Thứ Ba, 11 tháng 2, 2014

Thực trạng và một số giải pháp cần được đẩy mạnh trong việc Cổ phầnh hóa doanh nghiệp nhà nước trong thời gian tới

Keynes đến "Chủ nghĩa tự do mới", rồi "Nền kinh tế hỗn hợp" của
Samuelsơn; sự thay đổi nhận thức từ chỗ nhấn mạnh vai trò của khu vực kinh
tế Nhà nước đến chỗ coi trọng khu vực kinh tế tư nhân và vai trò tự điều tiết
của cơ chế thị trường, và hiện nay là sự phổ biến của mô hình "Nền kinh tế
hỗn hợp giữa khu vực kinh tế Nhà nước và mô hình kinh tế tư nhân". Quan
điểm này đã làm thay đổi tư duy kinh tế của các chính phủ, dẫn đến xu hướng
đánh giá lại vai trò và hiệu quả kinh tế xã hội của hệ thống doanh nghiệp Nhà
nước. Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước là một giải pháp mà hầu hết các
nước đều coi trọng, bắt nguồn từ thay đổi quan điểm nói trên.
Thứ tư, sức hấp dẫn từ những ưu điểm của công ty cổ phần. So với các
doanh nghiệp bình thường khác. Công ty cổ phần có sức sống mạnh hơn, hiệu
quả kinh tế cao hơn rõ rệt và vai trò hết sức to lớn trong sự phát triển kinh tế -
xã hội, đáp ứng yêu cầu mới của sự phát triển kinh tế thị trường. Hình thức
thực hiện chế độ sở hữu rất đa dạng, phong phú. Thước đo sự đúng đắn của
các hình thức đó là tác dụng thu hút, tập hợp và sử dụng có hiệu quả các
nguồn vốn trong xã hội, tạo động lực cho sự phát triển. Thực tế phát triển của
kinh tế thị trường cho thấy, loại hình công ty cổ phần hội tụ đủ các yếu tố
trên, ngược lại, loại hình doanh nghiệp đơn sở hữu (dù là sở hữu tư nhân hay
sở hữu Nhà nước) sẽ bị hạn chế trong đầu tư và cạnh tranh.
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước liên quan chặt chẽ tới việc tôn
trọng và phát huy sở hữu cá nhân không chỉ trong chế độ tư bản chủ nghĩa mà
cả trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Với tư cách vừa là cổ đông vừa là người
làm thuê trong công ty cổ phần, người lao động có quan hệ lợi ích chặt chẽ
với doanh nghiệp, còn trong doanh nghiệp Nhà nước chủ sở hữu là Nhà nước,
là chung chung, mơ hồ, không gắn quyền sở hữu với quyền sử dụng. Cổ phần
hoá doanh nghiệp Nhà nước thực sự là một cuộc cách mạng triệt để thay đổi
cách tổ chức hoạt động trong nội bộ doanh nghiệp, thay đổi cơ bản mối quan
hệ doanh nghiệp - Nhà nước và tạo điều kiện cho doanh nghiệp thích ứng với
hoạt động cạnh tranh trong cơ chế thị trường.
5 5
Suy cho cùng, công ty cổ phần là sản phẩm tất yếu của nền sản xuất xã
hội hoá và nền kinh tế thị trường phát triển. Việc chuyển các doanh nghiệp
Nhà nước sang công ty cổ phần là do tính xã hội hoá của sản xuất, do quy luật
cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường quyết định và thúc đẩy, đó là quá trình
khách quan, không phải do ý muốn chủ quan của bất kỳ thể chế chính trị hay
cá nhân nào.
1.3. Tính tất yếu và quan điểm của Đảng về cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
Do nhiều năm thực thi một nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, tuyệt đối
hoá kinh tế Nhà nước, coi kinh tế Nhà nước đồng nhất với doanh nghiệp Nhà
nước, nên trong một thời gian dài đã phát triển hệ thống doanh nghiệp Nhà
nước với số lượng lớn, tràn lan.
Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp Nhà nước đã bộc lộ những
yếu kém, bất cập, đưa đất nước đến cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội. Chính
vì vậy, việc đổi mới, sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp Nhà nước là một đòi
hỏi tất yếu. Việc định hướng xã hội chủ nghĩa nền kinh tế thị trường đòi hỏi
phải tạo cho kinh tế Nhà nước sức mạnh thực sự, trong dó doanh nghiệp Nhà
nước là nòng cốt để đủ khả năng dẫn dắt, điều tiết và định hướng các thành
phần kinh tế khác.
Xung quanh vấn đề này, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều nỗ lực, đạt
được nhiều thành tựu đáng hào. Tuy vậy, đến năm 1992, cuộc cải cách doanh
nghiệp Nhà nước có phần chững lại, lúng túng. Cuộc sống đã đặt ra một loạt
vấn đề bức xúc như: Ai chịu trách nhiệm chính về quyết định phương hướng
phát triển và giải pháp kinh doanh cụ thể của doanh nghiệp Nhà nước? Ai
chịu trách nhiệm chính về việc bảo toàn, phát triển vốn và tài sản của Nhà
nước? Ai đảm bảo quyền lợi chính đáng của người lao động như việc làm, đời
sống, thu nhập, bảo hiểm xã hội…?
6 6
Những câu hỏi đó là thiết thực và cấp bách, cần trả lời trong điều kiện
mới. Nếu không có "ông chủ" thực sự của doanh nghiệp Nhà nước thì không
thể giải quyết triệt để những vấn đề đã nêu trên.
Cuộc sống đòi hỏi phải tiếp tục đổi mới. Từ thực trạng của nền kinh tế
cùng với các đặc điểm ưu việt của hình thức công ty cổ phần và cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước, Việt Nam có thể vận dùng và cần thiết phải tiến hành
chuyển một bộ phận doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần. Đối với
sở hữu Nhà nước, việc tìm kiếm các hình thức thực hiện đa dạng, phù hợp
chính là để nâng cao hiệu quả, phát huy được vai trò chủ đạo của nền kinh tế
Nhà nước.
Ngay từ đầu thập kỷ 90, Đảng đã có chủ trương chuyển một bộ phận
doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần, cụ thể như sau:
- Nghị quyết Hội nghị Trung ương Đảng lần 2 khoá VII (11-1991) nêu
rõ: "Chuyển một số doanh nghiệp quốc doanh có điều kiện thành công ty cổ
phần và thành lập một số công ty quốc doanh cổ phần mới, phải làm thí điểm,
chỉ đạo chặt chẽ, rút kinh nghiẹm chu đáo trước khi mở rộng phạm vi thích
hợp".
- Nghị quyết Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII (11-
1994) đã nêu mục đích, hình thức cổ phần hoá và mức độ sở hữu Nhà nước tại
doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá: "Để thu hút thêm vốn, tạo thêm động
lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp Nhà nước làm ăn có hiệu quả,
cần thực hiện các hình thức cổ phần có mức độ thích hợp với tính chất và lĩnh
vực sản xuất kinh doanh: trong đó sở hữu Nhà nước chiếm tỷ lệ cổ phần chi
phối".
- Nghị quyết của Bộ Chính trị về tiếp tục đổi mới để phát huy vai trò
chủ đạo của doanh nghiệp Nhà nước (số 10/NQ-TW, ngày 17-3-1995) đã bổ
sung thêm về phương châm tiến hành cổ phần hoá, tỷ lệ bán cổ phần cho
những người trong và ngoài doanh nghiệp "Thực hiện từng bước vững chắc
cổ phần một bộ phận doanh nghiệp mà Nhà nước không cần giữ vốn 100%
7 7
vốn. Tuỳ tính chất, loại hình doanh nghiệp mà tiến hành bán một tỷ lệ cổ phần
cho công nhân viên chức làm việc tại doanh nghiệp để tạo động lực bên trong
trực tiếp thúc đẩy phát triển và bán bổ phần cho các tổ chức hay cá nhân ngoài
doanh nghiệp để thu hút thêm vốn, mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh".
- Trong kết luận của Bộ Chính trị về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
5 năm 1996-2000 (số 301/BBK/BTC ngày 12-9-1995) đã bổ sung thêm mục
tiêu giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa của cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nước và phân loại doanh nghiệp Nhà nước để cổ phần hoá.
- Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (6-1996) chỉ đạo:
"Tổng kết kinh nghiệm, hoàn chỉnh khuôn khổ pháp luật để triển khai tích
cực, vững chắc cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước nhằm huy động thêm
vốn, tạo động lực mới thúc đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, làm tài sản
Nhà nước ngày một tăng lên, là sự kết hợp giữa kinh tế Nhà nước với kinh tế
nhân dân để phát triển kinh tế đất nước chứ không phải để tư nhân hoá. Bên
cạnh những doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước, sẽ có nhiều doanh nghiệp mà
Nhà nước nắm cổ phần chi phối. Gọi thêm cổ phần hoặc bán cổ phần cho
người lao động tại doanh nghiệp, cho các tổ chức và tư nhân ngoài doanh
nghiệp tuỳ trường hợp cụ thể; vốn thu phải dùng để đầu tư mở rộng sản xuất -
kinh doanh".
Trên cơ sở đánh giá tiến trình cổ phần hoá, tháng 4-1997 Bộ chính trị ra
thông báo số 63/TB-TW yêu cầu các cấp uỷ Đảng và chính quyền phải quán
triệt và tuyên truyền, giải thích trong nhân dân chủ trương, chính sách của
Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, có chính sách khuyến khích
người lao động tại doanh nghiệp cổ phần hoá mua cổ phần, hỗ trợ công nhân
nghèo mua cổ phần nhằm góp phần xoá đói giảm nghèo cấp cho ngừời lao
động trong doanh nghiệp cổ phần cổ phần hoá một số cổ phần tuỳ theo thời
gian cống hiến của mỗi người, có cơ chế để hàng năm gọi thêm cổ phần.
Đồng thời, yêu cầu phải tăng cường vai trò của các tổ chức đảng, tổ chức
quần chúng tại các doanh nghiệp cổ phần hóa, tiến hành phân loại các doanh
8 8
nghiệp nhà nước để lựa chọn doanh nghiệp cổ phần hóa, áp dụng các hình
thức cổ phần hóa đa dạng, phù hợp với từng điều kiện cụ thể, hoàn chỉnh các
chính sách về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
- Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương khoá VIII ( tháng 12-
1997) nêu rõ giải pháp cổ phần hóa như sau:" Phân loại doanh nghiệp công
ích và doanh nghiệp kinh doanh, xác định danh mục các loại doanh nghiệp
cần giữ 100% vốn nhà nước, loại doanh nghiệp nhà nước cần nắm giữ cổ
phần chi phối, loại doanh nghiệp nhà nước chỉ cần nắm giữ cổ phần ở mức
thấp" và " Đối với doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm 100% vốn cần
lập kế hoạch cổ phần hoá để tạo động lực phát triển, làm ăn có hiệu quả".
Như vậy chủ trương của Đảng về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước
là nhất quán và ngày càng được cụ thể hoá về mục tiêu, phương thức, đối
tượng và giải pháp cổ phần hoá.
Căn cứ vào các nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã từng bước có các
văn bản chỉ đạo tổ chức thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước.
9 9
CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG CỦA QUÁ TRÌNH CPH CÁC DNNN Ở VIỆT NAM -
THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1. Quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Từ khi có chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước cuả Đảng và
Chính phủ đến nay, quá trình cổ phần hoá có thể phân chia làm 3 giai đoạn:
giai đoạn thí điểm cổ phần hoá, giai đoạn mở rộng cổ phần hoá và giai đoạn
thúc đẩy cổ phần hoá.
2.1.1. Giai đoạn thí điểm cổ phần hoá (từ 6-1992 đến 4-1996)
Ngay từ những năm đầu thập kỷ 80, Đảng và Nhà nước đã chú trọng cải
tiến quản lý doanh nghiệp Nhà nước, coi đây là nhiệm vụ có tính quyết định
để thúc đẩy kinh tế Nhà nước phát triển. Đặc biệt, sau Đại hội Đảng lần thứ
VI (1986), thực hiện sự nghiệp đổi mới, Chính phủ đã ban hành một loạt pháp
lệnh, Nghị định nhằm thúc đẩy sản xuất - kinh doanh của các doanh nghiệp
Nhà nước.
Trong quyết định 21/HĐBT ngày 14//7/1987 về đổi mới kế hoạch hoá
và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, quyền tự chủ đối với doanh nghiệp
Nhà nước, tại Điều 22 đã đề cập tới việc thí điểm tiến hành cổ phần hoá
doanh nghiệp Nhà nước và giao cho Bộ Tài chính chủ trì. Tại thời điểm này,
mặc dù chủ trương là đúng đắn nhưng chưa thực hiện được, bởi vì: Các doanh
nghiệp Nhà nước còn được bao cấp lớn, ung dung hưởng bao cấp, thậm chí có
lãi (mặc dù đó là lãi giả) và đóng góp 60-70% số thu ngân sách. Mặt khác, thị
trường trong nước chưa phát triển, hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước
chưa được thương mại hoá: do sống lâu trong cơ chế bao cấp nên từ Trung
ương tới cơ sở chưa hiểu vấn đề phức tạp trên, từ đó chưa có sự thống nhất về
quan điểm, quyết tâm trong toàn Đảng, toàn dân.
Đến đầu năm 1990, trên cơ sở đánh giá kết quả sau 5 năm đổi mới, Hội
đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 143/HĐBT ngày 10-5-1990 về chủ
10 10
trương thí điểm cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước, thực hiện mô hình
khoán, cho thuê xí nghiệp quốc doanh.
Đến năm 1992, cuộc cải cách doanh nghiệp Nhà nước có phần chững
lại, lúng túng. Nếu không có "ông chủ" thực sự của doanh nghiệp Nhà nước
thì không thể giải quyết triệt để những vấn đề hiện tại. Tuy vậy, sau 5 năm kể
từ khi chủ trương cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước được khởi xướng (năm
1987 đến năm 1992) vẫn không triển khai được đơn vị nào.
Nhằm tiếp tục cải cách doanh nghiệp Nhà nước và giải quyết các vấn đề
nêu trên, ngày 8-2-1992 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng
Chính phủ) ra Quyết dịnh số 202/CT, chỉ đạo tiếp tục triển khai việc tiến hành
cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước bằng việc thí điểm chuyển một số doanh
nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần. Như vậy, thời gian này có thể vốn
Nhà nước thực sự có tác dụng.
- Chế độ chính sách đối với các doanh nghiệp Nhà nước đã cổ phần hoá
và người lao động của các doanh nghiệp này chậm được ban hành, chưa đủ
hấp dẫn và không được thực thi.
Theo Nghị định 44/1998/NĐ-CP, các doanh nghiệp đã cổ phần hoá
được hưởng một số ưu đãi, tuy vậy, vẫn chưa được đối xử bình đẳng như các
doanh nghiệp Nhà nước. Các doanh nghiệp Nhà nước được hưởng ưu đãi hơn
các công ty cổ phần về mức vay vốn, khoanh nợ, xoá nợ v.v
Cách quản lý và đối xử với công ty cổ phần chưa đổi mới. Nhiều cơ
quan quản lý Nhà nước ở các cấp can thiệp quá sâu vào hoạt động của công ty
cổ phần, đòi hỏi phải có cấp chủ quản phê duyệt vào mỗi văn bản gửi đến,
một số ngân hàng cũng đòi hỏi phải có chứng nhận của cơ quan chủ quản vào
dự án đầu tư mới cho vay…
Việc giải quyết trợ cấp thôi việc cho người lao động sau 12 tháng kể từ
khi thi công công ty cổ phần đai vào hoạt động do thay đổi công nghệ chậm
được giải quyết. Nguyên nhân chủ yếulà do Bộ Tài chính chậm hưỡng dẫn
Thông tư thực hiện Quyết định 177/QĐ-TTg ngày 30-8-1999 về tổ chức hoạt
11 11
động của Quỹ hỗ trợ sắp xếp ngày 9-6-2000, sau 10 tháng từ khi được ban
hành, mới có Thông tư hướng dẫn.
2.2. Mục tiêu, hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước và
phân loại doanh nghiệp Nhà nước trong tiến trình cổ phần hoá ở Việt
Nam hiện nay
* Mục tiêu của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
2.2.1.1. Mục tiêu cơ bản của cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước
Một là, góp phần quan trọng vào việc thúc đẩy quá trình tiếp tục đổi ới
phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao tính
năng động sức cạnh tranh của toàn bộ nền kinh tế nói chung, của khu vực
doanh nghiệp Nhà nước nói riêng.
Hai là, huy động vốn của toàn xã hội, bao gồm các cá nhân, các tổ chức
kinh tế tổ chức xã hội trong và nogài nước, để đầu tư đổi mới công nghệ,
phát triển doanh nghiệp, nâng coa sức mạnh, hiệu quả của doanh nghiệp trên
thị trường, tạo thêm việc làm, tăng trưởng và phát triển nền kinh tế đất nước.
Ba là, thay đổi cơ cấu doanh nghiệp Nhà nước và kinh tế Nhà nước, đổi
mới căn bản quản lý Nhà nước đối với doanh nghiệp Nhà nước và phương
thức hoạt động của doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh
doanh của từng doanh nghiệp cũng như toàn bộ nền kinh tế, tài sản Nhà nước
tạo điều kiện để khu vực kinh tế Nhà nước thực hiện tốt vai trò chủ đạo trong
nền kinh tế thị trường không cổ phần hoá toàn bộ doanh nghiệp Nhà nước mà
chỉ cổ phần hoá những doanh nghiệp Nhà nước không thuộc diện Nhà nước
cần nắm giữ 100% vốn.
Bốn là, tạo điều kiện để người lao động trong doanh nghiệp Nhà nước
cổ phần hoá có cổ phần, tạo động lực làm việc, nâng cao vai trò làm chủ thực
sự của họ.
* Những phương châm khi tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà
nước.
12 12
Một là, cổ phần hoá phải đảm bảo tăng thêm sức mạnh của khu vực
doanh nghiệp Nhà nước, biểu hiện: huy động đựơc các nguồn vốn cho kinh
doanh ở các doanh nghiệp cổ phần hoá mà Nhà nước giữ tỷ lệ cổ phần khống
chế; tạo điều kiện để tổ chức lại một cách căn bản hệ thống doanh nghiệp
Nhà nước, nhằm phát huy vai trò trong nền kinh tế thị trường.
Hai là, kết hợp cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước với việc sắp xếp
doanh nghiệp Nhà nước trên cùng địa bàn hoạt động cùng ngành nghề kinh
doanh, từng bước xoá bỏ ranh giới "địa phương" và "Trung ương" trong quản
lý.
Ba là, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước gắn với việc củng cố, phát
triển tổng công ty và các doanh nghiệp có 100% vốn của Nhà nước để từng
bước hình thành tập đoàn kinh tế mạnh, tạo những mũi nhọn trong ngành
nghề kinh tế, qua đó giữ được vai trò định hướng, khống chế trong nền kinh
tế.
Bốn là, cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước phải làm tăng động lực
phát huy sức sáng tạo của công nhân và cán bộ quản lý, tạo điều kiện để
người lao động phát huy vai trò làm chủ trong doanh nghiệp.
2.2.2. Các hình thức cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam
Cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước ở Việt Nam được tiến hành theo
các hình thức sau đây:
Giữ nguyên giá trị vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp, phát hành
cổ phiếu thu hút thêm vốn để phát triển doanh nghiệp;
-Bán một phần giá trị thuộc vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp;
- Tách một bộ phận của doanh nghiệp đủ điều kiện để cổ phần hoá;
- Bán toàn bộ giá trị vốn Nhà nước hiện có tại doanh nghiệp để chuyển
thành công ty cổ phần.
Mỗi hình thức cổ phần hoá có những ưu điểm và hạn chế nhất định. Sự
đa dạng hình thức cổ phần hoá sẽ ch phép ta lựa chọn hình thức thích hợp với
13 13
ngành nghề kinh doanh, loại hình doanh nghiệp Nhà nước đang có mục đích
của chủ sở hữu để tiến hành cổ phần hoá.
- Nếu mục đích là mở rộng sản xuất kinh doanh Nhà nước cần giữ
nguyên quy mô cũ của doanh nghiệp đồng thời phát hành thêm cổ phiếu để
tăng vốn đầu tư cho hoạt động.
- Nếu mục đích là thu hồi vốn và để đầu tư vào hoạt động khác thiết yếu
hơn thì Nhà nước cần thực hiện cổ phần hoá toàn bọ doanh nghiệp cho người
lao động trong và người ngoài doanh nghiệp.
- Nếu xuất phát từ mục đích thay dổi phương thức quản lý trong doanh
nghiệp thì Nhà nước cần bán một phần tài sản của doanh nghiệp Nhà nước để
thành lập công ty cổ phần. Thông qua hình thức này chủ sở hữu Nhà nước đã
tự nguyện rút khỏi vị trí người quản lý độc nhất, nhường vị trí đó cho Hội
đồng quản trị, thu hút chuyên gia giỏi vào vị trí lãnh đạo trong doanh nghiệp.
- Nếu mục đích là chi phối hoạt động của công ty cổ phần, chủ sở hữu
Nhà nước cần nắm giữ cổ phần chi phối hoặc cổ phần đặc biệt.
Khi chuyển đổi sở hữu theo hướng cổ phần háo, Nhà nước hoàn toàn có
thể chủ động cơ cấu tỷ lệ cổ phần trong doanh nghiệp theo mục đích của
mình. Cùng với phát triển thị trường, thay vì giữ trọn một số ngành, một số
doanh nghiệp quan trọng, có vị trí chiến lược. Nhà nước chi phối sự phát triển
của nền kinh tế bằng cách chỉ nắm giữ cổ phần chi phối trong các khu vực
này.
Cổ phần của các doanh nghiệp Nhà nước cổ phần hoá có thể được bán
cho các cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước. Trong trường hợp bên mua là
các cá nhân và tổ chức nước ngoài thì phải được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt, tỷ lệ cổ phần cao nhất là 30% vốn điều lệ.
2.2.2. Phân loại doanh nghiệp Nhà nước trong tiến trình cổ phần hoá
Việt Nam
Nghị định 44/1998/NĐ-CP, ngày 29-6-1998 của Chính phủ phân chia
doanh nghiệp Nhà nước trong tiến trình cổ phần hoá thành 3 loại như sau:
14 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét