Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

522 Phát triển dịch vụ Ngân hàng của hệ thống Ngân hàng Thương mại trên địa bàn TP.HCM thời kỳ hậu WTO

- 5 -

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ TRONG LUẬN VĂN


Thứ tự Nội dung Trang
BẢNG 2.3.1.1

Bảng thể hiện hoạt động huy động vốn của các NHTM trên
địa bàn TPHCM

29
BIỂU ĐỒ 2.3.1.1

Biểu đồ thể hiện hoạt động huy động vốn của các NHTM
trên địa bàn TPHCM

30
BẢNG 2.2.1.2

Bảng thể hiện kết quả hoạt động dịch vụ tín dụng trên địa
bàn TPHCM

33
BIỂU ĐỒ 2.2.1.2

Biểu đồ thể hiện kết quả hoạt động dịch vụ tín dụng trên địa
bàn TPHCM

33
SƠ ĐỒ 2.3.1.3

Sơ đồ thể hiện khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt
qua ngân hàng trên địa bàn TPHCM

36
BẢNG 2.2.1.3

Bảng thể hiện khối lượng thanh toán không dùng tiền mặt
qua ngân hàng trên địa bàn TPHCM

37
BẢNG 2.3.1.4

Bảng tổng hợp số liệu hoạt động ngoại hối trên địa bàn
TPHCM

38
SƠ ĐỒ 2.3.1.4

Sơ đồ tổng hợp số liệu hoạt động ngoại hối trên địa bàn
TPHCM

39





.



- 6 -

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

ATM Thẻ/máy rút tiền tự động
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
DNNN Doanh nghiệp Nhà nước
EXIMBANK Ngân hàng Thương Mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GATS Hiệp định chung về thương mại dịch vụ
HTX Hợp tác xã
KTTĐPN Kinh tế trọng điểm phía Nam
NH Ngân hàng
NHLD Ngân hàng liên doanh
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHNN Ngân hàng nhà nước
NHTMNN Ngân hàng thươ
ng mại nhà nước
NHNNg Ngân hàng nước ngoài
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMVN Ngân hàng thương mại Việt Nam
PBOC Ngân hàng nhân dân Trung Quốc
SACOMBANK Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
TMQD Thương mại quốc doanh
TMCP Thương mại cổ phần
TPHCM Thành phố Hồ Chí Minh
TW Trung ương
TCTD Tổ chức tín dụng
USD Đô la Mỹ
VN Việt Nam
VNĐ Đồng Việt Nam
XHCN Xã hội chủ nghĩa
WTO Tổ chức thương mại thế giới




- 7 -

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dịch vụ ngân hàng là một ngành kinh tế đặc biệt quan trọng trong nền
kinh tế thị trường. Phát triển dịch vụ ngân hàng là phát triển năng lực phản ảnh
quy mô, tính quy mô và xu thế phát triển chung của nền sản xuất hàng hoá trong
cơ chế thị trường của một quốc gia. Trong những năm qua, cùng với công cuộc
đổi mới, phát triển kinh tế
đất nước, ngành ngân hàng không ngừng trưởng
thành, vững mạnh về quy mô, mạng lưới giao dịch, năng lực tài chính, năng lực
quản trị điều hành, số lượng, chất lượng sản phẩm ngày càng đa dạng. Sự phát
triển này góp phần tích cực trong việc huy động vốn để cho vay, đầu tư, đáp ứng
nhu cầu phát triển ngày càng tăng của sản xuất kinh doanh và đời sống xã hội.
Tuy nhiên bên cạ
nh những thành tựu đã đạt được, ngành ngân hàng còn bộc lộ
những hạn chế, chưa thực sự đáp ứng được những yêu cầu của quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế.
Đối với thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế - xã hội của cả
nước, ngành ngân hàng đã góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế
thành phố. Tuy vậy việc phát triển các dịch vụ ngân hàng còn nhiều bất c
ập, từng
dịch vụ của ngân hàng thương mại chưa tạo dựng được thương hiệu riêng, quy
mô của từng dịch vụ còn nhỏ, chất lượng dịch vụ thấp, sức cạnh tranh yếu, đặt
biệt tính tiện ích của một số dịch vụ đối với khách hàng còn chưa cao, hoạt động
marketing ngân hàng chưa mạnh, chưa thường xuyên nên tỷ lệ khách hàng tiếp
cận và sử d
ụng dịch vụ ngân hàng còn hạn chế. Trong điều kiện Việt Nam gia
nhập WTO, dịch vụ ngân hàng sẽ được dự báo là lĩnh vực cạnh tranh rất khốc liệt
khi “vòng” bảo hộ cho ngân hàng thương mại trong nước không còn. Vậy điều gì
đang chờ đón các ngân hàng thương mại Việt Nam? Các ngân hàng này phải
chuẩn bị gì để không bị đẩy ra ngoài cuộc chơi? Phát triển dịch vụ ngân hàng
như thế nào để
đáp ứng được nhu cầu tăng trưởng của nền kinh tế cả nước nói
chung, của Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, vừa phải đảm bảo hoạt động ngân
hàng an toàn, hiệu quả? Phát triển dịch vụ ngân hàng như thế nào để đảm bảo
nâng cao năng lực cạnh tranh của ngân hàng đồng thời đảm bảo yêu cầu chuẩn
mực hội nhập kinh tế quốc tế? Đó là những câu h
ỏi cần phải đi tìm lời giải đáp.
Với mong muốn tìm một lời giải đáp, góp phần nâng cao chất lượng dịch
vụ tài chính ngân hàng thương mại, đủ sức cạnh tranh với ngân hàng nước ngoài
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu WTO, tác giả chọn đề tài: “Phát
- 8 -
triển dịch vụ ngân hàng của Ngân hàng thương mại trên địa bàn thành phố Hồ
Chí Minh thời kỳ hậu WTO” là đề tài khoá luận tốt nghiệp cao học kinh tế. Hy
vọng đề tài sẽ góp phần nhỏ giúp cơ quan hữa quan của thành phố định hướng
và có cơ sở giải quyết các vấn đề về dịch vụ tài chính ngân hàng trong giai đoạn
mới.
2. Mục tiêu, phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở lý thuyế
t về phát triển các dịch vụ ngân hàng thương mại, đề
tài phân tích cơ hội, thực trạng, thách thức của hệ thống ngân hàng thương mại
trên địa bàn thành phố, từ đó đưa ra được những giải pháp cơ bản nhằm phát
triển dịch vụ ngân hàng thời kỳ hậu WTO.
- Trình bày luận cứ khoa học và thực tiễn về sự phát triển dịch vụ tài chính ngân
hàng đáp ứng yêu cầu h
ội nhập kinh tế quốc tế trong giai đoạn hiện nay.
- Điều tra, phân tích, đánh giá thực trạng hệ thống NHTM trên địa bàn thành phố,
tìm ra những điểm mạnh, điểm yếu, nguyên nhân của những hạn chế yếu kém,
những bài học kinh nghiệm trong phát triển dịch vụ tài chính ngân hàng giai đoạn
2001-2006.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu để phát triển dịch vụ tài chính ngân hàng
đáp
ứng yêu cầu cạnh tranh trong quá trình hội nhập.
Đề tài chủ yếu nghiên cứu các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Thành
Phố Hồ Chí Minh giai đoạn từ năm 2001 đến năm 2006. Từ đó đưa ra những giải
pháp thiết thực đảm bảo hoạt động ngân hàng trên địa bàn tiếp tục tăng trưởng
và phát triển ổn định trong thời kỳ hậu WTO.
3. Phương pháp nghiên cứu:
Dựa trên cơ sở c
ủa phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử để nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp khảo sát, thống kê, điều tra xã hội học,
phỏng vấn, thu thập tài liệu trong phòng, phân tích, kế thừa, tổng hợp để đưa ra
những kết luậntheo mục tiêu, nhiệm vụ đề ra.
4. Nội dung đề tài: Nội dung đề tài được thể
hiện qua kết cấu gồm 3
chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thương mại
Chương II: Thực trạng hoạt động dịch vụ tài chính ngân hàng thương mại trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001-2006
- 9 -
Chương III: Một số giải pháp phát triển dịch vụ tài chính của ngân hàng thương
mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu WTO
5. Hạn chế của nghiên cứu:
Hạn chế lớn nhất của luận văn nằm ở quy mô và đối tượng khảo sát. Do
những hạn chế về thời gian và nhân lực, luận văn chỉ khảo sát được những
khách hàng và doanh nghiệp tại Thành phố Hồ
Chí Minh, đối tượng khảo sát
không được chọn ngẫu nhiên. Do vậy tính bao quát của số liệu khảo sát bị hạn
chế.
Quá trình phân tích và nhập số liệu chủ yếu bằng phương pháp thủ công,
không có sự hỗ trợ của các phần mềm nhập số liệu. Vì vậy số liệu không được
kiểm tra chéo nên có thể có những sai sót trong việc nhập và phân tích số liệu
khảo sát.
6. Điểm mới củ
a đề tài:
Đề tài đã phân tích tương đối toàn diện thực trạng dịch vụ ngân hàng
thương mại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh và đưa ra những giải pháp thiết
thực có tính chiến lược lâu dài cũng như những giải pháp cần làm ngay sát với
tình hình kinh tế xã hội của thành phố Hồ Chí Minh thời kỳ hậu WTO. Những
đóng góp của đề tài là những tư liệu để khảo sát thiết thực giúp cho các cơ quan
h
ữu quan nghiên cứu và vận dụng.











- 10 -

CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Dịch vụ ngân hàng của ngân hàng thương mại
1.1.1 Thế nào là dịch vụ ngân hàng?
Hiện nay, ở nước ta chưa có một khái niệm cụ thể nào về dịch vụ ngân
hàng. Đối với hoạt động huy động vốn và cho vay, các Ngân hàng thường né tránh
sử dụng thuật ngữ “dịch vụ” mà thường dùng thuật ngữ “sản phẩ
m”.
Theo luật các tổ chức tín dụng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành,
dịch vụ ngân hàng cũng không được định nghĩa và giải thích một cách cụ thể. Tại
khoản 1 và khoản 7, điều 20 thì hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng
bao gồm cả ba nội dung: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán
nhưng không phân biệt rõ lĩnh vực nào là kinh doanh tiền tệ, lĩnh vực nào là dịch vụ

ngân hàng.
Theo quan niệm để xem xét lĩnh vực dịch vụ ngân hàng trong cơ cấu của
nền kinh tế quốc dân của một quốc gia thì lĩnh vực dịch vụ ngân hàng là toàn bộ hoạt
động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của hệ thống ngân hàng đối với khách
hàng là doanh nghiệp và cá nhân.
Tóm lại, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận của dịch vụ tài chính và bao gồm
toàn bộ hoạt động tiền t
ệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối của hệ thống ngân hàng đối
với khách hàng là doanh nghiệp và cá nhân.
Dịch vụ tài chính là một khái niệm mới, và cũng chưa có một định nghĩa
thống nhất. Tuy nhiên do tính chất quan trọng của nó đối với phát triển kinh tế, nhất
là trong bối cảnh mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay thì cần có cách hiểu
chung và thống nhất, từ đó tạo đi
ều kiện thuận lợi trong việc nghiên cứu, tìm giải
pháp cho sự phát triển lĩnh vực này trong thời gian tới.
Thị trường dịch vụ tài chính là một khái niệm mới do tổ chức thương mại thế
giới (WTO) đưa ra nhằm hình thành các quy tắc ứng xử giữa các nước thành viên
WTO trong hoạt động thương mại dịch vụ.
Theo WTO: “Một dịch vụ tài chính là bất kỳ dịch vụ nào có tính chất tài chính,
được m
ột nhà cung cấp dịch vụ tài chính cung cấp. Dịch vụ tài chính bao gồm mọi
- 11 -
dịch vụ bảo hiểm và dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, mọi dịch vụ ngân hàng và dịch
vụ tài chính khác (ngoại trừ bảo hiểm)”
1
.
Theo GATS: Các dịch vụ tài chính ngân hàng là: Nhận tiền gửi, cho vay, cho
thuê tài chính, chuyển tiền và thanh toán, thẻ, séc, bảo lãnh và cam kết, mua bán các
công cụ thị trường tài chính, phát hành chứng khoán, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản,
dịch vụ thanh toán và bù trừ, cung cấp và chuyển giao thông tin tài chính, dịch vụ tư
vấn và trung gian, hỗ trợ tài chính.
Trong bảng danh mục phân loại các dịch vụ theo khu vực của WTO thì dịch
vụ tài chính được xếp trong phân ngành thứ 7 trong 12 phân ngành dịch vụ. Trong
dịch vụ tài chính có t
ất cả dịch vụ bảo hiểm và liên quan đến bảo hiểm, các dịch vụ
ngân hàng và dịch vụ tài chính khác. Như vậy dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu
thành trong dịch vụ tài chính nói chung.
Nói đến dịch vụ ngân hàng, người ta thường gắn nó với hai đặc điểm:
Thứ nhất: đó là các dịch vụ mà chỉ có các ngân hàng với những ưu thế của
nó mới có thể thực hiệ
n được một cách trọn vẹn và đầy đủ.
Thứ hai: Đó là các dịch vụ gắn liền với hoạt động ngân hàng không những
cho phép NHTM thực hiện tốt các yêu cầu của khách hàng, mà còn hỗ trợ tích cực
để NHTM thực hiện tốt hơn chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán
của NHTM.
Như vậy, chúng ta có thể cho rằng toàn bộ hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh
toán, ngoại hối…của hệ
thống ngân hàng đều là hoạt động cung ứng dịch vụ tài
chính cho nền kinh tế. Quan niệm này phù hợp với cách phân ngành dịch vụ ngân
hàng trong dịch vụ tài chính của WTO và hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng như
nhiều nước phát triển khác.
1.1.2 Các loại dịch vụ ngân hàng
Nhìn một cách tổng thể thì các NHTM hoạt động kinh doanh trên ba mảng
dịch vụ lớn: Nghiệp vụ nguồn vốn, nghiệp vụ tín dụ
ng và đầu tư và nghiệp vụ kinh
doanh dịch vụ ngân hàng.
Mỗi nghiệp vụ đều có một vị trí và tác dụng khác nhau nhưng đều hướng tới
mục tiêu chung và tổng quát của bất kỳ NHTM nào đó là đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng với hiệu quả cao nhất thông qua các sản phẩm dịch vụ mà ngân hàng
- 12 -
mang lại cho khách hàng. Sản phẩm dịch vụ ngân hàng của NHTM gồm 2 loại: sản
phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống và sản phẩm dịch vụ ngân hàng hiện đại.
1
PGS-TS Thái Bá Cần – Phát triển thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam trong tiến trình hội
nhập – NXB Tài Chính – 2004 – trang 21

1.1.2.1 Dịch vụ ngân hàng truyền thống
Khi nói đến dịch vụ ngân hàng truyền thống của ngân hàng, chúng ta thường
ngụ ý nói đến hoạt động của các sản phẩm đã thực hiện trên nhiều năm trên nền
công nghệ cũ, quen thuộc với khách hàng. Có thể kể đến một số sản phẩm dịch vụ
truyền thống của Ngân hàng như sau:
¾ Dịch vụ huy động vốn: Các NHTM triể
n khai dịch vụ huy động vốn
trong tất cả các thành phần kinh tế để nhận tiền gửi và bảo quản hộ người gửi tiền
với cam kết hoàn trả đúng hạn. Vốn huy động theo tính chất được phân thành 2
nhóm:
- Nhóm 1: Vốn huy động hoạt kỳ, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn
của các tổ chức kinh tế cá nhân, tiền gửi không kỳ hạn của các tổ ch
ức tín dụng
khác. Với loại tiền gửi này khách hàng có thể linh hoạt sử dụng, được lập thư
chuyển tiền, phát hành séc rút tiền từ tài khoản một cách tự do. Các chủ tài khoản
gửi tiền vào tài khoản không nhằm mục đích hưởng lãi, mà nhằm nhu cầu giao dịch
thanh toán cho chính mình. Do đó đối với loại sản phẩm dịch vụ này ngân hàng cần
phải có những thủ tục nhanh chóng, thuận lợi, an toàn thì khả n
ăng thu hút khách
hàng càng cao.
- Nhóm 2: Vốn huy động định kỳ gồm tiền gửi định kỳ, tiền gửi tiết
kiệm của cá nhân, tổ chức, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu…Đặc điểm của loại
nguồn vốn này là khách hàng chỉ được rút tiền khi đáo hạn (tuy nhiên trong điều
kiện bình thường các ngân hàng cho phép khách hàng rút tiền trước kỳ hạn. Đối với
vốn huy động
định kỳ, người gửi tiền có mục đích xác định là hưởng lãi, vì vậy họ sẽ
chọn ngân hàng nào có lãi suất huy động cao hơn, chứ không đòi hỏi hệ thống dịch
vụ hiện đại như đối với nguồn vốn hoạt kỳ. Với lý do đó các ngân hàng thường sử
dụng công cụ lãi suất để thu hút nguồn vốn này, Cạnh tranh lãi suất trở thành một
trong những loại cạ
nh tranh hợp lý và gay gắt trong giai đoạn hội nhập hiện nay,
ngân hàng nào có lãi suất cao hơn, khuyến mãi nhiều hơn, tiếp thị tốt hơn thì sẽ có
lợi thế trong việc thu hút tiền gửi của khách hàng.
- 13 -
¾ Dịch vụ chiết khấu thương phiếu và chứng từ có giá: Việc ngân
hàng mua các thương phiếu và chứng từ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán
gọi là chiết khấu. Ngiệp vụ chiết khấu giúp các chủ sở hữu chứng từ khôi phục năng
lực thanh toán. Đây là nghiệp vụ được ưa chuộng không những đối với khách hàng
mà còn cả với ngân hàng vì đây là nghiệp vụ
cho vay có đảm bảo bằng chứng từ có
giá, rủi ro tín dụng ở mức độ thấp.
¾ Dịch vụ cho vay: Hoạt động cho vay bao gồm cho vay thương
mại, cho vay tiêu dùng, cho vay chiết khấu chứng từ có giá…Tùy theo nhu cầu về
thời gian vay vốn của khách hàng mà ngân hàng áp dụng các hình thức cho vay
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Lãi suất cho vay áp dụng theo cung cầu trên thị
trường hoặc theo quan hệ tín nhiệm lẫn nhau để áp dụng mức lãi suấ
t cho vay phù
hợp với từng đối tượng cho vay.
¾ Dịch vụ thanh toán: Hầu hết các giao dịch thanh toán giữa các
khách hàng trong nước và nước ngoài đều được thực hiện qua ngân hàng. Nhờ
việc nắm giữ tài khoản của khách hàng, đồng thời thông qua việc kiểm soát chứng
từ thanh toán mà các ngân hàng hoàn toàn có khả năng thực hiện các dịch vụ thanh
toán theo yêu cầu của khách hàng. Hiện nay các NHTM ở Việt Nam sử dụng các
dịch vụ thanh toán như: thanh toán séc, u
ỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thư tín dụng,
hối phiếu, lệnh phiếu, thẻ thanh toán…
¾ Dịch vụ trao đổi ngoại tệ: Dịch vụ này rất phát triển trong giai
đoạn hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu trao đổi mua bán trong hoạt động ngoại
thương, Ngân hàng đứng ra mua, bán một loại tiền này để lấy một loại tiền khác
nhằm mục đích thu lợi nhuận.
¾ Dịch vụ uỷ thác: Ngân hàng nhận thực hiện các công việc mà
khách hàng uỷ thác như: bảo quản tài sản cho các cá nhân, bảo quản chứng thư
quan trọng, bảo quản và lưu giữ chứng khoán của khách hàng, phát hành cổ phiếu,
trái phiếu hộ, trả lãi, trả gốc, trả cổ tức…cho các tổ chức phát hành chứng từ có giá.
¾ Ngoài ra còn có các sản phẩm dịch vụ truyền thống khác như dịch
vụ
ngân quỹ, dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ cung cấp các tài khoản giao dịch…Các
sản phẩm dịch vụ truyền thống của ngân hàng được cải tiến theo hướng hoàn chỉnh
hơn, gọn về thủ tục, rút ngắn về thời gian giao dịch, các ngân hàng đã hướng tới
việc xuất phát từ nhu cầu của khách hàng hơn là việc áp đặt sản phẩm mà mình có.
1.1.2.2 Dịch vụ ngân hàng hiện đại

- 14 -
Dịch vụ ngân hàng hiện đại là dịch vụ ngân hàng mới được đưa vào hoạt
động của một số tổ chức tín dụng, được ra đời trên nền các công nghệ mới, đem lại
các tiện ích mới cho khách hàng. Một số dịch vụ tài chính ngân hàng hiện đại như:
¾ Dịch vụ thẻ ngân hàng: Ngân hàng cấp thẻ cho khách hàng có tài
khoản dùng để thanh toán tiền mua hàng, chi trả tiền mặt hay rút tiền mặt tự
động
thông qua các máy đọc thẻ, hay các máy rút tiền tự động ATM. Công nghệ thanh
toán bằng thẻ có nhiều ưu điểm so với thanh toán bằng tiền mặt như: tập trung vốn
tiền gửi vào ngân hàng, giảm thiểu rủi ro, chống tham nhũng và trốn thuế…
¾ Dịch vụ quản lý tiền mặt (ngân quỹ): là hình thức quản lý thu, chi
hộ cho khách hàng, đầu tư các khoản tiền mặt thặng dư để sinh lợ
i cho khách hàng.
Qua nhiều năm, các ngân hàng đã phát hiện ra rằng một số dịch vụ mà họ làm cho
bản thân mình cũng có ích đối với các khách hàng. Một trong những ví dụ nổi bật
nhất là dịch vụ quản lý tiền mặt, trong đó ngân hàng đồng ý quản lý việc thu và chi
cho một công ty kinh doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời
vào các chứng khoản sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cầ
n tiền
mặt để thanh toán.
Trong khi các ngân hàng có khuynh hướng chuyên môn hóa vào dịch vụ
quản lý tiền mặt cho các tổ chức, hiện nay có một xu hường đang gia tăng về việc
cung cấp các dịch vụ tương tự cho người tiêu dùng. Sở dĩ khuynh hướng này đang
lan rộng là do các công ty môi giới chứng khoán, các tập đoàn tài chính khác cung
cấp cho người tiêu dùng tài khoản môi giới với hàng loạt dịch vụ tài chính liên quan.
Một ví dụ là tài khoản quản lý tièn mặt củ
a Merrill Lynch, cho phép khách hàng của
nó mua và bán chứng khoán, di chuyển vốn trong nhiều quĩ tương hỗ, viết séc, và
sử dụng thẻ tín dụng cho khoản vay tức thời.
¾ Dịch vụ thanh toán tiền điện tử: Dịch vụ này cho phép một doanh
nghiệp, một cá nhân hay bất kỳ tổ chức nào khác dù có hay không có tài khoản tại
ngân hàng có thể trả tiền vào tài khoản của một người khác ở ngân hàng đó hay tại
một ngân hàng khác. Khách hàng là doanh nghiệp thườ
ng sử dụng dịch vụ này để
thực hiện thanh toán cho các nhà cung cấp, các chủ nợ…Khách hàng cá nhân
thường sử dụng dịch vụ này để chuyển tiền cho người thân ở xa hay gửi tiền cho
con đi học…Dịch vụ này rất hữu ích do chi phí thấp, chuyển tiền nhanh, an toàn,
tiện lợi.
¾ Dịch vụ ngân hàng tại nhà: Như chúng ta đã biết dịch vụ ATM và
dịch vụ chuyển tiền đ
iện tử là 2 dịch vụ ngân hàng điện tử có những ưu thế tại điểm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét