Thứ Tư, 19 tháng 2, 2014

Nghiên cứu động thái của sinh viên Văn Lang về sản phẩm nước giải khát cocacola

Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
5
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
LỜI NÓI ĐẦU

Coca Cola là một thương hiệu nổi tiếng
không những ở Việt Nam mà trên toàn
thế giới.
Sản phẩm Coca Cola được rất nhiều
người ưa chuộng. Vậy điều gì ở Coca-
Cola đã thu hút người tiêu dùng? Người
tiêu dùng đã nghĩ gì về sản phẩm Coca-
Cola? Cảm nhận của người tiêu dùng
như thế nào khi sử dụng sản phẩm? Tất
cả những vấn đề này là lý do nhóm tiến
hành thực hiện đề tài để tìm hiểu.
Trong quá trình tìm hiểu nhóm cũng gặp
phải một số vấn đề khó khăn về tài liệu
tham khảo, về thời gian thực hiện đề tài,
và hạn chế về kiến thức,…Do đó bài làm
của nhóm khó tránh khỏi những sai sót.
Mong Cô và các bạn thông cảm đồng
thời đóng góp ý kiến để nhóm có thêm
kinh nghiệm cho những bài sau tốt hơn.
Nhóm thực hiện

Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
6
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
CHƢƠNG I:
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài:
Trong bối cảnh kinh tế thị trường và mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Ngoài
những dòng sản phẩm lâu đời đã đi sâu vào tiềm thức mỗi người, thì những dòng sản
phẩm mới nổi cũng đang phát triển rầm rộ như một hiện tượng.
Vậy vấn đề cần đặt ra ở đây là những dòng sản phẩm trước đây làm thế nào vẫn duy
trì được khách hàng của mình; cần phải biết cũng như nắm rõ được nhu cầu và thái độ
khách hàng khi sử dụng những sản phẩm đó là như thế nào? Vì vậy, nhóm đã quyết định
chọn một sản phẩm cụ thể đã có mặt trên thị trường để nghiên cứu và cụ thể là thực hiện
đề tài: “Nghiên cứu động thái của sinh viên Văn Lang về sản phẩm nước giải khát
Coca-Cola”.
2. Phát biểu vấn đề:
Trên thị trường xuất hiện ngày càng nhiều loại hàng hóa về sản phẩm nước giải khát.
Bên cạnh nước giải khát Coca-Cola khách hàng đã quá quen thuộc với một loại nước giải
khát có thương hiệu hàng đầu thế giới…thì ngày nay rất nhiều sản phẩm giải khát mới
được sản xuất và phân bổ rộng khắp thị trường với những mẫu mã đa dạng, bắt mắt cùng
nhiều mùi hương độc đáo (Fanta, Sting, 7up, O
o
,…). Chính vì vậy nên chúng ta cần phải
biết rõ hiện tại động thái của khách hàng về sản phẩm nước giải khát Coca-Cola là như
thế nào.
3. Mục đích nghiên cứu:
Tìm hiểu về các chiến lược Marketing (Marketing 4P) của nước giải khát Coca-Cola
ảnh hưởng đến thái độ và hành vi của khách hàng trong nhu cầu sử dụng nước giải khát
Coca-Cola nói chung mà cụ thể là đối với đối tượng là sinh viên trường Đại học Văn
Lang. Từ đó hiểu được tầm ảnh hưởng và mức độ hoạt động của thương hiệu Coca-Cola
trong sự cạnh tranh gay gắt giữa các dòng sản phẩm nước giải khát của những ông lớn
hiện nay.
Hiểu rõ hơn về một số vấn đề trong Hành vi người tiêu dùng đã được học.
4. Nhu cầu nghiên cứu:
Nhu cầu cá nhân: thực hành các bước cơ bản của quá trình thực hiện một đề tài
nghiên cứu khoa học. Nghiên cứu về hành vi người tiêu dùng cho một sản phẩm cụ thể.
Nhu cầu khoa học: Đáp ứng nhu cầu về phương pháp nghiên cứu, nội dung, hình thức,
đối tượng nghiên cứu…đảm bảo ý nghĩa về mặt khoa học cho bài nghiên cứu.
Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
7
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
Nhu cầu thực tế: Nghiên cứu về động thái của sinh viên Văn Lang về nước giải khát
Coca-Cola. Đánh giá được tầm quan trọng và mức độ ảnh hưởng của Coca-Cola đến
quyết định mua hàng của sinh viên trên thực tế. Từ đó làm cơ sở cho những cuộc nghiên
cứu và khảo sát sau này.
5. Tầm quan trọng của nghiên cứu:
Đánh giá tầm ảnh hưởng của sản phẩm Coca-Cola trong quyết định mua nước giải
khát của sinh viên Văn Lang.
Thấy được nhu cầu, động thái, quyết định mua của sinh viên qua sự đánh giá của sinh
viên Văn Lang về nước gải khát Coca-Cola.
6. Các mặt hạn chế của đề tài:
- Hạn chế về kinh nghiệm: tất cả thành viên trong nhóm đều là sinh viên khoa Thương
Mại, chuyên ngành Thương Mại Quốc Tế nên những kỹ năng, kiến thức về Marketing
cũng như về Hành vi người tiêu dùng còn rất nhiều hạn chế.
- Thời gian tiến hành: tương đối ngắn.
- Phạm vi nghiên cứu nhỏ (mẩu là sinh viên Văn Lang) nên lượng thông tin thu thập
được bị hạn hẹp, chỉ dừng lại ở mức độ khái quát, chứ chưa thực sự rõ ràng cụ thể.
- Thông tin nhận được từ các đáp viên có thể thiếu tính minh bạch do sự trả lời qua
loa, không thực sự chú tâm vào bảng khảo sát.
- Các thông tin thu thập được trên cơ sở những dữ liệu có sẵn, có nhiều ý có thể gây
sự trùng lặp hay có thể trái với những bài nghiên cứu trước nên khó có thể tránh khỏi
những sai sót nhỏ về nội dung hay sử dụng từ ngữ.
7. Giới thiệu các chƣơng kế tiếp của đề tài:
Chương 2: Cơ sở lý luận và các phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Tổng quan về đề tài
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Tóm lược, kết luận

Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
8
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
CHƢƠNG 2:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
I - Cơ sở lý luận:
1) Về Marketing:
a) Khái niệm về Marketing:
Marketing, hay còn gọi là tiếp thị trong tiếng Việt Nam là một khâu cơ bản và vô
cùng quan trọng trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Nó không chỉ hướng đến
nhu cầu cơ bản của khách hàng, cho các doanh nghiệp biết rõ thị trường hiện nay đang có
những nhu cầu gì mà còn cung cấp cho họ biết cách phải thỏa mãn nhu cầu đó của khách
hàng như thế nào để đạt được hiệu quả cao nhất, và có thể vượt qua được các đối thủ
cạnh tranh nhằm đem lại lợi nhuận tối đa.
Khi đề cập về Marketing, thì có rất nhiều định nghĩa được áp dụng như:
“Marketing được xem như một chức năng tổ chức và là một tiến trình bao gồm thiết
lập, trao đổi, truyền tải các giá trị đến khách hàng và quản lý quan hệ khách hàng bằng
những cách khác nhau để mang lại lợi ích cho tổ chức và các thành viên có liên quan đến
nó.” (American Marketing Association – AMA)
“Marketing là quá trình tổ chức và quản lý toàn bộ các hoạt động sản xuất, kinh
doanh bắt đầu từ việc phát hiện ra nhu cầu và ước muốn của khách hàng, sau đó biến
sức mua của họ thành nhu cầu thực sự về một mặt hàng cụ thể để sản xuất và chuyển
giao được đến tay người tiêu dùng, nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp thu được dự kiến
trong lúc khách hàng cũng đạt được sự thõa mãn hay vượt qua kỳ vọng.” (Viện
Marketing Anh Quốc – Bristish Marketing Institude)
Với những điều đã nêu trên, có thể thấy Marketing đã, đang và sẽ đóng góp một vai
trò then chốt trong quá trình hoạt động của mọi tổ chức và doanh nghiệp hiện nay. Do đó,
Marketing đã không còn đơn giản gói gọn trong một phòng ban cá biệt, hay nhập chung
vào các phòng chức năng khác như phòng tài chính, phòng kinh doanh,… mà nó đã trở
thành công việc chung của toàn bộ tổ chức.
Tuy nhiên cần phân biệt rõ, Tiếp Thị không có nghĩa là cố gắng bán hàng bằng nhiều
biện pháp như phát tờ rơi, liên lạc với khách hàng để chào mời sản phẩm mới.v.v. như
một số người vẫn lầm tưởng. Đó là một sai lầm, những công việc trên quả thực là một
phần của Marketing, nhưng chỉ là một phần nhỏ, là khâu cuối cùng, bề nổi của toàn bộ
tảng băng trôi. Marketing phải là nhiều hơn thế. Đó là hoạt động bắt đầu từ trước khi sản
phẩm có mặt, nhằm nghiên cứu các động thái của khách hàng , của thị trường để có được
câu trả lời cho câu hỏi “khách hàng cần cái gì và tổ chức cần làm gì để đáp ứng”.
Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
9
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
b) Chiến lƣợc Marketing:
Để hoạt động Marketing trở nên có hiệu quả, thì cần phải có một chiến lược
Marketing phù hợp. Chiến lược Marketng bao gồm tất cả các yếu tố như: xác định thị
trường, xác định khách hàng mục tiêu, định hướng phát triển sản phẩm, Marketing 4P,
kiểm tra và đánh giá tiến trình Marketing … chính những yếu tố này sẽ đóng vai trò
quyết định trong việc nghiên cứu và phát triển sản phẩm, phân phối sản phẩm tới tay
người tiêu dùng mục tiêu nhằm thu được lợi nhuận và mở rộng thị trường.
b.1 Xác định thị trƣờng:
Xác định thị trường là bước đầu tiên của quá trình Marketing, cần phải thực hiện
bước này trước khi sản xuất ra sản phẩm, nhằm chọn ra được những phân khúc khách
hàng phù hợp cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp. Một khi thị trường được xác định
rõ , người làm Marketing sẽ dễ dàng hơn rất nhiều trong việc định hướng phát triển sản
phẩm nhờ vào các thông tin thu thập được từ phân khúc thị trường đã được chọn.
b.2 Xác định khách hàng mục tiêu:
Bên cạnh việc xác định thị trường, xác định khách hàng mục tiêu là một trong những
bước cơ bản nhất của quá trình Marketing. Nó sẽ cung cấp cho doanh nghiệp những
thông tin cơ bản về khách hàng tiềm năng của mình như tuổi, giới tính, thu nhập bình
quân, các nhu cầu, thị hiếu của họ… Công việc này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết
để có thể sản xuất ra được sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng như màu sắc, kiểu
dáng,… cũng như xác định trước đầu ra cho những sản phẩm này.
b.3 Định hƣớng phát triển sản phẩm:
Định hướng phát triển sản phẩm là quá trình dựa vào những thông tin đã thu thập
được qua quá trình xác định phân khúc khách hàng và xác định thị trường mục tiêu để lên
kế hoạch thiết kế và sản xuất sản phẩm cho phù hợp, để có thể tạo được sự đồng điệu
giữa sản phẩm với khách hàng. Định hướng phát triển sản phẩm về màu sắc, kiểu dáng…
sẽ giúp cho sản phẩm có thể đáp ứng được tốt nhất những yêu cầu của thị trường và
khách hàng có thể nắm bắt được lợi thế so với những đối thủ cạnh tranh.
b.4 Marketing 4 P:
Product (sản phẩm)
Là yếu tố then chốt của bất kỳ một tiến trình Marketing nào, vì quá trình Marketing
được thực hiện nhằm cung cấp cho thị trường và khách hàng mục sản phẩm phù hợp nhất
với ước muốn và nhu cầu của họ.
Price (giá )
Yếu tố giá được xem xét và thiết lập sao cho nó luôn phù hợp với mức cung cầu thực
tế trên thị trường. Một mức giá tốt sẽ đảm bảo cho sự phát triển lâu dài của sản phẩm.
Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
10
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
Ngược lại, nếu đề ra một mức quá cao hoặc quá thấp so với chất lượng sản phẩm, khách
hàng có thể cảm thấy nghi ngờ về sản phẩm, điều này có thể làm giảm đi chu kỳ sống của
sản phẩm.
Promotion (chiêu thị)
Đây là cách truyền đạt tới cho những khách hàng mục tiêu sự hiện diện, thông tin về
chất lượng, giá cả, công nghệ sản xuất của sản phẩm. Chiêu thị cũng đóng vai trò nổi bật
lên sự vượt trội ở một khía cạnh nào đó của sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh làm lý do
để khách hàng mua sản phẩm . Tuy nhiên cần lưu ý tính chất con dao hai lưỡi của các
hoạt động của chiêu thị, vì chỉ một sai lầm nhỏ trong quá trình này cũng có thể làm cho
mức độ tiêu thụ sản phẩm giảm đi đáng kể và ngược lại.
Place (địa điểm)
Địa điểm là nơi sản phẩm được bán ra, là bước cuối cùng của quá trình Marketing khi
đưa sản phẩm tới tay khách hàng. Địa điểm cũng bao gồm hệ thống phân phối sản phẩm
và cách thức mà sản phẩm được bán ra. Một hệ thống phân phối sản phẩm tốt, một địa
điểm bán hàng thuận lợi và cách bán thông minh sẽ khiến cho sản phẩm được tiêu thụ
mạnh mẽ hơn.
2) Về hành vi ngƣời tiêu dùng:
a) Khái niệm:
Hành vi người tiêu dùng phản ánh tổng thể các quyết định của người tiêu dùng đối với
việc thu nhận, tiêu dùng, loại bỏ hàng hóa, bao gồm sản phẩm, dịch vụ, hoạt động và ý
tưởng, bởi các đơn vị ra quyết định (con người) theo thời gian.
b) Các quyết định quan trọng của ngƣời tiêu dùng:
Thu nhận: là tiến trình người tiêu dùng thu nhận một hàng hóa, trong đó mua hàng chỉ là
một cách thể hiện của hành vi thu nhận, thu nhận gồm nhiều cách khác nhau
để có được sản phẩm và dịch vụ mong muốn như mua, mượn, thuê, trao đổi,
nhận quà…
Sử dụng: là tiến trình người tiêu dùng sử dụng một hàng hóa, sau khi người tiêu dùng thu
nhận một sản phẩm hoặc dịch vụ, họ sẽ sử dụng nó theo những cách khác
nhau. Nó được đánh giá là yếu tố then chốt của hành vi người tiêu dùng vì hai
lý do đó là việc sử dụng thể hiện những biểu tượng quan trọng đối với người
tiêu dùng và hành vi sử dụng cũng có tác động đến các hành vi khác .
Loại bỏ: là tiến trình người tiêu dùng vứt bỏ một hàng hóa, hành vi người tiêu dùng xem
xét đến việc loại bỏ, nghiên cứu cách thức mà người tiêu dùng vứt bỏ một hàng
Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
11
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
hóa đã có ở trước đây. Hành vi loại bỏ có thể có những ứng dụng rất quan trọng
đối với người làm thị trường.
c) Các nhân tố tâm lý cốt lõi:
- Động cơ: là một trạng thái kích hoạt nội tại khơi dậy sinh lực hành động nhằm đạt
được mục đích.
- Khả năng: là mức độ ở đó người tiêu dùng có các nguồn lực cần thiết cho hành động
nhằm đạt được kết quả.
- Cơ hội: là biến số trung gian cuối cùng điều chỉnh ảnh hưởng của động cơ đến hành
động.
- Nhận thức là tiến trình qua đó cá nhân ý thức về thế giới xung quanh thông qua các
giác quan và cung cấp ý nghĩa cho thế giới này.
Quá trình nhận thức gồm có ba bước:
+ Tiếp xúc: sự tiếp xúc phản ánh tiến trình qua đó người tiêu dùng tiếp xúc vật lý với
tác nhân nằm trong vùng cảm thụ giác quan của người tiêu dùng.
+ Chú ý: tiến trình qua đó cá nhân phân bổ một phần hoạt động trí óc của mình cho
một tác nhân.
+ Hiểu: việc gắn liền ý nghĩa cho các tác nhân theo suy nghĩ và tình cảm cá nhân.
- Ghi nhớ: quá trình mà chúng ta lưu lại những dấu ấn đối với một sự vật, hiện tượng
mà chúng ta ấn tượng với nó.
- Nhớ lại: liên quan đến sự kích hoạt rộng hơn về những đường kết nối trong trí nhớ.
- Thái độ: xu hướng đánh giá nhất quán theo hướng có lợi hay bất lợi cho một sự vật
hay hiện tượng nào đó.
Những nhân tố hình thành nên thái độ:
+ Nhận thức: niềm tin, kiến thức của một người về một sự vật, hiện tượng nào đó.
+ Cảm xúc: đánh giá của một người về sự vật, hiện tượng.
+ Hành vi: phản ứng, khuynh hướng hành động của một người.
Thay đổi thái độ:
+ Thay đổi hành vi: áp dụng lý thuyết điều kiện hoạt động
+ Thay đổi cảm xúc: áp dụng lý thuyết cổ điển và chương trình quảng cáo.
+ Thay đổi nhận thức: thay đổi niềm tin và thay đổi quan điểm.
d) Các nhân tố bên ngoài:
- Ảnh hưởng của văn hóa vùng, dân tộc và tôn giáo
- Ảnh hưởng của giai cấp xã hội, tuổi tác, giới tính và hộ gia đình
- Ảnh hưởng của truyền thông xã hội
Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
12
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
- Ảnh hưởng của tâm lý hình (giá trị, tính cách, lối sống)
II - Phƣơng pháp nghiên cứu:
1. Phƣơng pháp nghiên cứu:
- Nghiên cứu tại bàn
- Nghiên cứu thống kê để xử lý thông tin
- Phương pháp tổng hợp để tổng hợp kết quả
2. Cách thức triển khai:
- Thu thập các thông tin sơ cấp để triển khai lập dàn ý đề cương
- Hoàn tất nội dung lý thuyết theo dàn ý
- Tổ chức khảo sát các bạn sinh viên trường đại học Văn Lang
- Tổng số mẫu là 100 bản, số mẫu hợp lệ là 100.
- Phân tích và xử lí số liệu bằng phần mềm SPSS từ đó dựa vào kết quả để hoàn thành
các chương còn lại
- Kiểm tra và hoàn tất để báo cáo tổng kết

Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
13
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
CHƢƠNG III
TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI
I - Tổng quan về thị trƣờng nƣớc giải khát ở Việt Nam hiện nay
Ngành nước giải khát Việt Nam được đánh giá là một ngành có tốc độ tăng trưởng cao
bất chấp cơn khủng hoảng kinh tế thế giới. Nhiều nhãn hiệu nước giải khát có doanh thu
tăng tới 800%/năm. Với 2 tỷ lít nước giải khát đạt được trong năm 2010, bình quân đầu
người Việt Nam tiêu thụ hơn 23 lít.
Trên thế giới, nước giải khát được chia ra thành các loại: nước giải khát có gas, nước giải
khát không có gas, nước giải khát pha chế từ hương liệu, chất tạo màu, nước giải khát từ
trái cây, nước giải khát từ thảo mộc, nước giải khát vitamin và khoáng chất, nước tinh
khiết, nước khoáng
Hiện nay trên thị trường Việt Nam có khoảng 300 loại nước giải khát các loại, mỗi loại
đều đánh vào những thị hiếu khác nhau như giải nhiệt, đẹp da, giảm béo, chữa bệnh
Trước đây thị trường nước giải khát ở nước ta đa phần là sản phẩm nước uống có gas, rất
ít những sản phẩm chiết xuất từ trái cây và không có gas. Nhưng mấy năm gần đây do xu
hướng người tiêu dùng ưa chuộng các sản phẩm nước không gas, đang quan tâm nhiều
đến các sản phẩm làm từ thiên nhiên và trái cây nhiều hơn. Họ quan niệm nước hoa quả
không chỉ mang tính giải khát mà còn rất bổ dưỡng, nhiều vitamin, tốt cho cơ thể, nên
doanh nghiệp kinh doanh nước giải khát đã mạnh dạn đầu tư dây chuyền mới để tung ra
hàng loạt sản phẩm theo nhu cầu của khách hàng. Đó là nguyên nhân tại sao trong những
năm gần đây xu thế chung của thị trường nước giải khát là sự sụt giảm mạnh mẽ của
nước giải khát có gas và sự tăng trưởng của các loại nước không có gas. Theo giới kinh
doanh, sự chuyển dịch tiêu dùng sang lựa chọn nước giải khát không gas (nước uống trái
cây và nước tinh khiết) cho thấy người tiêu dùng ngày càng cẩn trọng hơn trong việc bảo
đảm sức khỏe của mình. Bên cạnh đó, người tiêu dùng đang có xu hướng chú trọng nhiều
hơn đến sản phẩm thiên nhiên. Xu hướng này thể hiện rõ khi khảo sát sự mua sắm qua
các siêu thị. Theo thống kê trong hệ thống 13 siêu thị Coop Mart cho thấy cứ 10 người
chọn mua nước giải khát hiện nay thì có 6 người mua các loại nước không gas, cụ thể là
sữa tươi, nước trái cây, nước khoáng. Tuy nhiên do trái cây tại Việt có sản lượng và chất
lượng không ổn định nên sản lượng nước giải khát từ trái cây hàng năm rất thấp.
Đến nay, có hơn 100 loại nước giải khát không gas (không kể nước uống đóng chai, nước
khoáng), được khai thác từ nhiên liệu thiên nhiên như củ, quả, các loại trà thảo mộc.
Riêng một khảo sát của Hiệp hội Bia Rượu Nước giải khát Việt Nam mới đây cho rằng:
chiếm lĩnh thị trường nước giải khát có gas hiện nay vẫn là hai đại gia Coca-Cola và
Pepsi Cola. Tuy nhiên, gần đây, những thương hiệu nước không gas mới xuất hiện của
Đề Tài
Nghiên Cứu Động Thái Của Sinh Viên Văn Lang Về Coca-Cola

NHÓM SVTH: THE FRIENDS
14
GVHD: Th.S LƢU THỊ BÍCH VÂN
Tân Hiệp Phát, Tribeco, Bidrico, Wonderfarm đã làm thay đổi tình hình, có khả năng
làm giảm tỷ trọng đáng kể nước giải khát có gas.
II - Giới thiệu về công ty Coca Cola
1. Sơ lƣợc hình thành
Vào năm 1886, lần đầu tiên Coca-Cola được giới thiệu đến công chúng đã thật sự thu hút
được sự chú ý của hấu hết những người thưởng thức bởi hương thơm và màu sắc hấp dẫn.
Coca Cola là công ty sản xuất nước giải khát có gas số một thế giới. Ngày nay, tên nước
giải khát Coca Cola gần như được coi là một biểu tượng của nước Mỹ, không chỉ ở Mỹ
mà hầu như ở 200 nước trên thế giới. Công ty phấn đấu làm “tươi mới” thị trường, làm
phong phú nơi làm việc, bảo vệ môi trường và củng cố truyền thông công chúng.
 Trên thế giới, Coca-Cola hoạt động tại 5 vùng: Bắc Mỹ, Mỹ Latinh, Châu Âu, Âu Á
& Trung Đông, Châu Á, Châu Phi
 Ở Châu Á, Coca-Cola hoạt động tại 6 khu vực:
1.Trung Quốc
2. Ấn Độ
3. Nhật Bản
4. Philipin
5. Nam Thái Bình Dương & Hàn Quốc (Úc, Indonesia, Hàn Quốc & New Zealand)
6. Khu vực phía Tây và Đông Nam Châu Á (SEWA)
Các nhãn hiệu Coca Cola trên thị trường hiện nay:

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét