Việt Nam chỉ có mặt hàng gạo là trội hơn hẳn còn các mặt hàng khác lại có
sự chênh lệch khá lớn về số lợng so với các đối thủ cạnh tranh chính.
Bảng 1. Sản lợng và kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản
chủ yếu của Việt Nam giai đoạn 1990 - 2000.
TT Năm
Sản lợng xuất khẩu (1000 tấn) Kim ngạch xuất khẩu (triệu USD)
Gạo Cà phê Cao su Chè Gạo Cà phê Cao su Chè
1 1990 1624 89,6 75,9 10,8 305 76,16 75,3 12,96
2 1991 1033 93,8 62,9 10,5 235 74 50 14
3 1992 1940 116,2 81,9 1,3 418 92 66,9 16
4 1993 1722 122,6 96,7 20,6 362 110,6 74,7 26
5 1994 1983 177 135,5 21,2 424 328,2 135,4 26,5
6 1995 2058 248,1 138,1 18,8 530 595,5 193,5 26,5
7 1996 3047 281,4 194,5 21 868 420 163,3 29
8 1997 3682 391,6 192 32,3 801 497,5 194,6 48
9 1998 3800 382 197 33,2 1100 593,8 127,5 50,5
10 1999 4500 487,5 265 37 1080 592 145 46
11 2000 3500 694 280 44,7 840 842,76 153,2 56
Nguồn: Tạp chí Kinh tế Việt Nam và thế giới 2000 - 2001.
Qua những số liệu trong bảng trên cho thấy các mặt hàng nông sản xuất
khẩu chủ lực của Việt Nam đều tăng do đó kéo theo nguồn thu ngoại tệ cũng
tăng lên góp phần làm tăng cán cân thơng mại và nguồn ngoại tệ của quốc
gia, số liệu trên cũng cho thấy mặt hàng gạo và cà phê là có mức chênh lệch
nhất trong 4 mặt hàng so với các đối thủ cạnh tranh.
Sau đây ta đi phân tích cụ thể mặt hàng cà phê - là mặt hàng có nguồn
thu ngoại tệ lớn nhất so với các mặt hàng nông sản khác:
Có thể nói cà phê là thức uống mà đợc nhiều ngời a thích, là mặt hàng
xuất khẩu ở nhiều thị trờng và đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn.
Phân chia xuất khẩu theo thị trờng.
Trớc kia thị trờng xuất khẩu cà phê của Việt Nam chủ yếu là các nớc
thuộc khu vực I. Liên Xô là thị trờng chính, khối lợng xuất của Việt Nam
sang thị trờng này là 55 - 56%. Từ cuối năm 1985 trở đi Việt Nam bắt đầu
xuất sang các nớc thuộc khu vực II. Thời kỳ này, Việt Nam cha gia nhập
Hiệp hội cà phê Quốc tế (ICO) nên việc xuất khẩu chỉ là xuất thử hoặc xuất
5
qua trung gian, thờng là Singapore với tỷ lệ 30 - 40% tổng sản lợng bằng
60% lợng xuất khẩu sang khu vực II với giá thấp và chất lợng không cao
trong khi chất lợng yêu cầu của các nớc tiêu thụ trực tiếp lại rất cao. Đến
năm 1994 trở đi Việt Nam mới thâm nhập vào thị trờng châu Âu, Nhật và
Mỹ, giảm lợng xuất qua trung gian Singapore, nâng kim ngạch xuất khẩu
lên đáng kể. Sự có mặt của cà phê Việt Nam trên thị trờng Mỹ là chứng
nhận cho nỗ lực to lớn của những nhà xuất khẩu Việt Nam.
Bảng 2. Thị trờng xuất khẩu cà phê của Việt Nam
Đơn vị: Tấn
Niên vụ
Khu vực
1995 - 1996 1996 - 1997 1997 - 1998 1998 - 1999
Châu Mỹ 67.048 84.255 87.384 69.381
Châu á
45.045 32.248 45.943 28.564
Châu Phi 6.767 11.729 4.816 5.340
Châu Âu 94.982 189.048 243.297 278.125
Châu úc
6.913 7.038 8.839 15.483
Tổng cộng 220.755 324.318 390.279 396.893
Nguồn: Tạp chí Kinh tế phát triển số 125 tháng 3/2001.
Qua bảng số liệu trên cho thấy nếu nh niên vụ 1995 - 1996 thị trờng
châu á nhập 45.045 tấn cà phê Việt Nam (chiếm 20,4%) tổng sản lợng xuất
khẩu của Việt Nam), thị trờng châu Âu nhập 94.982 tấn (tỷ lệ 43,03%) thì
trong niên vụ 1998 - 1999 thị trờng châu á chỉ còn nhập 28.564 tấn cà phê
(chiếm 7,2%), thị trờng châu Âu nhập 278.125 tấn (chiếm 70,08%). Điều này
chứng tỏ rằng các nhà xuất khẩu cà phê của Việt Nam đang từng bớc việc
hạn chế việc xuất qua trung gian và cố gắng mở rộng thị trờng sang các quốc
gia có nhu cầu tiêu thụ cà phê lớn nh: Mỹ, Anh, Đức, Pháp.
Phân chia xuất khẩu theo số lợng.
Lợng cà phê xuất khẩu của Việt Nam đợc thể hiện qua bảng dới
đây.
6
Bảng 3. Lợng xuất khẩu cà phê Việt Nam
Niên vụ
Sản lợng cà phê
thu hoạch (tấn)
Lợng cà phê xuất
khẩu (tấn)
Tỷ lệ xuất khẩu
(%)
1990 - 1991 82.500 67.774 82,15
1991 - 1992 131.400 79.070 60,18
1992 - 1993 145.200 130.529 89,90
1993 - 1994 179.000 169.190 92,28
1994 - 1995 212.450 192.088 90,42
1995 - 1996 235.000 220.755 93,94
1996 - 1997 362.000 324.318 89,58
1997 - 1998 400.000 390.279 97,56
1998 - 1999 420.000 396.893 94,45
1999 - 2000 600.000 546.000 90,83
2000 - 2001 (ớc) 750.000 683.400 91,12
Nguồn: Tạp chí Phát triển kinh tế số 125 thán 3/2001.
Qua bảng số liệu trên cho thấy mời năm trở lại đây lợng cà phê xuất
khẩu tăng nhiều và có xu hớng tiếp tục tăng từ 67,774 tấn (niên vụ 1990 -
1991) lên 545.000 tấn (niên vụ 1999 - 2000) tăng lên 8 lần. Hàng năm tỷ lệ
xuất khẩu so với sản lợng khá ổn định và giữ ở mức cao, đa số từ 90% trở lên.
Con số này đã phản ánh chủ trơng đẩy mạnh xuất khẩu nông sản của Việt
Nam.
Theo giá cả.
Nhìn chung giá nông sản của Việt Nam thờng thấp hơn so với một số n-
ớc, bên cạnh đó nớc ta thờng xuất khẩu theo giá FOB nên giá trị thu về thờng
không cao. Thêm vào đó diễn biến về giá cả trong những năm qua cũng đã
làm cho hàng nông sản Việt Nam đã khó khăn lại càng khó khăn hơn, giá
nông sản liên tục giảm đã ảnh hởng đến tình hình sản xuất và tiêu thụ ở Việt
Nam. Sau đây là bảng xuất khẩu hàng nông sản về giá trị và sản lợng trong
những năm gần đây.
Bảng 4. Xuất khẩu hàng nông sản năm 1999 và năm 2000
7
Mặt hàng
Năm 1999 Năm 2000
Lợng
(1000
tấn)
Trị giá
(Tr.USD)
Giá BQ
(USD/tấn)
Lợng
(1000
tấn)
Trị giá
(Tr.USD)
Giá BQ
(USD/tấn)
Gạo 4.200 989 235,467 4.200 1.050 250
Cà phê 399 555,9 1.392,928 400 560 1.400
Cao su 212 125,4 591,509 230 135 592
Chè 34 43,3 1.420,588 35 52 1.486
Lạc nhân 62 36,23 584,355 120 135 3.857
Hạt điều 17 101,3 5.958,824 30 165 5.500
Nguồn: Tạp chí Thơng nghiệp và thị trờng Việt Nam số 7/2000.
Qua bảng số liệu trên cho thấy qua 2 năm 1999 và 2000 thì giá bình
quân của nông sản nhìn chung là tăng, nhng tình hình thị trờng thế giới diễn
biến không thuận lợi về giá cả, các doanh nghiệp cũng gặp phải khó khăn nh-
ng có thể nói rằng kết quả đạt đợc nh trên là sự cố gắng trong công tác chỉ
đạo, điều hành sản xuất rất linh hoạt. Tình hình xuất khẩu vừa qua cũng cho
thấy kim ngạch xuất khẩu sẽ cao hơn nếu khâu chất lợng xuất khẩu của hàng
hóa cao hơn.
5. Thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt
Nam trong thời gian qua.
Về giá cả
Tăng trởng bình quân xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt 21%/năm
trong suốt 10 năm qua, gạo, cà phê, cao su, chè là 4 mặt hàng chủ lực, năm
1999 đạt 1,8 tỷ USD chiếm 16,63% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc.
Sự ảnh hởng của chất lợng giá cả nông sản nên lợng xuất khẩu của Việt
Nam thờng có giá thấp hơn một số nớc trên thế giới, có thể nói đây cũng là
một lợi thế của nông sản Việt Nam nhng cũng là bất lợi cho ngời sản xuất vì
giá thành sản xuất ra một đơn vị nông sản còn rất cao, có khi giá bán lại
không bù đắp đợc chi phí sản xuất nên gây thiệt hại lớn cho ngời sản xuất.
Trong thời gian qua, thực tế thì có một số diện tích trồng cây nông sản đã bị
phá bỏ nh: cà phê, cao su để trồng loại cây khác có lợi ích kinh tế hơn.
8
Vấn đề hiện nay là cần phải có những biện pháp lâu dài và trớc mắt để
giảm giá thành sản xuất, nâng cao khả năng cạnh tranh.
Về chất lợng.
Có thể nói chất lợng nông sản xuất khẩu đợc cải thiện đáng kể ở hầu hết
các mặt hàng.
Chẳng hạn tỷ lệ gạo chất lợng cao (5-10% tấn) đã tăng từ 1% năm 1989
lên 85% năm 2000, tỷ lệ gạo chất lợng, thấp chỉ còn 22%. Tuy nhiên, đó chỉ
là tiến bộ trong cải thiện độ gãy của gạo. Gạo 5% của Thái Lan hơn hẳn ta về
mùi vị, hình dáng, kích thớc và tỷ lệ thủy phân.
Cùng với gạo, chất lợng các hàng nông sản khác cũng có những tiến bộ
đáng kể nh mặt hàng cà phê, tỷ trọng cà phê loại 1 tăng từ 2% (vụ 95-96) lên
16% năm (99/2000), loại B giảm từ 80% (vụ 95/96) xuống còn 5% (vụ
99/2000) sang tỷ lệ thủy phân cao quá 13% thậm chí có cả hạt đen, mốc, vỡ,
lẫn nhiều tạp chất, quy cách, màu sắc, độ bóng, độ đồng đều cha đáp ứng tiêu
chuẩn quốc tế. Tỷ lệ cao su thợng hạng tăng từ 89,3% năm 97-98 lên 94,04%
năm 2000, tuy đã tăng đợc tỷ trọng hàng hóa phẩm cấp cao nhng mẫu mã
đơn điệu nên cha thâm nhập đợc vào phần thị trờng cao cấp và do đó giá bán
luôn thấp hơn giá của các đối thủ cạnh tranh gây thua thiệt cho hoạt động
xuất khẩu. Mặc dù nông sản Việt Nam có chất lợng cũng khá tốt nhng các
loại có chất lợng không đồng đều, tỷ lệ phế phẩm còn cao. Hầu hết trong
những năm gần đây, một số dây chuyền chế biến nông sản đợc nhập ngoại có
quy trình công nghệ tiên tiến nhng còn rất ít.
Nhìn chung, khoảng 70% sản lợng nông sản hàng năm đợc sơ chế tại
các hộ gia đình, chất lợng không cao. Gần 30% qua chế biến tại các cơ sở
công nghiệp có dây chuyền, phần lớn đã lạc hậu, sản phẩm dùng làm nguyên
liệu, do đó giá trị kim ngạch xuất khẩu không cao là điều tất yếu.
Tóm lại, cần phải nâng cao chất lợng của nông sản Việt Nam nhằm
nâng cao khả năng cạnh tranh trên trờng quốc tế.
9
Về hệ thống thu thập thông tin - dự đoán và nghiên cứu thị trờng.
Kinh doanh mặt hàng nông sản của các doanh nghiệp Việt Nam hiện
nay chủ yếu bằng hình thức mua bán theo hợp đồng kỳ hạn, giá cả đợc xác
định dựa vào giá giao dịch nông sản trong ngày của thị trờng khu vực. Yếu tố
quan trọng của việc thúc đẩy xuất khẩu nông sản là thông tin và các dữ liệu
thị trờng phải chính xác, kịp thời so với thị trờng thế giới để làm cơ sở phân
tích dự đoán thị trờng và đa ra các quyết định mua bán.
Đây là điều quan trọng nhất mà cũng chính là điều mà các nhà xuất
khẩu nông sản của Việt Nam đang thiếu. Có thể thấy rằng bộ phận tham tán
thơng mại của Việt Nam ở nớc ngoài đã không thực hiện tốt việc thu thập và
cung cấp thông tin về thị trờng cho các doanh nghiệp. Chính vì vậy, nguồn
tin hạn hẹp duy nhất về thị trờng thế giới mà các doanh nghiệp Việt Nam có
đợc là nhờ mua của các hãng nớc ngoài. Chính từ nguồn tin này và một số
nguồn tin hạn chế khác, kết hợp với kinh nghiệm và cảm tình kinh doanh của
doanh nghiệp để quyết định nh vậy. Việc mở các văn phòng đại diện ở nớc
ngoài sẽ gặp rất nhiều khó khăn do chi phí cao. Chính vì vậy công việc thu
thập thông tin nghiên cứu thị trờng của các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản
Việt Nam vẫn đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn, dẫn đến khả năng
cạnh tranh hàng nông sản của Việt Nam còn thấp. Vấn đề là phải nâng cao
khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam và tạo điều kiện thuận lợi
cho các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản củng cố và phát triển các mối quan
hệ kinh doanh, tìm kiếm thị trờng, đối tác, khách hàng mới và khuyếch trơng
nhãn hiệu riêng cho sản phẩm nông sản Việt Nam.
Sự hỗ trợ của Chính phủ:
Trong những năm qua, trớc tình hình giá cả nông sản có những biến
động liên tục, gây bất lợi cho cả ngời sản xuất và các đơn vị hoạt động xuất
khẩu, để tháo gỡ khó khăn cho ngời sản xuất và nhà xuất khẩu thì Chính phủ
cũng đã nhiều lần hỗ trợ vốn và lãi suất để dự trữ nhằm giảm áp lực bán ra để
10
tăng giá bán trên thị trờng. Đặc biệt trong tháng 9/2000 Chính phủ đã quyết
định hỗ trợ vốn và lãi suất để dự trữ những mặt hàng nông sản bị giảm giá
mạnh khi bán ra trên thị trờng nh: dự trữ 60.000 tấn cà phê.
Một điều dễ nhận thấy là trong thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã
thực hiện chính sách hỗ trợ tài chính xuất khẩu tơng đối hiệu quả. Các hình
thức trợ cấp xuất khẩu bao gồm giảm thuế xuất khẩu, giảm thuế nhập khẩu
các thiết bị máy móc chế biến hàng nông sản nhằm nâng cao chất lợng của
mặt hàng này, giảm thuế nhập khẩu các nguyên liệu dùng cho chế biến trong
nớc, thực hiện các loại tín dụng thơng mại u đãi, giảm thuế quan bảo hộ và
tránh hạn ngạch xuất - nhập khẩu để giảm bớt sức hấp dẫn của thị trờng nội
địa, tăng tính hấp dẫn của thị trờng ngoài nớc. Kinh nghiệm về giảm thuế
xuất khẩu ở một số nớc cho thấy hiệu quả xuất khẩu tăng nhanh, đây là yếu
tố tích cực mà Việt Nam cần phát huy.
Khả năng tìm đầu ra của nông sản.
Tìm đầu ra cho nông sản là vấn đề đợc nhiều cơ quan chức năng quan
tâm, đặc biệt là những ngời trực tiếp tham gia hoạt động xuất khẩu, nhà nớc
đã có chiến lợc lâu dài đợc quy hoạch tốt cho việc giải quyết đầu ra cho nông
sản là trách nhiệm của mình. Cùng với vấn đề tiêu thụ nông sản thì các cán
bộ cấp cao cũng kiến nghị với Chính phủ phải tính toán, cơ cấu lại sản xuất
hàng nông sản xuất khẩu, thực tế cho thấy Chính phủ đã làm điều này từ
nhiều năm trớc, nhng muốn chuyển đổi đợc cơ cấu phải có thời gian để nông
dân tin và làm theo. Hiện nay Chính phủ cũng đang tất bật tìm đầu ra cho
nông sản, nhất là gạo, điều, chè, mía, cà phê phải đảm bảo để năm 2001 này
xuất khẩu đợc hơn 4 triệu tấn gạo. Việc tìm kiếm này đã có những dấu hiệu
khả quan khi một số khách hàng đã quay lại nhập hàng nông sản của Việt
Nam. Sắp tới đây, doanh nghiệp sẽ đợc hỗ trợ nhiều hơn cho việc tìm kiếm
thị trờng.
Nói tóm lại, thực trạng khả năng cạnh tranh của hàng nông sản Việt
Nam trong thời gian qua là vấn đề rất đợc quan tâm, thực tế cho thấy rằng
trong quá trình hội nhập kinh tế, các mặt hàng nông sản của Việt Nam kể cả
11
tiêu thụ trong nớc lẫn xuất khẩu đã và đang vấp phải sự cạnh tranh quyết liệt.
Khi nói đến cạnh tranh là phải nói tới vấn đề chất lợng, mẫu mã, giá cả, vệ
sinh, trong những vấn đề này, điều để đợc ngời mua quan tâm trớc tiên là
giá cả. Trên thị trờng, ngời mua thờng so sánh giá cả mặt hàng cùng loại để
đi đến quyết định mua hay không mua. Nh vậy, giá là nội dung đầu tiên mà
các doanh nghiệp và ngời sản xuất phải quan tâm trong sự cạnh tranh để dành
thị phần trên thị trờng.
6. Đánh giá về khả năng cạnh tranh.
6.1. Cái đạt đợc
Trớc hết về điều kiện tự nhiên của Việt Nam rất thuận lợi cho những cây
nông sản phát triển, đặc biệt là cà phê, cao su ở mảnh đất Tây Nguyên màu
mỡ. Bên cạnh đó đã hình thành đợc những vùng chuyên canh, sản xuất hàng
nông sản tập chung tạo ra nguồn sản lợng lớn (hiện nay đứng vị trí thứ 3 thế
giới) nhờ đó tạo nguồn thuận lợi cho việc cung cấp nguyên liệu cho các nhà
máy chế biến với số lợng và chất lợng cao, dự định theo yêu cầu kỹ thuật chế
biến. Mặt khác nó còn thuận tiện cho việc bố trí, xây dựng các nhà máy chế
biến phù hợp, gần vùng nguyên liệu.
Về năng suất, nhìn chung hàng nông sản Việt Nam hiện nay có năng
suất cao so với các nớc trên thế giới, chất lợng khá tốt, có hơng vị riêng là
một lợi thế mà các nớc khác ít có đợc. Vì vậy, trong một vài năm qua một số
thơng hiệu của nông sản Việt Nam đã hình thành và phát triển ở thị trờng
trong nớc cũng nh đã thâm nhập đợc vào một số thị trờng khó tính nớc ngoài
nh: Mỹ, Đức, Thơng hiệu cà phê Trung Nguyên, gạo tám Cần Thơ, là
những minh chứng sống động. Chỉ trong một vài năm, các thơng hiệu này đã
đứng vững và khẳng định đợc vị trí ở thị trờng trong nớc và bắt đầu thâm
nhập vào thị trờng nớc ngoài.
Bên cạnh đó với sự quan tâm của Nhà nớc bằng những chính sách quản
lý xuất khẩu cụ thể, giúp đỡ ngời sản xuất và ngời chế biến về chính sách vốn
đã tạo thuận lợi cho vấn đề nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng nông sản
12
Việt Nam trên thị trờng.
6.2. Những vấn đề còn tồn tại.
Bên cạnh những cái đạt đợc trên thì khả năng cạnh tranh của nông sản
Việt Nam còn nhiều khó khăn và tồn tại sau:
a. Những vấn đề còn tồn tại
Mặc dù năng suất cao, chất lợng tốt song chất lợng không đồng đều. Tỷ
lệ phế phẩm cao, chế biến nông sản theo các phơng pháp thủ công, phần lớn
thiết bị dây chuyền lạc hậu, không đồng bộ. Do vậy tiêu hao nguyên liệu cao
dẫn đến hiệu quả thấp, giá thành chế biến cao, khả năng cạnh tranh kém.
Mặc dù có một số công nghệ mới tiên tiến, hiện đại đợc nhập ngoại nhng còn
rất ít.
Hầu hết nông sản xuất khẩu đang ở dạng thô, nông sản qua chế biến rất ít.
Một tồn tại không chỉ đối với nông sản Việt Nam mà đối với tất cả các
mặt hàng của Việt Nam là năng lực quản lý sản xuất chế biến, xuất khẩu
cha đáp ứng đợc yêu cầu trong điều kiện cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là khâu
marketing. Mối liên kết kinh tế sống còn giữa các khâu chế biến, xuất khẩu
và cung ứng dịch vụ đầu vào cha đợc thiết lập để bảo đảm sự ổn định về số l-
ợng, chất lợng theo yêu cầu của thị trờng.
Cũng nh các mặt hàng khác của Việt Nam, giá nông sản vẫn còn thất
thế so với các nớc xuất khẩu nông sản trên thế giới. Có thể nói nông sản Việt
Nam phải chịu sự chấp nhận giá.
b. Những nguyên nhân của những tồn tại trên.
Những tồn tại trên phần lớn do những nguyên nhân chủ quan gây ra,
bên cạnh đó cũng có những nguyên nhân khách quan khác.
Thứ nhất, do nguồn vốn đầu t vào công nghệ chế biến nông sản còn hạn
chế. Hiện tại hầu hết công nghệ chế biến đã lạc hậu, áp dụng phơng pháp chế
biến cổ điển.
Thứ hai, do kết cấu hạ tầng phục vụ cho bảo quản, dự trữ, vận chuyển,
bốc xếp còn kém.
13
Thứ ba, do Việt Nam hòa nhập vào thị trờng nông sản thế giới trong bối
cảnh bị mất thị trờng truyền thống (Liên Xô và các nớc Đông Âu) trong khi
đó thị trờng nông sản thế giới, đợc hình thành từ lâu đời đã đợc phân chia rõ
rệt, chủ yếu nông sản Việt Nam bàn cho các nớc trung gian, do vậy giá cả
luôn thấp hơn mặt bằng giá chung của thế giới và phải chấp nhận giá.
Ngoài ra, còn có một số nguyên nhân từ chính sách khuyến khích ngời
sản xuất của Nhà nớc, bộ máy quản lý hành chính cồng kềnh, sách nhiều
làm nản lòng các nhà đầu t.
Đây là một số nguyên nhân chủ yếu làm cho nông sản xuất khẩu Việt
Nam kém khả năng cạnh tranh.
Chơng III
Một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao
khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam trên
thị trờng trong quá trình hội nhập
Để nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam, nhằm ổn
định, nâng cao chất lợng, giá cả, khẳng định vị trí của cà phê Việt Nam. các
doanh nghiệp, các ngành có liên quan cũng nh nhà nớc cần có những biện
pháp thích hợp và triển khai một cách đồng bộ.
Trớc hết, ngành cà phê cần chú ý thay đổi cơ cấu sản phẩm ngay từ
khâu trồng trọt. Đây là một trong những giải pháp quan trọng để nâng cao
chất lợng và từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam. Cả
nớc hiện có khoảng 375 ngàn ha phân bố trên nhiều địa bàn từ Bắc chí Nam.
Khu vực phía Bắc có diện tích nông sản không nhiều, năng suất không cao,
điều kiện thổ nhỡng, khí hậu không phù hợp với một số nông sản, nhng cà
phê lại phát triển tốt tại đây. Cần đa giống nông sản năng suất cao và chống
sâu bệnh vào khu vực trung du và miền núi phía Bắc, đáp ứng yêu cầu chất l-
ợng của nông sản xuất khẩu. Khu vực các tỉnh Tây Nguyên và miền Đông
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét