Quảng Đông, núi Hồ Lĩnh, Kim Cổ Lĩnh (đảo Hải Nam) ở vùng phía Nam của
Xisuang Bana (Vân Nam) còn những cánh rừng có nhiều cây vải dại mọc. Theo
nhiều tài liệu của Trung Quốc cho biết có rất nhiều nơi ở miền nam Trung Quốc
có cây vải dại như các tỉnh Quảng Đông, Vân Nam, đảo Hải Nam… và theo
điều tra của các nhà khoa học Trung Quốc, đã điều tra thực địa và từ góc độ lịch
sử hình thái và đặc trưng quần lạc sinh thái đã kết luận đảo Hải Nam có cây vải
dại, ngoài ra ở Hoa Châu, Liêm Giang, Dương Xuân và trên sáu ngọn núi lớn ở
huyện giáp ranh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của tỉnh Quảng Tây đều có
cây vải dại chứng tỏ cây vải có nguồn gốc từ Trung Quốc.
Ở nước ta, cây vải được trồng từ cách đây khoảng 2000 năm và phân bố
từ 18 - 19
0
Vĩ Bác trở ra nhưng chủ yếu vần là vùng đồng bằng Sông Hồng,
trung du miền núi phía Bắc và một phần khu 4 cũ. Theo các tài liệu lịch sử thì
cách đây 10 thế kỷ dưới thời Bắc thuốc vải là một trong những cống vật hằng
năm mà Đại Việt phải mang cống nộp cho Trung Hoa. Cây vải dại cũng đã được
tìm thấy ở vườn quốc gia Ba Vì, Hà Tây và nhiều nơi khác. Từ đó, miền Bắc
Việt Nam cũng được coi là nguồn gốc của cây vải.
Ngày nay, cây vải được trồng ở trên 20 nước trên thế giới nhưng chủ yếu
phân bố ở vùng Đông Nam Á ở Châu Á: Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Việt
Nam, Mianma, Lào, Campuchia, Malaisia, Philippin, Inđônêxia, Srilanca, Nhật
Bản, Ixrael.
Ở Châu Phi: Nam Phi, Morithiuyt, Madagatca, Rênyniong, Gabông, Cônggô…
Ở Châu Mỹ: Hoa Kỳ, Hondurat, Panama, Cuba, Trinidat, Pôctoorico, Brazil…
Ở Châu Đại Dương: Autraylia, Newzilan,…
Ở Việt Nam, đã hình thành một số vùng trồng cây vải tập trung như Lục
Ngạn (Bắc Giang), Thanh Hà (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Đồng Hỷ
- Phú Lương (Thái Nguyên), Đình Lập - Hữu Lũng (Lạng Sơn), Chương Mỹ
(Hà Tây), Phù Yên - Bắc Yên (Sơn La), Phú Thọ. Ngoài ra còn một số địa
phương ở Tây Nguyên như Đăk Nông, Đăk Lắk, Kontum…
3. Các giống vải chủ yếu ở Việt Nam và trên thế giới
Ở Việt Nam sự phân chia các giống vải còn mang tính chất tương đối, xét
theo phẩm chất quả, có các nhóm: vải chua, vải nhỡ, vải thiều; xét theo thời gian
thu hoạch, có các nhóm vải: vải chín sơm, chính vụ và vải chín muộn.
- Nhóm vải chua: (hay còn gọi là tu hú) cây cao lớn, lá to, phiến lá mỏng.
Khi ra hoa, chùm hoa vải từ cuống đến nụ hoa đêu phủ một lớp lông đen. Quả
thường chín vào cuối tháng 4 và đầu tháng 5. Khi chín vỏ quả màu đỏ tươi,
trọng lượng quả 30 - 50g, vỏ dày, hạt to, cùi mỏng và rất chua, tỷ lệ cùi chiếm
60 - 65% trọng lượng quả. Ở nước ta hiện còn ở các tỉnh trung du và miền núi
như Phú Thọ, Hà Tây, Tuyên Quang, Quảng Ninh…
- Nhóm vải nhỡ: cây to trung bình, tán cây thường to 5 - 7m, dạng trứng,
lá thường to, cây sinh trưởng khỏe, chùm hoa không có lông đen, nhưng hoa
mọc thưa hơn vải chua, quả chín muộn hơn nhóm vải chua nhưng sớm hơn
nhóm vải thiều. Quả có trọng lượng trung bình từ 28 - 34g.
- Nhóm vải thiều: cây có tán hình mâm xôi cao từ 10 - 15m, lá nhỏ, phiến
lá dày bóng, khả năng chịu hạn tốt, phù hợp với đất có độ pH 5 - 6, khi ra hoa
chùm hoa không phủ lớp lông đên mà có màu trắng vàng, chín chính vụ (tháng
6). Trọng lượng quả trung bình 18 - 25g, vỏ quả mỏng, hạt nhỏ, dày cùi, tỷ lệ ăn
được 70 - 80% cùi thơm và ngọt hơn 2 nhóm vải trên.
Quả vải thiều gốc
- Quả tròn, hạt nhỏ cùi dày, gai nhỏ
- Ăn ngon, ngọt và thơm
Ngoài ra còn có một số giống có thể được biết đến với vài tên khác nhau
theo cách gọi của từng địa phương. Tuy nhiên, hiện nay theo Vũ Mạnh Hải và
Nguyễn Văn Dũng (2002) Viện Nghiên cứu Rau quả đã thu thập và mô tả 33
giống vải được trồng ở các vùng khác nhau trong đó có nhiều giống có triển
vọng đã và đang được phát triển ngoài sản xuất như giống Hùng Long, Yên
Hưng, Yên Phú,…
Có thể kể đến một số giống vải:
3.1. Vải thiều Thanh Hà:
Cây sinh trưởng tốt, lá mầu xanh đậm. Quả hình cầu,
khi chín mầu đỏ tươi, gai thưa, ngắn. Trọng lượng quả trung
bình 20,7g (45 - 55 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được trung bình 75%, độ Brix 18 -
21%. Ðây là giống chín chính vụ, thời gian cho thu hoạch 5/6 - 25/6.
3.2. Vải Hùng Long:
Cây sinh trưởng rất tốt, lá hình lòng máng phẳng, xanh đậm. Quả hình
tròn hơi dài, khi chín có màu đỏ sẫm, gai thưa, nổi. Trọng lượng quả trung bình
23,5g (40 - 45 quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 72,0% , độ Brix 17 - 20%. Ðây là
giống chín sớm, thời gian cho thu hoạch 10/5 - 20/5.
3.3. Vải Lai Bình Khê :
Cây sinh trưởng rất tốt, lá mầu xanh tối. Quả hình trứng, khi chính có mầu
đỏ sẫm, vỏ mỏng, gai thưa, ngắn. Trọng lượng quả trung bình 33,5g (28 -
35quả/kg), tỷ lệ phần ăn được 71,5%, độ Brix 17 - 20%. Ðây là giống vải chín
sớm, thời gian cho thu hoạch 5/5 - 15/5.
3.4. Vải lai Yên Hưng :
Cây sinh trưởng khỏe, mầu xanh hơi vàng. Quả hình tim, khi chín mầu đỏ
vàng, gai thưa. Trọng lượng quả trung bình 30,1g (30- 35quả/kg), tỷ lệ phần ăn
được 73,2%, độ Brix 18 - 20%. Ðây là giống chín sớm, thời gian cho thu hoạch
10/5 - 20/5.
Các giống vải trên thế giới thì hiện tại Trung Quốc là nước có số lượng
giống vải nhiều nhất. Tuy vậy trong số hơn 200 giống vải được trồng ở Trung
Quốc chỉ có khoảng 15 giống là có khả năng sản xuất theo hướng hàng hoá, ở
mỗi vùng sinh thái có một số giống chủ lực.
Ở Ấn Độ có khoảng 50 giống vải được trồng ở các bang khác nhau. Ở
Bang Bihat nơi có diện tích vải lớn nhất của Ấn Độ có những giống quan trọng
là Shahi, Kasba, China, Deshi, Purbi… Giống được trồng phổ biến ở Uttar
Pradesh là Dehra Dun. Những giống cho năng suất và phẩm chất tốt ở Ấn Độ là
West Bengal, Bombai, Elaichi, China, Bedana.
Ở Austraylia, những vùng trồng vải tập trung nằm theo dải bờ biển từ
Cairrus, Atherton Tablelands Ingham, Mackay, Bundaberg đến Coffs Harbuor
với các giống vải chính là Fay Zee Siu, Taiso, Bengal… (G.W Vallance, 1986),
S.K.Mitra. Ở bảng trên là các giống vải chính được trồng trên thế giới.
Bảng 1. Giống vải chính của một số nước trên thế giới
TT Tên nước Các giống vải chính
1 Ấn Độ Shahi, Rose Seented, calcuttia, bedana, longia, china
2 Úc Fay Zee Siu, taiso, bengal, waichee, kwaimay pink, salathiel
3 Đài Loan Haakyip, shakeng
4 Nam Phi Taiso, bengal
5 Mỹ Taiso, Kaimana
6 Thái Lan Taiso, waichee, baidum, chacapat, Kom
7 Trung Quốc Fay Zee Siu, bahlwp, no mai chee, Souey Tung, Taiso, Brewster
Nguồn: Menzel (1995,2002)
4. Đặc điểm sinh lý dinh dưỡng của cây vải
4.1. Đặc điểm sinh trưởng phát triển của cây vải
Thời kỳ kiến thiết cơ bản bắt đầu từ sau khi trồng bằng cành chiết hay cây
ghép đến khi cây đạt 3 tuổi. Trong thời kỳ này cây vải phát triển hệ thống rễ,
thân, cành, hình thành tán cây. Thời gian đầu cây phát triển chậm. Trong thời kỳ
này đường kính thân, số cành và tán cây vải tăng dần hàng năm. Một năm cây
vải cho ra từ 4 đến 5 đợt lá non (lộc) mà sau đó có thể phát triển thành cành vào
các tháng: 2 - 3, 4 - 5, 6 - 7, 8 - 9 và nếu thời tiết ấm cả vào các tháng 10 - 11.
Thời kỳ kinh doanh của cây vải được bắt đầu từ năm thứ 4 sau trồng. Ở
thời kỳ này một năm cây vải cho 2 - 3 đợt lộc, trong đó: đợt lộc xuân vào
khoảng tháng 2, đợt lộc sau thu hoạch quả vào khoảng tháng 6 - 7 và đợt lộc thu
vào khoảng tháng 9 - 10. Cây vải không ra hoa trên cành 1 năm, nên đợt lộc thu
sẽ tạo ra các cành thu cho hoa và quả vào năm sau rất có ý nghĩa cho năng suất
vải vào vụ tới.
Tháng 10 - 11 là giai đoạn ủ mầm hoa nên cần dinh dưỡng, nhưng cần lưu
ý giảm lượng đạm sử dụng. Từ tháng 2 - 6 là thời kỳ cây ra hoa kết quả, nếu quả
nhiều thì không ra lá cần được cung cấp nhiều dinh dưỡng đặc biệt là đạm và
kali để nuôi quả.
Đọt lá trên đó chùm hoa đã nảy sinh gọi là đọt mẹ, đọt mẹ càng già (ra
vào tháng 6 - 7) càng có khả năng sinh ra nhiều chùm hoa khoẻ, thuần hoá cho
nhiều quả hơn. Khi cây vải thụ phấn xong, hạt phát triển trước, khoảng 3 - 4
tuần trước khi quả chín, hạt ngừng phát triển, cùi phát triển nhanh, giai đoạn này
cây cần nhiều nước và dinh dưỡng, đặc biệt là N, K, Ca.
Thời kỳ kinh doanh cây vải cho năng suất và nhu cầu dinh dưỡng tăng
dần trong khoảng 10 năm (từ năm thứ 4 đến năm thứ 14 sau trồng), từ năm thứ
15 sau trồng cây vải thường mới cho năng suất ổn định.
Ở thời kỳ già (cỗi), một năm cây chỉ ra 2 đợt lộc vào các tháng 2 và tháng
9, cây có năng suất quả giảm dần, cùng với hiện tượng chết cành. Nhu cầu dinh
dưỡng của cây cũng giảm so với thời kỳ kinh doanh.
4.2. Đặc điểm hệ rễ của cây vải
Cây vải có bộ rễ rất khoẻ bao gồm rễ phát triển theo chiều đứng và rễ phát
triển ngang.
Đại bộ phận hệ rễ của cây vải tập trung ở tầng đất 0 - 60cm, dù rễ có thể
lan xa gấp 1,5 - 2 lần so với hình chiếu của tán cây và có thể ăn sâu tới 1,6m.
Tuy nhiên phần lớn rễ tơ - là các rễ hút thức ăn tập trung ở độ sâu 0 - 40cm với
phạm vi chiều rộng trong và ngoài hình chiếu mép tán cây 10 - 50cm.
Bộ rễ cây vải hoạt động mạnh vào 3 thời kỳ: thời kỳ 1 - từ sau ra hoa rộ
đến giữa tháng 6 - là thời kỳ bộ rễ hoạt động mạnh nhất với nhiều rễ nhất; thời
kỳ thứ 2 - từ sau thu hoạch quả (giữa tháng 8), lượng rễ ít; thời kỳ thứ 3 - trước
và sau phân hoá mầm hoa (vào trung tuần tháng 10), trong điều kiện mùa đông,
nhiệt độ đất giảm dần, lại khô hạn nên rễ hoạt động chậm dần hoặc ngừng hẳn.
4.3. Nhu cầu dinh dưỡng của cây vải
Nghiên cứu về dinh dưỡng của cây vải còn ít, thông qua các tài liệu hiện
có thể thấy cây vải cần nhiều kali và đạm, rồi đến lân. Ở thời kỳ cây con cây cần
nhiều đạm và lân còn ở giai đoạn kinh doanh của cây vải cần nhiều kali nhất rồi
đến đạm và lân.
Bảng 2: Tỷ lệ các chất dinh dưỡng cây vải hút vào trong lá và quả
Tỷ lệ cây hút các chất dinh
dưỡng
N P2O5 K2O CaO MgO
Trong lá 7,8 1,0 4,6 2,3 2,5
Trong quả 1,6 1,9 5,3 1,3 1,0
Nguồn: Trần Thế tục, 1997
4.3.1. Nhu cầu dinh dưỡng đạm
Đạm có tác dụng rất lớn trong việc phát triển lá, thân, cành và tạo tán của
cây vải nên có vai trò quyết định đối với sự sinh trưởng và phát triển của cây.
Đạm còn có tác dụng lớn đến việc ra hoa, đậu quả, số lượng và trọng lượng quả
nên có tác dụng quyết định đối với năng suất quả vải. Đạm là yếu tố dinh dưỡng
rất quan trọng ở thời kỳ cây con - kiến thiết cơ bản của cây vải. Ở thời kỳ kinh
doanh của cây vải, đạm ngoài tác dụng lớn đến sự phát triển cành, lá và tạo tán
của cây còn có ảnh hưởng quyết định đến năng suất và phẩm chất quả.
Trong một nhiệm kỳ kinh tế, nhu cầu đạm của cây vải tăng dần hàng năm,
tăng mạnh ở thời kỳ đầu kinh doanh và đạt cực đại ở thời kỳ cây có năng suất ổn
định, rồi giảm dần ở thời kỳ cây già cỗi. Trong một năm nhu cầu đạm của cây
vải cao sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu cho việc ra quả ở
năm sau (tháng 7 - 8) rồi giảm mạnh khi chuẩn bị phân hoá mầm hoa (tháng 12)
và lại tăng mạnh vào đầu xuân (tháng 2 - 3) khi cây phát triển cành xuân và ra
hoa đậu quả, rồi lại giảm dần cho đến trước thu hoạch quả.
4.3.2. Nhu cầu về dinh dưỡng lân
Lân có tác dụng lớn đối với sự phát triển của hệ rễ và khả năng hấp thu
dinh dưỡng của cây vải, vì vậy có ảnh hưởng rõ đến sinh trưởng và phát triển
của cây. Lân thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa, hình thành quả, sự thành
thục của quả và hạt nên có tác dụng nâng cao năng suất và sớm cho thu hoạch
quả. Lân cũng ảnh hưởng rõ tới phẩm chất của quả vải. Lân còng làm tăng khả
năng chống hạn chống rét và chống chịu sâu bệnh hại cho cây vải.
Cây vải thiếu lân có lá tối màu, thiếu nhiều thì ở ngọn lá và mép lá có
màu vàng nâu cục bộ và lan dần ra đến gần gân chính. Thiếu lân không chỉ ảnh
hưởng xấu đến khả năng hút dinh dưỡng, sinh trưởng và phát triển của cây vải
mà còn ảnh hưởng xấu đến việc ra hoa, đậu quả, năng suất và chất lượng quả.
Nhưng khi vải được cung cấp quá thừa lân làm cho hàm lượng N và K trong cây
giảm có thể ảnh hưởng xấu tời cây.
Trong một nhiệm kỳ kinh tế, nhu cầu lân của cây vải tăng dần hàng năm,
đặc biệt cần thiết ở thời kỳ kiến thiết cơ bản. Trong một năm nhu cầu lân của
cây vải cao vào thời kỳ từ sau khi thu hoạch để phục hồi và phát triển cành thu
cho việc ra quả ở năm sau và chuẩn bị phân hoá mầm hoa (từ tháng 7 - 8 đến
tháng 12) rồi giảm dần cho đến trước thu hoạch quả.
4.3.3. Nhu cầu dinh dưỡng kali
Kali là yếu tố dinh dưỡng mà cây vài hút nhiều nhất. Kali có tác dụng
quan trọng trong việc tổng hợp các chất gluxit, giúp cho cấu tạo các mô cứng
cáp, vận chuyển các sản phẩm quang hợp đến các cơ quan dự trữ của cây được
thuận lợi. Vì vậy kali còn có tác dụng làm tăng độ ngọt và các phẩm chất quả,
tăng khả năng cất giữ, tăng khả năng bảo vệ của vỏ quả. Kali làm tăng khả năng
chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng, tăng khả năng chống chịu sâu bệnh, giúp cho quả
nhanh lớn và chóng thành thục.
Thiếu kali màu sắc lá hơi nhạt, ở ngọn lá có hiện tượng trắng màu tro,
khô; mép lá có màu nâu gụ lan dần xuống tận gốc lá. Thiếu kali có ảnh hưởng
xấu đến không chỉ sinh trưởng phát triển mà còn có ảnh hưởng xấu rõ tới năng
suất và chất lượng quả của cây vải.
Nhu cầu kali theo nhiệm kỳ kinh tế của cây vải cũng tăng hàng năm tương
tự như đối với đạm. Nhu cầu kali hàng năm của cây vải tăng dần từ sau thu
hoach quả và đạt cao nhất ở thời kỳ cây ra hoa rồi giảm dần từ khi đậu quả cho
đến lúc thu hoạch.
Hàm lượng kali trong lá cao thời gian chín của cây vải có tương quan
thuận với năng suất vải cao.
4.3.4. Nhu cầu về các yếu tố dinh dưỡng khác
- Cây vải có nhu cầu khá cao về MgO và CaO
Mg cần thiết cho quá trình quang hợp thuận lợi ở cây, tạo khả năng chịu
hạn tốt hơn cho cây vải, đồng thời có tác dụng làm tăng độ ngọt cho quả vải.
Ca có tác dụng lớn trong việc hấp thu dinh dưỡng của cây vải do có tác
dụng tốt đến phát triển hệ thống rễ bên và lông hút của cây, nhất là trong điều
kiện đất trồng vải trên đất chua. Ca còn có tác dụng giúp cây vải có khả năng
chịu úng tạm thời, có ảnh hưởng tốt đến việc tích luỹ chất gluxit vào quả. Vì vậy
Ca có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng vải.
- Có ý kiến cho rằng Clo cũng là yếu tố dinh dưỡng có nhu cầu khá rõ đối
với cây vải nên dùng một lượng nhất định bón cho vải sẽ mang lại hiệu quả tích
cực (Trần Thế Tục, 1997).
- Theo một số nhà khoa học khác như Phạm Văn Côn [(2005) Các biện
pháp điều khiển sinh trưởng và phát triển, ra hoa, kết quả cây ăn trái, Nxb Nông
nghiệp]; Phạm Minh Cương [(1988), Nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố
dinh dưỡng và chất điều hoà sinh trưởng đến năng suất, chất lượng của 2 giống
vải thiều Thanh Hà và Phú Hộ trên đất đồi Vĩnh Phú và Hà Bắc, Luận văn Tiến
sỹ Nông nghiệp, Viện khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam;và cộng sự
(2005), "Nghiên cứu một số biện pháp kỹ thuật tăng năng suất vải", Tạp chí
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Nxb Lao động xã hội] và Nguyễn Văn
Dũng (2005), ["Nghiên cứu ảnh hưởng của một số chất điều tiết sinh trưởng và
dinh dưỡng qua lá đến khả năng ra hoa, đậu quả, năng suất phẩm chất vải chín
sớm", Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, số đặc san, Nxb Nông
nghiệp trang 81 - 84]…thì Bo, Zn, GA
3
, IAA có tác dụng làm tăng tỷ lệ đậu quả,
tăng trọng lượng quả và hàm lượng vitamin C trong quả.
II. CÁC YÊU CẦU VỀ SINH THÁI CỦA CÂY VẢI
1. Yêu cầu về nhiệt độ
Đối với cây vải thì nhiệt độ là một trong những nhân tố chủ quan tác động
đến sinh trưởng dinh dưỡng và sinh trưởng sinh thực của cây vải. Nhiệt độ bình
quân năm thích hợp cho sinh trưởng và phát triển của cây vải từ 21 - 26
0
C thì có
phản ứng tốt. Giống chín sớm là ở 4
0
C, giống chín muộng là ở 0
0
C thì ngừng
sinh trưởng sinh dưỡng. Khi nhiệt độ từ 8 - 10
0
C thì khôi phục sinh trưởng, nhiệt
độ từ 10 - 12
0
C cây sinh trưởng chậm, nhiệt độ trên 21
0
C cây sinh trưởng tốt, ở
nhiệt độ 23 - 26
0
C là thời kỳ cây sinh trưởng mạnh nhất. Khi nhiệt độ giảm
xuống 0
0
C thì cây chưa bị rét gây hại, ở nhiệt độ -2
0
C bắt đầu tổn hại đến vải, rét
càng kéo dài ở nhiệt độ thấp thì thời gian cây vải bị hại càng nghiêm trọng.
Ảnh hưởng của nhiệt độ vào mùa đông liên quan chặt chẽ tới quá trình phân hoá
mầm hoa của vải. Theo Bành Kính Ba, nghiên cứu trên các giống vải cho thấy
thời gian nhiệt độ từ 0
0
C - 10
0
C thuận lợi cho chùm hoa phân nhánh và phân hoá
mầm hoa. Ở điều kiện từ 11 - 19
0
C cành hoa và lá đều có thể phát triển sớm trở
thành các chùm hoa có giá trị về kinh tế.
Thể nguyên thuỷ của hoa vải là mầm hỗn hợp có hoa có lá, nhiệt độ cao ức
chế sự hình thành các cơ quan hoa mà thiên về sinh trưởng sinh dưỡng, thúc đẩy sự
sinh trưởng của lá. Trái lại, nhiệt độ thấp thúc đẩy sự phân hoá cành hoa nhỏ và cơ
quan hoa, ức chế sự phát dục của nguyên thuỷ của lá, thiên hướng về sinh thực.
Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới tỷ lệ đực cái của hoa vải. Ở Trung Quốc qua
phân tích liên tục từ năm 1978 - 1985 về quan hệ giữ nhiệt độ bình quân ngày
của tháng 1 - 2 và tỷ lệ phần trăm hoa cái trong năm đã phát hiện giữa chúng có
mối tương quan nghịch R = - 0,86 có nghĩa là nhiệt độ còn ảnh hưởng đến thời
kỳ nở hoa và sự phát triển của quả. Nhiệt độ bình quân hữu hiệ càng cao thì quả
sinh trưởng phát triển càng nhanh, ngược lại nhiệt độ bình quân hữu hiệu càng
thấp thì sinh trưởng của quả càng chậm.
Nhiệt độ là một trong những nhân tố khí hậu chính khó điều khiển được
nó quyết định diện tích trồng trọt và ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất cây trồng.
Cây vải thuộc nhóm cây ăn quả Á nhiệt đới nên yêu cầu về nhiệt độ khá khắt
khe… Theo nghiên cứu của trường đại học Hoa Nam (Trung Quốc): ở thời kỳ
hình thành chồi hoa tháng 11, 12 gặp troèi lạnh và khô, đọt hoa ra tốt. Ngược lại
nếu trời nóng và ẩm thì ra đọt lá, vào tháng 1,2 khi nở hoa đậu quả nếu thời tiết
tốt, không có gió Bắc mưa phùn kéo dài thì thụ phân thuận lợi, đậu quả nhiều.
2. Yêu cầu về lượng mưa và độ ẩm
Cây vải có nguồn gốc ở các vùng có lượng mưa hàng năm là 1.250 -
1.700mm, độ ẩm không khí là 75 - 85 % nên nó chịu được độ ẩm không khí
cao ở thời kỳ sinh trưởng thân lá. Trong những tháng mưa nhiều, bộ lá cây
vẫn xanh tốt. Vải kém chịu úng hơn các cây ăn quả khác như nhãn, xoài,…
nhưng có khả năng chịu hạn tốt hơn. Tháng 11 - 12 cây vải cần có thời tiết
khô và lạnh để phân hoá mầm hoa.
Những tháng vào mùa hè và mùa thu là thời gian cây vải sinh trưởng
mạnh yêu cầu lượng lúa lớn. Những tháng mùa đông, mưa nhiều, vải dễ phát lộc
đông, không thuận lợi cho phân hoá mầm hoa theo tác giả Ngô Tố Phần và Nghê
Diệu Nguyên, nhân tố mưa ảnh hưởng đến hoa vải chủ yếu trong giai đoạn phân
hoá trục chùm hoa, thời ky phân hoá hoa, đủ nước thì tổng số hoa/chùm và số
hoa đực/chùm giảm nhưng số hoa cái không bị ảnh hưởng nhiều nên tỷ lệ hoa
cái tăng. Mưa nhiều trong thời gian hoa đang nở dẫn đến làm thối hoa, tỷ lệ đậu
quả rất thấp có thể dẫn đến mất mùa. Phấn hoa ngâm trong nước nửa giờ có một
số bộ phận bắt đầu nảy mầm, 1 - 1,5 giờ phần lớn nảy mầm, sau 2 giờ cơ bản
ngừng nảy mầm. Nếu ngâm phấn hoa trong nước nửa giờ, màng ngoài của 70%
số hạt phấn bắt đầu trương lên, khoảng 1 giờ, đầu trên ống phấn hoa bị vỡ ra,
nguyên sinh chất chảy ra ngoài và ngừng sinh trưởng.
Ở các tỉnh phía Bắc nước ta năm 2005 nhiệt độ những tháng cuối năm rất
thuận lợi cho phân hoá mầm hoa, chùm hoa to, hoa nở nhiều nhưng khi hoa nở,
gặp mưa dầm kéo dài nhiều ngày làm tỷ lệ đậu quả thấp do đó năng suất giảm
sụt đặc biệt là giống vải thiều.
3. Yêu cầu về ánh sáng
Cây vải yêu cầu đầy đủ ánh sáng. Tổng số giờ chiếu sáng thích hợp cho
vải cả năm 1800 - 2000 giờ. Ánh sáng đầy đủ làm tăng khả năng đồng hoá của
cây, xúc tiến quá trình phân hoá mầm hoa làm tăng màu sắc của vỏ quả và làm
tăng phẩm chất của quả. Nếu không đủ ánh sáng hoặc trồng quá dày, quá trình
quang hợp bị hạn chế thì sự ra hoa đậu quả sẽ khó khăn. Nếu khi ra hoa gặp
nhiệt độ quá cao không khí quá khô cường độ ánh sáng mạnh, lượng nước bốc
hơi lớn sẽ làm cho chỉ nhị héo, nồng độ dịch ở đầu nhuỵ quá cao không lợi cho
thụ phấn, thụ tinh, thời tiết thuận lợi cho việc ra hoa, thụ phấn thụ tinh là trong
thời kỳ ra hoa có nhiều ngày nắng ráo, sau đó lại có mưa rào rồi trời lại quang.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét