của nền kinh tế mở, chính sách lãi suất còn được sử dụng như một công cụ
góp phần điều tiết đối với các luồng vốn đối với một nước, tác động đến tỷ
giá và điều tiết sự ổn định của tỷ giá. Điều này không những tác động đến
đầu tư phát triển mà còn tác động trực tiếp đến cán cân thanh toán và các
quan hệ thương mại Quốc tế của nước đó với nước ngoài.
Chính vì những điều như vậy mà ở các nước kinh tế thị trường phát
triển và theo đuổi chính sách tự do hoá tái chính( financial liberlization), lãi
suất được hình thành trên cơ sở thị trường, tức là do quan hệ cung và cầu
về vốn trên thị trường quyết định.
2.Có nhiều tiêu chí phân loại lãi suất tín dụng
2.1 căn cứ vào thời hạn tín dụng, lãi suất tín dụng ngân hàng chia thành
ba loại;
+Lãi suất tín dụng ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn
hạn
+ Lãi suất tín dụng trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng trung
hạn
+ Lãi suất tín dụng d ài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng d ài
hạn
2.2 Căn cứ vào mức độ ổn đinh của lãi suất thì lãi suất được chia thành
lãi suất thả nổi và lãi suất cố định.
Lãi suất thả nổi là lãi suất thay đổi lên xuống còn lãi suất cố định là lãi
suất được áp dụng trong suốt thời hạn tín dụng.
2.3 Nếu căn cứ vào loại hình lãi suất tín dụng, lãi suất được chia thành
nhiều loại khác nhau.
Lãi suất tiền gửi: là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi, lãi suất này có
nhiều mức khác nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, quy mô tiền gửi.
5
Lãi suất tiền vay: là lãi suất mà người đi vay phải trả cho Ngân hàng
do việc sử dụng vốn vay của ngân hàng, nó được áp dụng để tính lãi tiền
vay mà khách hàng phải trả cho ngân hàng.
Lãi suất chiết khấu: khi ngân hàng cho vay dưới hình thức chiết khấu
thương phiếu hoặc các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của
khách hàng, nó được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá và được khấu trừ
ngay khi ngân hàng phát tiền vay cho khách hàng .
Lãi suất tái chiết khấu: áp dụng khi ngân hàng trung ương tái cấp vốn
cho các ngân hàng dưới hình thức chiết khấu lại thương phiếu hoặc các
giấy tờ có giá ngắn hạn chưa đến hạn thanh toán của Ngân hàng. Nó cũng
được tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá của các giấy tờ có giá và cũng được
và cũng được khấu trừ ngay khi NHTW cấp tiền vay cho NHTM.
Lãi suất liên ngân hàng: là lãi suất mà các ngân hàng áp dụng khi cho
nhau vay trên thị trường liên ngân hàng, nó được hình thành bởi quan hệ
cung cầu tiền của các tổ chức tín dụng và chịu sự chi phối của lãi suất tái
cấp vốn của NHTW.
Lãi suất cơ bản là lãi suất được các NHTM sử dụng làm cơ sở để ấn
định mức lãi suất kinh doanh của mình.
Một vấn đề quan trọng trong việc tìm hiểu khái niệm lãi suất tín dụng
ngân hàng đó là phải phân biệt được lãi suất thực tế và lãi suất danh nghĩa.
Lãi suất danh nghĩa là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ
vào thời điểm nghiên cứu hay nói cách khác là lãi suất chưa trừ đi tỷ lệ lạm
phát. Lãi suất danh nghĩa thường được công bố chính thức trong các quan
hệ tín dụng, trên các phương tiện thông tin đại chúng. Lãi suất thực tế là lãi
suất được điều chỉnh lại cho đúng theo nghĩa thay đổi dự tính về lạm phát.
Mối quan hệ giữa lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực tế được khái quát
thành phương trình sau đây.
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực tế + tỷ lệ lạm phát hay
6
Lãi suất thực tế = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát
Vì được điều chỉnh lại theo đúng nghĩa những thay đổi về lạm phát
nên lãi suất thực tế phản ánh chính xác hơn thu nhập từ việc cho vay cũng
như chí phí thật của việc cho vay.
3.Các nhân tố ảnh hưởng tới lãi suất.
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, Nhà nước đóng vai trò trung
tâm trong hầu hết tất cả các hoạt động kinh tế xã hội trong đó có thị trường
tài chính. Vì lẽ đó, lãi suất trong các nước đó đều do Nhà nước quy định,
thậm chí một số nước còn quy định đến cả mức chênh lệch giữa lãi suất
tiền gửi và lãi suất cho vay của các ngân hàng. Sự biến động của lãi suất
trong các điều kiện như vậy phần lớn phụ thuộc vào ý chí của Chính phủ và
không vận động theo bất cứ một quy luật nào.
Trái lại, trong các nền kinh tế thị trường, Nhà nước chỉ đóng vai trò là
người điều tiết vĩ mô thị trường tài chính hoạt động theo cơ chế tự do hoá,
cơ chế hình thành lãi suất là cơ chế thị trường. Lãi suất vì vậy mà chịu ảnh
hưởng của rất nhiều nhân tố vĩ mô cũng như nhiều nhân tố khác.
3.1 Ảnh hưởng của cung cầu tiền tệ:
Lãi suất là giá cả sử dụng vốn vì vậy bất kì sự thay đổi nào của cung
và cầu hoặc cả cung và cầu tiền tệ không cùng một tỷ lệ đều sẽ là thay đổi
mức lãi suất trên thị trường.Tuy mức biến động của lãi suất ít nhiều phụ
thuộc vào các quy định của Chính phủ và NHTW , song đa số các nước có
nền kinh tế thị trường đều dựa vào nguyên lí này để xác định lãi suất. Do
vậy, có thể tác động vào cung cầu thị trường vốn để thay đổi lãi suất trong
nền kinh tế cho phù hợp với mục tiêu, chiến lược trong từng thời kì chẳng
hạn như thay đổi cơ cấu vốn đầu tư, tập trung vốn cho các dự án trọng
điểm. Mặt khác, muốn duy trì sự ổn định của lãi suất thì sự ổn định của thị
trường vốn phải được đảm bảo vững chắc.
7
3.2 Ảnh hưởng của lạm phát kì vọng
Khi lạm phát được dự đoán tăng trong một thời kì nào đó, lãi suất sẽ
có xu hướng tăng.Điều này là xuất phát từ mối quan hệ giữa lạm phát thực
và lãi suất danh nghĩa và để duy trì lãi suất thực không đổi, tỷ lệ lạm phát
tăng đòi hỏi lãi suất danh nghĩa phải tăng tương ứng. Mặt khác, công chúng
dự đoán tăng sẽ dành phần tiền tiết kiếm của mình cho việc dự trữ hàng hóa
hoặc những dạng thức phi tài sản khác như vàng, ngoại tệ mạnh hoặc đầu
tư vốn ra nước ngoài nếu có thể. Tất cả những điều này làm giảm cung quỹ
cho vay và gây áp lực tăng lãi suất trên thị trường. Từ mối quan hệ này cho
thấy ý nghĩa và tầm quan trọng của việc khắc phục tâm lí lạm phát đối với
việc ổn định lãi suất, sự ổn định và tăng trưởng của nền kinh tế.
3.3 Ảnh hưởng của tỷ suất lợi nhuận bình quân
Tỷ suất lợi nhuận bình quân của các dự án bình quân phải cao hơn lãi
suất các khoản vay tài trợ cho dự án. Có như vậy các nhà đầu tư mới có lợi
nhuận từ các dự án đầu tư và phấn khởi mở rộng đầu tư. Do đó, cách đánh
giá, lựa chọn chính sách lãi suất phù hợp sẽ dựa trên cơ sở ước lượng tỷ
suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế.
3.4 Ảnh hưởng của bội chi ngân sách
Bội chi ngân sách ở trung ương và địa phương trực tiếp làm cho cầu
tiền tăng và làm tăng lãi suất. sau nữa bội chi ngân sách sẽ tác động đến
tâm lí công chúng về gia tăng mức lạm phát và sẽ gây ra áp lực lạm phát.
Chính phủ thường tài trợ cho thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành trái
phiếu trên thị trường tăng lên làm cho giá trái phiếu có xu hướng giảm và
lãi suất thị trường có xu hướng tăng. Mặt khác, do tài sản có của NHTM
tăng ở khoản mục trái phiếu chính phủ, dự trữ vượt mức giảm nên lãi suất
ngân hàng cũng tăng.
8
3.5 Những thay đổi trong thuế
Thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp luôn có tác
động đến lãi suất. Khi các hình thức thuế này tăng sẽ điều tiết đi một phần
thu nhập của các cá nhân và tổ chức cung ứng dịch vụ tín dụng hay những
người tham gia kinh doanh chứng khoản. Mọi người đều quan tâm đến thu
nhập thực tế hơn là thu nhập danh nghĩa.Do vậy, để duy trì một mức lợi
nhuận thực tế nhất định, họ phải cộng thêm lãi suất cho vay những thay đổi
của thuế.
3.6 Ảnh hưởng của tỳ giá hối đoái kì vọng
Khi đồng nội tệ yếu, bị những sức ép lớn do những dao động của
những đồng ngoại tệ mạnh thì tâm lí phổ biến của người dân là coi ngoại tệ
mạnh như một trong những loại tài sản tiết kiệm an toàn. Chẳng hạn, khi
hiện tượng đô la hóa xảy ra, người dân sẽ ồ ạt chuyển sang tiết kiệm bằng
ngoại tệ cụ thể là đô la Mỹ. Làm như vậy người gửi hưởng lợi kép gồm lãi
suất tiền gửi và sự lên giá của đồng đôla Mỹ. Sự dịch chuyển này tạo ra sự
khan hiếm nội tệ ở các NHTM và buộc các ngân hàng này phải tăng lãi
suất tiền gửi đồng nội tệ để huy động cho vay. Như vậy, khi xây dựng
chính sách lãi suất cần phải xem xét đến khía cạnh tỷ giá để giảm bớt mức
chênh lệch lợi tức lãi suất tiền gửi nội tệ và ngoại tệ hay lãi suất cho vay
bằng nội tệ và ngoại tệ. Điều này làm giảm bớt sự dịch chuyển không mong
đợi từ tiền gửi nội tệ sang đô la khi đồng đô la lên giá.
Ngoài những yếu tố trên , lãi suất còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố
thuộc về đới sống xã hội khác như tình hình về kinh tế, chính trị cũng như
những biến động tài chính Quốc tế như các cuộc khủng hoảng tài chính
tiền tệ trên thế giới, các luồng vốn đầu tư ra vào đối với các nước….
4.Các nguyên tắc cơ bản hình thành lãi suất tín dụng ngân hàng
Lãi suất tín dụng chính là giá cả của tín dụng, là tỷ lệ % tính theo một
thời hạn xác định( ngày, tuần, tháng, quý, năm….) dùng làm căn cứ để tính
9
toán số lợi tức tín dụng mà các chủ thể tín dụng phải trả ( đối với chủ thể đi
vay) hoặc nhận được ( đối với chủ thể cho vay) để điều hoà lợi ích của các
chủ thể tham gia quan hệ tín dụng. Do vậy, việc xác định lãi suất tín dụng
sao cho hợp lí là một vấn đề vô cùng quan trọng sao cho đảm bảo được
được lợi ích giữa các chủ thể trong quan hệ tín dụng.
Trước hết, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lí
cho người gửi tiền vào ngân hàng. Do vậy trong thực tế, lãi suất thực tế
phải lớn hơn hoặc bằng tỷ lệ lạm phát tức là:
Lãi suất thực tế = tỷ lệ lạm phát + tỷ lệ người khuyến khích người gửi
tiền
Mặt khác, lãi suất tín dụng phải đảm bảo một phần thu nhập hợp lí cho
các tổ chức tín dụng( TCTD) và NHTM tức là:
Lãi suất cho vay = lãi suất tiền gửi + Các chi phí hợp lí trong hoạt
động tín dụng ngân hàng + Bù đắp rủi ro trong hoạt động ngân hàng + tỷ lệ
thu nhập hợp lí của ngân hàng.
Đồng thời lãi suất cho vay của ngân hàng phải đảm bảo phát triển nền
kinh tế tức là phải đảm bảo cho những người vay vốn ngân hàng có thu
nhập hợp lí nghĩa là :
Lãi suất cho vay < tỷ lệ lợi nhuận bình quân của nền kinh tế.
Do vậy, có thể khẳng định rằng giới hạn tối đa của lãi suất tín dụng
ngân hàng nói chung là tỷ suất lợi nhuận bình quân, còn giới hạn thấp nhất
của lãi suất là chỉ số lạm phát vì nó sẽ làm cho người gửi tiền bảo toàn vốn.
Tóm lại, để lãi suất tín dụng trở thành đòn bẩy kích thích và mở rộng
các quan hệ tín dụng trong nền kinh tế thì phải đảm bảo lãi suất tín dụng
được kiểm soát trong khung giới hạn sau đây:
Tỷ lệ lạm phát <= lãi suất tín dụng <= tỷ suất lợi nhuận bình quân
10
Nếu vượt quá giới hạn trên, lãi suất tín dụng sẽ gây ra tác động tiêu
cực đối với nền kinh tế- xã hội, hệ thống ngân hàng sẽ rơi vào tình trạng bất
ổn, rối loạn.
5. Chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng
Lãi suất là công cụ có ý nghĩa khi thực hiện chính sách tiền tệ, NHTW
sẽ căn cứ vào thực trạng của nền kinh tế để quy định một số chỉ tiêu lãi suất
áp dụng trong toàn hệ thống ngân hàng. Thông thường, người ta quy định
hai chỉ tiêu cơ bản là lãi suất tái chiết khấu và lãi suất cơ bản.
5.1 Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản là lãi suất có tác dụng chi phối tất cả các loại lãi suất
khác hình thành trong nền kinh tế thị trường. Đó là loại lãi suất chiếm vị trí
quan trọng trong cơ chế thị trường.
Lãi suất cơ bản do NHTW xác định và công bố trên chính sách tình
hình kinh tế của thị trường và mục tiêu của chính sách tiền tệ Quốc gia.
Lãi suất cơ bản có một số chức năng nhất định. Nó là công cụ để điều
hành chính sách tiền tệ Quốc gia. Qua lãi suất cơ bản, NHTW tác động
vào thị trường tiền tệ, thúc đẩy mở rộng hay thu hẹp tín dụng, giữ mức
tương quan cần thiết giữa tổng cung và tổng cầu tiền tệ. Mặt khác, lãi suất
cơ bản là giá cả sử dụng vốn trong hoạt động tín dụng, là cơ sở hình thành
nên lãi suất thị trường, tức là lãi suất kinh doanh tiền tệ. Nó là điểm dung
hoà một cách tự nhiên lợi ích của người gửi tiền , của người vay tiền và của
TCTD.
Lãi suất cơ bản được xác định một cách trực tiếp dưới nhiều góc độ.
Nếu đứng trên góc độ bảo vệ lợi ich của khách hàng ( người gửi tiền và
người vay vốn) người ta quy định lãi suất tiền gửi tối thiểu và lãi suất cho
vay tối đa. Điều này có nghĩa là, vì lợi ích của người gửi tiền, các TCTD
không được hạ lãi suất tiền gửi một cách tuỳ tiện và vì yêu cầu phát triển
sản xuất, TCTD không được tăng lãi suất cho vay quá mức, tạo khuôn khổ
11
cạnh tranh lành mạnh, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD, người ta quy
định lãi suất cơ bản theo chiều hướng ngược lại đó là quy định lãi suất tiền
gửi tối đa và lãi suất cho vay tối thiểu. Điều này làm cho các TCTD không
được vì muốn tạo lợi thế trong cạnh tranh mà nâng lãi suất huy động quá
cao hoặc cho vay theo lãi suất quá thấp, gây thiệt hại chung cho toàn hệ
thống các TCTD.
Khi xác định lãi suất cơ bản phải tính đến tổng thể quan hệ cung cầu
vốn thông qua một loạt các yếu tố trong hoạt động kinh doanh tiền tệ thông
thường. Đó là tỷ suất lợi nhuận bình quân, mức tăng trưởng kinh tế, chỉ số
lạm phát dự báo hàng quý, hàng năm, lãi suất thực dương cho người gửi
tiền, bù đắp chi phí và có lãi cho các TCTD, yêu cầu điều hành chính sách
tiền tệ cho từng thời kì, rủi ro trong hoạt động tín dụng, mức độ dự trữ bắt
buộc, lãi suất hình thành trên thị trường tiền tệ nói chung, mối tương quan
giữa lãi suất nội tệ và lãi suất ngoại tệ, mối tương quan giữa lãi suất và tỷ
giá hối đoái….
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về lãi suất cơ bản, cách thức xác
định và điều hành lãi suất cơ bản. Có thể lấy lãi suất là một trong các loại
lãi suất sau:
5.1.1 Lãi suất chiết khấu:
Khi ngân hàng cho vay dưới hình thức chiết khấu thương phiếu hoặc
các giấy tờ có giá khác chưa đến hạn thanh toán của khách hàng, nó được
tính bằng tỷ lệ % trên mệnh giá và được khấu trừ ngay khi ngân hàng phát
tiền vay cho khách hàng.
5.1.2 Lãi suất tiền gửi tối đa
Thực chất của lãi suất cơ bản này là NHTW công bố và kiểm soát lãi
suất tiền gửi trong phạm vi khống chế lãi suất tiền gửi tối đa và ấn định các
mức lãi suất cho vay cụ thể phù hợp với cung cầu về vốn.
5.1.3 Lãi suất cho vay tối đa
12
NHTW công bố một mức lãi suất trần nhưng có thể quy định một số
mức biên độ phù hợp với từng loại hình TCTD thời hạn khác nhau.
5.1.4 Lãi suất trên thị trường liên ngân hàng
Lãi suất liên ngân hàng là lãi suất cho vay giữa các NHTM hình thành
trên cơ sở thực hiện chính sách tiền tệ Quốc gia và quan hệ cung cầu vốn
trong nền kinh tế. Do vậy, lãi suất liên ngân hàng gắn với thị trường nhiều
hơn và dễ dàng biến động hơn. Thông thường lãi suất cơ bản bằng lãi suất
liên ngân hàng cộng thêm một biên độ gồm phí quản lí món vay, phí rủi ro.
5.2 Lãi suất tái chiết khấu
Khi nền kinh tế phát triển cả chiều rộng và chiều sâu, NHTW chuyển
sang điều hành lãi suất một cách gián tiếp, mang nặng yếu tố kinh tế. Đó là
lãi suất tái chiết khấu của NHTW.
Lãi suất tái chiết khấu chủ yếu ảnh hưởng đến cung cầu tiền tệ bằng
cách ảnh hưởng đến khối lượng cho vay chiết khấu và cơ số tiền tệ. Một sự
tăng lên trong cho vay chiết khấu sẽ làm tăng cơ số tiền tệ và tăng cung ứng
tiền tệ. Còn một sự giảm xuống trong cho vay chiết khấu sẽ làm giảm cơ số
tiền tệ và thu hẹp cung ứng tiền tệ.
Ngoài việc sử dụng làm căn cứ để tác động đến chính sách tiền tệ và
cung ứng tiền tệ, lãi suất tái chiết khấu còn được sử dụng để giúp cho việc
tránh khỏi những cơn sụp đổ tài chính vì NHTW đóng vai trò là người cho
vay cuối cùng. NHTW không chỉ đóng vai trò là người cho vay cuối cùng
cho các NHTM mà còn cho cả hệ thống tài chính nói chung. NHTW cung
cấp dự trữ cho NHTM khi các ngân hàng bị đe doạ phá sản, do đó ngăn
chặn xảy những cơn sụp đổ ngân hàng tài chính .
Lãi suất chiết khấu có 2 tác dụng:
+ Tác dụng về lượng đối với khối lượng tiền tệ trong lưu thông: Việc
phân tích quá trình tạo tiền đã cho thấy, các NHTM sau khi tạo ra tiền ghi
sổ còn phải gửi tiền dự trữ ở NHTW để đảm bảo an toàn khi có hiện tượng
13
người dân đổ xô đi rút tiền gửi ở NHTM. Nhu cầu này khiến họ phải đi vay
ở NHTW bằng cách tái chiết khấu một phần chứng từ có giá của mình.
Việc tái cấp vốn của NHTW cho NHTM có tác dụng vể lượng đối với khối
lượng tiền tệ vì nó dẫn đến việc phát hành tiền của NHTW cho NHTM để
họ có thể chi trả cho việc rút khỏi các NHTM.
+ Tác dụng về giá đối với cơ cấu lãi suất trong nền kinh tê: NHTW tái
chiết khấu các chứng từ có giá do NHTM xuất trình với điều kiện NHTM
phải trả một tỷ suất nhất định do NHTW đơn phương quy định. Lãi suất
này gọi là tỷ suất chiết khấu hay lãi suất chiết khấu. Các loại lãi suất cho
vay tư nhân tức là lãi suất tín dụng cấp cho nền kinh tế và lãi suất cho vay
Nhà nước đều gắn chặt với lãi suất tái chiết khấu.
Mối khi tỷ suất chiết khấu thay đổi đều có xu hướng làm tăng hay
giảm chi phí cho vay của NHTW đối với các NHTM và do đó khuyến
khích hoặc cản trở nhu cầu xin vay.
Mặt khác khi kho bạc muốn bán tín phiếu kho bạc cho lĩnh vực ngân
hàng thì họ phải chào một lãi suất tương đương với tỷ suất chiết khấu. Nói
cách khác, khi ấn định tỷ suất chiết khấu NHTW cũng ấn định luôn mức lãi
suất đi vay của Nhà nước.
Như vậy, lãi suất tái chiết khấu chính là một công cụ để NHTW điều
hành chính sách lãi suất tín dụng ngân hàng sao cho phù hợp với mục tiêu
của chính sách tiền tệ Quốc gia.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét