và nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu. Hoạt động
xuất khẩu phải được đặc biệt chú trọng, đây là ngành mang lai nguồn thu
ngoại tệ lớn, tạo nguồn vốn để tiến hành CNH-HĐH đất nước. Đại hội lần thứ
VIII của Đảng đã chỉ rõ: đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là xu hướng ưu
tiên và là trọng điểm của kinh tế đối ngoại. Tăng tỉ trọng sản phẩm chế biến
sâu và tinh, giảm mạnh việc xuất khẩu hàng thô. Tăng khối lượng các mặt
hàng đặc sản có giá trị. Đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại
có quan hệ gắn bó, tác động qua lại, bổ sung, thúc đẩy nhau cùng phát triển.
Do đó, để nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam cần quán triệt
quan điểm đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ kinh tế đối ngoại.
Sáu là quán triệt quan điểm hiệu quả kinh tế xã hội.
Nền kinh tế muốn tăng trưởng và phát triển bền vững phải đảm bảo hiệu
quả kinh tế- xã hội cao. Nó được coi là tiêu chuẩn hàng đầu ở bất cứ ngành,
lĩnh vực kinh tế nào trong nền kinh tế. Đặc biệt trong guồng máy của sự phát
11
11
triển thì hai khía cạnh cần đựơc xem xét đánh giá đúng mức là: hiệu quả kinh
doanh và hiệu quả kinh tế xã hội. Hiệu quả kinh doanh thể hiện kết quả kinh
doanh thông qua chỉ tiêu lãi hay lỗ, được xác định cả định tính lẫn định lượng.
Còn hiệu quả kinh tế xã hội là kết quả mang lại cho đời sống xã hội, đối với
một dịch vụ kinh doanh hoặc hoạt động của một doanh nghiệp hoặc đối với
một hoạt động kinh tế đối ngoại nhất định. Nó thể hiện mức độ đóng góp vào
thực hiện mục tiêu kinh tế xã hội của đất nước; chủ yếu được xác định về mặt
định tính khó xác định về mặt định lượng. Do vậy, chúng ta cần nhận thức rõ
tầm quan trọng của hiệu quả kinh doanh và hiệu quả kinh tế xã hội; chúng có
quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại bổ sung lẫn nhau trong quá trình
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nhà nước cần có hệ thống pháp luật,
chính sách và cơ chế quản lý kinh tế, đảm bảo công bằng xã hội, hướng dần
khuyến khích các doanh nghiêpj chú trọng đến hiệu quả kinh tế trong kinh
doanh, đây là điểm mấu chốt, quyết định sự thành bại của các doanh nghiệp;
có như vậy mới nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam trên thị
trường quốc tế. Đổng thời, nhà nước phải hướng dẫn mọi hoạt động kinh tế
thực hiện dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh theo định
hướng XHCN.
II. THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA VIỆT NAM
II.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Việc đánh giá năng lực cạnh tranh của một quốc gia có thể được tiếp cận
trên ba cấp độ(nền kinh tế, ngành, doanh nghiệp). Dưới dây sẽ đề cập đến trên
cấp độ nền kinh tế.
Khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam được đánh giá ở mức độ
rất thấp.
Hệ thống tài chính chưa năng động. Các nguồn thu vào ngân sách còn
chứa đựng những yếu tố bất ổn dịnh, nhất là các khoản thu từ thuế xuất nhập
giảm xuống làm cho mức thâm hụt càng lớn so với nhu cầu có thể giải quyết
đồng bộ các vấn đề kinh tế xã hội, hệ thống ngân hàng thương mại với 4 trụ
cột lớn vẫn chủ yếu thực hiện chức năng là tổ chức tín dụng chứ chưa phải là
nhà đầu tư . Hơn 60%tín dụng cấp cho các doanh nghiệp là ngắn hạn, tỷ trọng
đầu tư vào các doanh nghiệp của hệ thống ngân hàng hầu như là không đáng
kể. Hệ thống tài chính theo kiểu trực tuyến với các cấp của hệ thống ngân
sách . chúng ta còn thiếu hẳn hệ thống các tổ chức tài chính trung gian năng
động cho nền tài chính quốc gia như: các công ty thuê mua, công ty nhận nợ,
12
12
công ty chứng khoán Lượng tiền trong lưu thông còn qua lớn, nằm ngoài sự
kiểm soát của hệ thống tài chính công.
Hệ thống chứng từ kế toán chưa phản ánh các quan hệ thanh toán trong
nền kinh tế. Các khoản chi tiêu có chứng từ làm cho luật thuế VAT phải có
những điều chỉnh không đáng có, làm cho tính pháp lý của thuế chưa cao.
Việc điều chỉnh thuế suất thuế VAT sẽ gây phức tạp cho việc tổ chức thực
hiện. Hệ thống kế toán chưa theo kịp các thông lệ quốc tế cũng là một cản trở
lớn cho sự hội nhập, trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Kết cấu hạ tâng kỹ thuật- thông tin còn thấp kém lại không đồng đều giữa
các vùng là nguyên nhân trực tiếp làm giảm khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế, bởi từ đó chi phi đầu vào cho các doanh nghiệp tăng cao. Từ trạng thái
phát triển không đều giữa các vùng, nhanh chóng thay đổi cơ cấu dân cư
khiến một số đô thị nhanh chóng quá tải đang là gánh nặng cho ngân sách vì
các vấn đề xã hội và sinh thái.
Trình độ, chất lượng nguồn nhân lực dồi dào nhưng không mạnh. Đội ngũ
nhân lực trình độ cao để sẵn sàng đối phó với phân công lao động quốc tế
chưa nhiều. Đây là vấn đề thách thức lớn cho hệ thống đào tạo, nhất là đào tạo
nghề nghiệp, năng lực thực hành.
Đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế cả ở tầm vĩ mô và các doanh nghiệp đều
bộc lộ những yếu kém, đặc biệt làkiến thức về thị trường và tài chính. Theo
báo cáo mới đây của chính phủ gẩn 70% giám đốc doanh nghiệp không đọc
nổi các báo cáo tài chính. Kết quả đợt tổng điều tra mới đây về trình độ cán
bộ quản lý các doanh nghiệp cho thấy trong số 127 cán bộ quản lý được hỏi
chỉ có 7 người được đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn lại trong nước sau năm
1990, 9 người được bồi dưỡng ở nước ngoài với thời gian từ một đến ba
tháng.
Thiết chế kinh tế còn mang nặng tính tập trung, một số ngành vẫn duy trì
độc quyền ở các cấp độ, các hình thức. Khu vực kinh tế dân doanh chưa được
khuyến khích thoả đáng, trong nhiều lĩnh vực nhiều khu vực vẫn chưa tìm
thấy sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô với vấn đề của các doanh
nghiệp dân doanh. Mặc dầu thời gian gần đây, sự thông thoáng đã thể hiện rõ
qua việc thực hiện luật doanh nghiệp mới nhưng hệ thống doanh nghiệp dân
doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn chưa nhận đựơc sự hỗ trợ
khích lệ thoả đáng từ phía nhà nước. Các vấn đề như quyền sử dụng đất, vấn
đề quy hoạch tổng thể, sự phối hợp liên ngành của các cơ quan quản lý nhà
13
13
nước vẫn tiếp tục hạn chế đầu tư dài hạn vào sản xuất củakhu vực kinh tế dân
doanh.
Công nghệ sản xuất còn thấp, mặc dù đã có một số công nghệ đạt trình độ
tiên tiến trên thế giới nhưng nhìn chung mặt bằng còn thấp. Trong các ngành
sản xuất hàng hoá hướng về xuất khẩu chủ yếu là công nghệ có đựơc thông
qua chuyên giao công nghệ và khả năng quản lý công nghệ chưa đạt yêu cầu
của sự phát triển công nghệ và tăng trưởng kinh tế. Một số ngành khác chưa
có công nghệ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thế giới dẫn tới chất lượng
sản phẩm kém thiếu sức cạnh tranh, giá thành sản xuất cao. Mặc dù nước ta
đã có một số thành tựu đáng kể trong phát triển công nghệ tuy nhiên vai trò
nghiên cứu và triển khai còn thấp.
II.2. Những yếu tố chủ yếu làm hạn chế khả năng cạnh tranh của sản phẩm
dịch vụ
Thứ nhất, chi phí sản xuất trong từng ngành, từng sản phẩm trong toàn bộ
nền kinh tế còn cao.
Trong nông nghiệp, chi phí sản xuất còn chiếm 40% giá trị sản xuất. Các
phương thức canh tác còn lạc hậu, giống cây trồng vật nuôi có chất lượng và
năng suất thấp, thiết bị chế biến còn lạc hậu, làm cho chi phí sản xuất cao. Khi
giảm thuế nhập khẩu và dỡ bỏ các rào cản phi thuế sẽ hạn chế rất lớn khả
năng cạnh tranh so với hàng nhập khẩu. Chắc chắn sẽ có những doanh nghiệp,
những ngành sản xuất trong nông nghiệp bị thu hẹp quy mô, thâm chí không
tồn tại nếu như ngay từ bây giờ không nâng cao năng lực cạnh tranh của
mình.
Trong công nghiệp, chi phí sản xuất của nhiều sản phẩm còn cao, chiếm
bình quân khoảng 70% giá trị sản xuất. Giá thành một số sản phẩm như xi
măng, thép, giây, vải, phân bón, hoá chất cơ bản, đường đều cao hơn giá
thành sản phẩm cùng loại của các nước trong khu vực từ 20- 30%.
Nguyên nhân của tình trạng này chủ yếu do tồn tai yếu kém ở nhiều khâu:
trước hết là trình độ công nghệ và trang thiết bị của nền kinh tế còn thấp, các
thiết bị công nghệ lạc hậu và trung bình chiếm đến 60- 70%, lạc hậu hơn các
nước trong khu vực hai đến ba thế hệ. Trình độ tay nghề còn thấp, vì vậy năng
suất lao động thấp hơn nhiều so với các nước tiến. Chi phí nguyên liệu đầu
vào nhìn chung là cao do chủ yếu nhập khẩu, chất lượng nguyên liệu sản xuất
trong nước kém, không ổn định, cộng với chi phí sản xuất kinh doanh còn
14
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét