Thứ Hai, 17 tháng 2, 2014

VỐN XÃ HỘI VÀ KINH TẾ


THỜI ÐẠI số 8

86
trong một gia đình bình dân). Nên để ý rằng, theo Bourdieu, cá
nhân có thể nổ lực tích lũy vốn kinh tế và vốn văn hoá, song không
ai có thể tự mình gây dựng vốn xã hội. Chính những trở ngại mà
người thiếu vốn xã hội khó khắc phục là lý do khiến chênh lệch
trong xã hội luôn tồn tại.

Bài bác thuyết "vốn con người":
Theo Bourdieu, khi phân tích
mối liên hệ giữa trình độ học vấn (academic ability) và mức đầu tư
vào việc học (academic investment), những người thuộc phái "vốn
con người" (dẫn đầu là Gary Becker (1964)), đã không thấy rằng
chính khả năng hoặc tài cán là sản phẩm của một sự đầu tư thời giờ
và vốn xã hội. Hãy lấy chênh lệch về thành công học vấn làm ví dụ.
Theo Bourdieu, lối giải thích thông thường cho rằng người này
thành công hơn người kia chỉ là vì (1) người ấy thông minh hơn, (2)
siêng năng đèn sách hơn. Nói cách khác, đó là do tài năng bẩm sinh
và vốn con người. Song, Bourdieu khẳng định, khi đánh giá sự
thành công này thì các nhà kinh tế đã phạm một lỗi lầm, đó là chỉ
dùng đồng tiền làm thước đo lợi ích và phí tổn.
5
Theo Bourdieu,
những nhà kinh tế như Becker đã không thấy rằng mỗi người có cơ
may thu nhập khác nhau, trong những thị trường khác nhau, tùy
thuộc mức độ và thành phần của tất cả những gì họ sở hữu, trong
đó liên hệ xã hội là phần chính. Như vậy, theo Bourdieu, nếu không
xét đến tất cả những gì (nhất là những liên hệ xã hội) mà mỗi người
đang có, thì không thể giải thích sự chênh lệch trong mức độ đầu tư
vào "vốn con người" trong xã hội.
6


B. JAMES COLEMAN
Ở Mỹ, ý niệm vốn xã hội đã xuất hiện trễ nhất là cũng từ năm
1977 (Glen Loury). Nó thật sự thu hút sự chú ý của nhiều tác giả
sau một bài của nhà xã hội học James Coleman (1988), trong đó
Coleman phân tích tính quan trọng của "vốn xã hội trong sự hình
thành vốn con người". Ngay trong tựa bài, ta đã thấy khởi điểm của
Coleman hoàn toàn đối nghịch với Bourdieu (dù lúc ấy dường như
Coleman không biết về Bourdieu). Coleman chấp nhận vốn con
người là quan trọng và coi vốn xã hội luôn luôn là có ích vì nó đóng
góp vào sự hình thành của vốn con người.

Trần Hữu Dũng, Vốn xã hội và kinh tế


87
Coleman phân biệt ba loại vốn: vốn vật thể là kết quả của những
biến đổi vật thể tạo thành công cụ sản xuất, vốn con người là kết
quả những biến đổi trong con người cấu thành tài nghệ và khả
năng thao tác, và vốn xã hội.
7

Theo Coleman, "vốn xã hội" có ba đặc tính
:
Thứ nhất, nó tùy
thuộc vào mức độ tin cậy nhau của người trong xã hội. Nói cách
khác, nó tùy thuộc vào nghĩa vụ mà mỗi người tự ý thức, và kỳ
vọng của người này ở người khác. Thứ hai, nó có giá trị gói ghém
các liên hệ xã hội, và các liên hệ này mang đặc tính của
kênh truyền
thông
. Nói rõ hơn: qua tiếp xúc với hàng xóm, bạn bè, mỗi người
có thể thu thập nhiều thông tin hữu ích cho cuộc sống, thay thế
phần nào những thông tin trong sách báo, truyền thanh, truyền
hình. Thứ ba, vốn xã hội càng lớn khi xã hội càng có nhiều quy tắc
(norms), nhất là những quy tắc có kèm trừng phạt (norms
accompanied by sanctions)
Ðặc biệt, Coleman phân biệt vốn xã hội trong gia đình và vốn xã
hội trong cộng đồng. Trong mỗi gia đình, con cái có thể lĩnh hội
vốn tài chính, vốn con người, và
vốn xã hội trong gia đình
. Vốn tài
chính là do của cải và thu nhập gia đình. Loại vốn này là một nguồn
lực vật chất cho các em: sách vở cần thiết, chỗ ngồi học thoải mái,
và tiền bạc để ứng phó những nhu cầu hàng ngày. Vốn con người là
phản ảnh trình độ văn hoá của cha mẹ, cho con cái một không khí
tri thức kích thích óc tò mò, ham hiểu biết. Vốn xã hội (trong gia
đình) thì khác, nó tùy thuộc vào mức quan tâm, thời giờ mà cha mẹ
dành cho con cái trong những sinh hoạt trí tuệ. Một gia đình dù
giàu có (vốn tài chính sung túc), cha mẹ có học vấn cao (vốn con
người nhiều), nhưng nếu thờ ơ với con cái (vì quá bận mưu sinh
chẳng hạn) thì sẽ nghèo vốn xã hội trong gia đình. Nói gọn, vốn xã
hội trong gia đình tùy thuộc vào sự có mặt của phụ huynh, và sự
quan tâm của họ đến con cái.
Vốn xã hội trong cộng đồng
cũng có một ảnh hưởng quan trọng
trong sự phát triển của các em. Vốn này ẩn chứa trong liên lạc xã
hội giữa các phụ huynh, và giữa phụ huynh và các thể chế cộng
đồng. Ví dụ, nếu cha mẹ học sinh không biết nhau, hoặc nếu gia

THỜI ÐẠI số 8

88
đình các em thường thay đổi chỗ ở, thì sẽ khó giúp nhau theo dõi
sự học hành, sinh hoạt của con em, và vốn xã hội vì thế sẽ yếu đi.
Coleman so sánh vốn xã hội và hai loại vốn kia

(vật thể và con
người). Ông cho rằng cả ba giống nhau ở chỗ (a) đều cần thiết cho
sản xuất, (b) không phải luôn luôn dễ thuyên chuyển từ hoạt động
này sang hoạt động khác, mà có thể chỉ chuyên biệt ở một hoạt
động nhất định, (c) mỗi loại có thể hữu ích cho hoạt động này, có
hại cho hoạt động khác. Song, vốn xã hội cũng có nhiều dị biệt so
với hai loại vốn kia. Một là, nó thành hình qua những thay đổi trong
liên hệ giữa người và người cụ thể là những liên hệ dễ dàng hoá
hành động. Hai là, vốn vật thể thì có thể hoàn toàn hữu hình bởi nó
nằm trong những hình thức vật thể trước mắt; vốn con người thì
khó thấy hơn, vì nó ẩn chứa trong kỹ năng và tri thức của cá nhân;
vốn xã hội thì khó thấy nhất, bởi nó tiềm tàng trong liên hệ giữa con
người.
Theo Coleman, vốn xã hội có tính chất của loại "hàng hoá công"
("public goods") và do đó mức độ đầu tư của cá nhân vào nó sẽ ở
dưới mức tối hảo vì những lý do đặc thù của loại hàng này ("cha
chung không ai khóc").
C. ROBERT PUTNAM
Nãm 1995, nhà chính trị học người Mỹ Robert Putnam đăng một
bài nghiên cứu tương đối ngắn, song có nhiều phát giác mới lạ và
quan trọng. Ông ta khẳng định rằng, ở Mỹ, mức độ tham gia vào
các sinh hoạt tập thể đã giảm sút rõ rệt trong vài thập kỷ vừa qua.
Putnam đưa ra những dữ kiện thống kê theo đó dân Mỹ ngày càng
• thích hoạt đông riêng lẻ thay vì cùng nhóm: chơi "bowling"
một mình,
8

đi ăn một mình, ngồi xem TV một mình;
• ít tham gia vào các hoạt động công dân: tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu
ngày càng giảm, hoạt động các hội đoàn ngày càng yếu và càng
thưa người tham dự;
• ít tham dự vào các tổ chức tôn giáo, ít đóng góp cho các tổ chức
từ thiện;
• dành ít thì giờ giao thiệp xã hội: hàng xóm ít tin cẩn nhau,
người lái xe trên xa lộ ngày càng cộc cằn, kém lễ độ, luật sư thì càng
ngày lại càng đông, v.v

Trần Hữu Dũng, Vốn xã hội và kinh tế


89
Putnam đưa ra nhiều lý do để giải thích sự xuống dốc "cộng
đồng tính" này :
• Quan trọng nhất là sự khác biệt giữa các thế hệ
• Các đổi thay trong thị trường lao động và dân số nói chung:
phụ nữ đi làm ngày càng nhiều, mức di dời của lao động ngày càng
cao, ngày càng mất nhiều thời giờ đi từ nhà đến sở; ít hôn nhân,
nhiều ly dị, gia đình ít con cái hơn
• Các biến đổi trong công nghệ thư giản, chẳng hạn như xem
TV quá nhiều
9
.

Putnam dùng cụm từ "vốn xã hội" với nghĩa giống như
Coleman, tức là những mạng lưới xã hội và những liên hệ qua lại
trong xã hội (social reciprocities), những quy tắc (norms) cho phép
cá nhân (cũng như tập thể) giải quyết những vấn đề chung của
cộng đồng. Theo Putnam, TV, Internet và các công nghệ tân thời đã
làm cuộc sống quá bương bả, đến độ con người hiện đại không còn
"đầu tư" vào "vốn xã hội" như qua sinh hoạt hội đoàn và các tổ chức
tương tự. Những tập họp này là cần thiết cho sự tin cẩn và tương
trợ lẫn nhau trong xã hội.
Âu lo lớn nhất của Putnam là sự suy giảm "vốn xã hội" này sẽ
(a) làm lung lay các thể chế dân chủ, (b) làm cho học đường kém
hữu hiệu, và (c) làm yếu đi những lực bảo vệ tính lành mạnh và
hạnh phúc của cộng đồng nói chung.
D. FRANCIS FUKUYAMA
Francis Fukuyama là một nhà chính trị học (gốc Nhật) người Mỹ
nổi tiếng từ năm 1992 qua luận đề "Ðiểm Tận của Lịch Sử"
10
(The
End of History). Qua quyển "Tin Cẩn" (Trust, 1995) và một loạt bài
báo liên quan, Fukuyama đã phân tích ý niệm "vốn xã hội" và (điều
này là mới) dùng nó như một tiêu chí chủ chốt để so sánh cơ cấu
kinh tế và xã hội các nước.
Ði xa hơn Coleman, Fukuyama cho rằng vốn con người và vốn
xã hội có ảnh hưởng lẫn nhau.
11
Cụ thể, theo ông, vốn con người có
thể làm tăng vốn xã hội (người có học sẽ ý thức hơn tầm quan trọng
của việc quan tâm đến con cái, và ngược lại, khi con cái được quan
tâm thì chúng sẽ cố gắng học hành, trau giồi vốn con người). Song

THỜI ÐẠI số 8

90
Fukuyama đưa thêm nhận định: không phải loại vốn nào cũng là
đáng có. Vốn xã hội có thể tiêu cực (Ku Klux Klan, Mafia), vốn vật thể
có thể tiêu cực (vũ khí để làm tội ác), vốn con người có thể tiêu cực
(trí tuệ dùng để nghĩ ra phương pháp hành hạ, tra tấn, chí đến diệt
chủng).
"Tin cẩn" có thể được hiểu như sự chấp nhận đặt phúc lợi của
mình trong tay người khác. Fukuyama nói thẳng: "Chất lượng đời
sống, cũng như khả năng cạnh tranh của một quốc gia, tuỳ thuộc
vào một đặc tính văn hoá độc đáo lan toả trong quốc gia ấy, đó là
mức độ tin cẩn trong xã hội ". Ðể minh chứng, Fukuyama cho rằng
Trung Quốc, Pháp, Ý, vì có mức tin cẩn thấp, đã mất thế cạnh tranh
đối với Mỹ, Ðức, Nhật, là những nước có mức tin cẩn cao. Trong
một xã hội thiếu tin cẩn, kinh doanh thường hạn chế trong phạm vi
gia đình, không có nhiều đại công ty (nếu không được nhà nước tổ
chức, hoặc giúp đỡ). Xí nghiệp sẽ dễ bành trướng hơn trong một xã
hội nhiều tin cẩn.
E. HERNANDO DE SOTO
Hernando de Soto

cũng là một tác giả cần nói đến trong các suy
nghĩ về liên hệ giữa thể chế và vốn. Cụ thể, ông đề cập đến "vốn xã
hội" trong khi phân tích các yếu tố ngoại kinh tế trong tiến trình
phát triển.
De Soto bắt đầu với khẳng định rằng kinh tế tư bản là nền kinh
tế thành công nhất trong lịch sử loài người, rồi đặt câu hỏi: thế thì
tại sao kinh tế tư bản lại chỉ thành công ở các nước phương Tây và
thất bại ở hầu hết mọi nơi khác ? Ông trả lời: Các nước thất bại
không phải vì kém vốn hay ít tài sản. Trên thực tế thì hầu như mọi
người đều đang sử dụng một số tài sản (đất đai, cửa hàng kinh
doanh ). Lý do gốc của tình trạng chậm tiến là sự vắng thiếu một
khung luật pháp để đăng ký các tài sản ấy, để chứng nhận quyền sở
hữu (gọi tắt là "sở hữu hoá") của người đang "có" chúng. Chừng
nào còn chưa được sở hữu hóa thì giá trị của những tài sản ấy sẽ là
rất thấp vì chúng không thể được bán hoặc chuyển nhượng, và do
đó người đang sử dụng không thể dùng các tài sản ấy vào những
kinh doanh khác.

Trần Hữu Dũng, Vốn xã hội và kinh tế


91
Ði vào chi tiết hơn, De Soto nhắc lại một hiện tương kinh tế căn
bản, đó là trong đa số các thị trường chủ yếu (đất đai, các món hàng
giá cao cần trả góp, cần bảo đảm ), người mua hoặc người bán
(hoặc cả hai) cần biết tông tích của đối tác chính xác hơn, họ cần
biết khả năng thực thi cam kết (như trả góp, hoặc giao hàng sau)
của đối tác. Trong kinh tế học, những thị trường này được gọi là
"không nặc danh" (non-anonymous). Trái lại, các thị trường kiểu
"tiền trao cháo múc", không ai cần biết ai khi mua bán, là những thị
trường nặc danh (anonymous).
Theo De Soto, hệ thống đăng ký tài sản cho phép những người
tham dự thị trường (không nặc danh) có những thông tin cần thiết
về đối tác để đánh giá khả năng thực thi cam kết của đối tác ấy. Tôi
chẳng hề biết anh, nhưng nếu nhà nước có hệ thống đăng ký thì tôi
có thể kiểm định xem anh có bất động sản, có ô tô, hoặc những tài
sản nào khác chăng. Tôi cũng có thể tìm biết anh đã có dùng những
tài sản đó làm thế chấp trong những vụ buôn bán nào khác của anh
hay không. Hơn nữa, trong chừng mực luật định, nhà nước có thể
tước quyền sở hữu của anh nếu anh không thi hành cam kết của
anh với tôi. Và, nhờ tất cả những điều đó, tôi sẳn sàng buôn bán
làm ăn lâu dài với anh.
Như vậy, hệ thống luật pháp chính thức công nhận tài sản "giúp
khai trừ tính nặc danh khỏi các thị trường nặc danh" (help take the
anonymy out of anonymous markets), giúp các thị trường này vận
hành nhuần nhuyễn. Theo De Soto, đó chính là bí quyết của phát
triển. Nói cách khác, sự thành công của các quốc gia tiền tiến không
là do số lượng vốn dồi dào, nhưng là nhờ một hệ thống luật pháp
và thông tin đầy đủ để mọi người có thể sử dụng toàn bộ những gì
mà họ thật sự "có" vào các hoạt động buôn đi bán lại trên thị
trường. Thiếu bằng chứng sở hữu, người đang "có" tài sản không
thể sử dụng nó trong giao dịch với đối tác không quen biết, và do
đó không thể tận khai thác giá trị của tài sản ấy.
De Soto kết luận: muốn phát triển kinh tế thì không khó, chỉ cần
cho người nghèo tấm bằng chứng quyền sở hữu là tất nhiên họ sẽ
có vốn làm ăn, đem lại thịnh vượng cho tất cả. Nói cách khác, theo

THỜI ÐẠI số 8

92
De Soto, điều trở ngại trong phát triển không phải là văn hóa, xã
hội, hay tôn giáo, mà là thể chế luật pháp.
Song nhìn kỹ thì tiếp cận của De Soto, trong chừng mực nhất
định, xuất phát từ một nhận xét khá giống những tác giả về "vốn xã
hội" đã nói ở trên: bởi lẽ, việc thiếu thốn thông tin để bảo đảm cam
kết có thể được bù đắp phần nào bằng mạng lưới tin cẩn giữa các
đối tác trong giao dịch liên hệ. Nói cách khác, phân tích của De Soto
(theo đó căn bản pháp lý là cần thiết để "gỡ trói" cho vốn) xây dựng
trên khẳng định về sự quan yếu của một cơ sở thông tin trong việc
thực hiện cam kết khế ước, cung cấp dữ kiện cho những người giao
dịch.
Nhìn qua lăng kính "vốn", De Soto cho rằng các nước chậm tiến
không phải do thiếu loại đầu vào (input) quan yếu này, mà vì thiếu
một hệ thống pháp lý (nhằm "chính thức hoá" quyền sở hữu) để
"giải đông" vốn đang có. Theo ông, "vốn" không thể là vốn nếu
không mua đi bán lại được. Chính cái vốn xã hội giúp cởi trói cho vốn
vật thể.
II. Phê bình các tác giả
Hiển nhiên là ý niệm "vốn xã hội" lược duyệt trên đây có hơi
hướng của tiếp cận thể chế trong vấn đề phát triển, nhất là ở một
quốc gia cổ truyền mà thể chế văn hoá có lúc (hoặc theo vài tác giả)
là vật cản, có lúc (hoặc theo nhiều tác giả khác) là lực đẩy, trong tiến
hoá kinh tế xã hội
Xem
Bourdieu
chẳng hạn, rõ ràng là những nhận định của ông
có ý nghĩa vì nó chỉ rõ sự khó khăn của một người muốn vượt khỏi
mạng lưới (nếu không muốn nói là giai cấp) của mình. Dù cố gắng
tận lực, sự thành công của anh ta chỉ đến mức độ nào mà thôi nếu
anh thiếu quen biết, không có mạng lưới xã hội giúp đỡ. Nói cách
khác, đóng góp quan trọng của lý thuyết Bourdieu là chỗ nó cho
thấy vốn kinh tế (vật thể, và nhất là con người) không phải là thứ
vốn duy nhất (nếu ta vẫn theo tiếp cận cho "vốn" là một thành tố
thiết yếu của phát triển). Những liên hệ xã hội đượm tính giai cấp
(không nhất thiết là giai cấp theo kiểu Marx), và lộ trình lịch sử, tạo
một thứ vốn, đó là vốn văn hoá.

Trần Hữu Dũng, Vốn xã hội và kinh tế


93
Ðằng khác, những phê phán của Bourdieu về học phái "vốn con
người" thật sự là không công bằng. Ông gay gắt chỉ trích bài viết
đầu tiên của Becker (1964), nhưng từ đó đến nay (ngay cho đến
năm 1983 là khi Bourdieu phát biểu chỉ trích) lý thuyết vốn con
người đã được hiệu chỉnh, mở rộng rất nhiều. Ðặc biệt, nó đã được
hội nhập với thuyết về ngoại ứng mạng (network externalities) và
do đó có thể dùng để nghiên cứu, như Bourdieu mong muốn,
những mạng lưới xã hội trong vấn đề đầu tư vào vốn con người.
12

Bourdieu không đề nghị phân tích sâu hơn về vốn xã hội theo
tiếp cận kinh tế, song cách định nghĩa của ông có thể được lồng
ghép một cách dễ dàng vào các mô hình giải thích ứng xử kinh tế
theo phái kinh tế tân cổ điển mở rộng. Cách nhìn này xem vốn xã
hội như thuộc tính của từng cá nhân một thuộc tính không thể
đánh giá nếu không hiểu rõ môi trường xã hội của cá nhân ấy. Mức
độ mà một cá nhân sử dụng tài nguyên qua vốn xã hội là tùy thuộc
vào những móc nối của người ấy (quen biết ai, kể cả những móc nối
có được trong cương vị thành viên của một nhóm).
Coleman
cũng có nhiều ý kiến hữu ích, nhất là khi ông ta nhấn
mạnh đến vai trò của gia đình trong sự thành công (về giáo dục)
của con cái. Bỏ tiền cho con cái ăn học là tốt, nhưng chưa đủ, còn
cần cha mẹ làm gương, gia đình và hàng xóm quan tâm. Song với
cái cảnh đầu tắt mặt tối hiện nay, những đóng góp này ngày càng
yếu.
So với Bourdieu thì Coleman cụ thể hơn, song tầm nhìn không
rộng bằng. Ðặc điểm của Coleman là ở chỗ ông vạch rõ sự quan
trọng của vốn xã hội (nhất là vốn xã hội trong gia đình) trong việc
tạo lập vốn con người, và qua đó trong phúc lợi xã hội và phát triển
kinh tế. Ðóng góp quan trọng nhất của Coleman là dọn đường cho
Putnam và Fukuyama.
Putnam
là người "có công" hơn cả trong sự phổ cập ý niệm vốn
xã hội. Lượng dữ kiện của ông đưa ra để dẫn chứng là khổng lồ,
phát hiện những xu thế quan trọng cần lý giải. Ông cho thấy sự tiến
hoá kinh tế (của "văn minh hiện đại", của cơ chế thị trường), đã xói
mòn những "đức tính công dân" và gián tiếp làm suy nhược chất
lượng đời sống, loang lổ cơ sở dân chủ.

THỜI ÐẠI số 8

94
Nếu Bourdieu bi quan về triển vọng tiến thân (lên một địa vị xã
hội cao hơn) của một người bị mắc lầy trong giai cấp xã hội của họ
thì Putnam bi quan về đường hướng tiến triển của xã hội Mỹ (có
thể hiểu rộng là xã hội công nghiệp kiểu tây phương). Nhưng
không như những tác giả khác, Putnam lại lạc quan cho rằng chúng
ta (qua nhà nước) có thể có những biện pháp để phục hồi cái vốn xã
hội đó.
Tuy nhiên, Putnam đã bị chỉ trích trên nhiều điểm:
(a) Ông ta lẫn lộn nguyên nhân và hậu quả: chẳng hạn khi cho
rằng sự suy giảm các hoạt động tập thể là gây hậu quả tiêu cực
(giảm vốn xã hội). Lý luận này luẩn quẩn: cái gì tích cực là do nhiều
vốn xã hội, cái gì tiêu cực là do ít vốn xã hội. Nhưng sự thật có thể
là ngược lại: chính cái tích cực đã tạo nên vốn xã hội, những cái tiêu
cực đã làm suy giảm vốn ấy.
(b) Ðiều mà Putnam không chú ý là một khuynh hướng có thể
có nhiều nguyên nhân, và hơn nữa, những nguyên nhân này có thể
ít liên hệ với nhau. Chẳng hạn như khó có thể xem sự suy giảm của
công đoàn có cùng nguyên nhân với tình trạng ngày càng thưa thớt
các hiệp hội người trồng hoa.
(c) Ông ta coi nhẹ những khuynh hướng ngược lại (ví dụ như
các hội bóng đá thiếu niên ở Mỹ ngày càng phổ thông), và ông coi
nhẹ những hội đoàn xuất phát từ những giao tiếp nơi làm việc.
Tương tự, nhiều người (như Garry Wills) đã chỉ trích Putnam, cho
rằng Putnam đã không thấy rằng trong lúc những hội đoàn kiểu cũ
tan rã thì cũng có những hội đoàn mới mọc ra. Internet không làm
mọi người xa nhau, mà đem nhiều người gần lại.
13
Về ảnh hưởng
"tai hại" của TV trên vốn xã hội thì có người
14
phản biện: thế thì tại
sao ở Nhật Bản là quốc gia xem TV nhiều hơn cả Mỹ vốn xã hội
(theo nghĩa của Putnam) vẫn còn cao ?
Nói cách khác, không phải là chúng ta mất vốn xã hội (theo
nghĩa của Putnam), nhưng vốn xã hội không ngừng đổi dạng. Câu
hỏi là: "lòng tin cẩn" có phải là kết quả của một truyền thống lâu
đời, hay chỉ cần một môi trường thể chế thích hợp là có thể tạo
dựng ngay trong vòng một thế hệ ?

Trần Hữu Dũng, Vốn xã hội và kinh tế


95
Về căn bản thì
Fukuyama
khá giống Putnam, dù ông không
nhấn mạnh đến chiều hướng suy thoái.
15
Ông cũng công nhận rằng
không phải vốn xã hội nào cũng đáng có. Ðặc điểm của Fukuyama
là sự chú ý đến mối liên hệ qua lại bốn phía giữa vốn xã hội, thể chế
chính trị, cơ cấu công nghiệp, và lợi thế cạnh tranh của quốc gia.
Theo Fukuyama, mức độ "tin cẩn" tùy thuộc vào môi trường thể
chế. Không ai có thể phủ nhận điều này. Song sự tùy thuộc đó ra
sao thì có nhiều ý kiến trái ngược. Lấy trường hợp Nhật làm ví dụ.
Fukuyama cho rằng người Nhật rất tin cẩn nhau, vì những đặc tính
nội tại của xã hội đó, và nhờ thế mà Nhật có nhiều thành công kinh
tế. Song Toshio Yamagishi (căn cứ vào dữ kiện thăm dò ý kiến) thì
lại phát hiện rằng người Nhật chỉ tin cẩn nhau khi có thể kiểm tra
nhau (mutual monitoring) và trừng phạt nhau (mutual sanctions)
nghĩa là không thật là tin cẩn vô điều kiện như Fukuyama ám chỉ.
Những nghiên cứu của Solow, Johnson-McMillan-Woodruff cũng
có kết luận khác Fukuyama về mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế
và mức độ tin cẩn.
16

Khi so sánh Bourdieu, Putnam và Fukuyama thì có nhiều điểm
khác nhau. Bourdieu nhìn với con mắt bi quan: nhiều người sẽ
không tiến thân được vì thiếu vốn xã hội. Putnam cũng bi quan
nhưng là vì, theo ông, xu huớng văn minh, tiến hoá kinh tế làm mọi
quốc gia mất dần loại vốn ấy. Song đằng khác thì Putnam lại lạc
quan, vì ông tin rằng cộng đồng (với những chính sách thích hợp
của nhà nước) có thể cùng nhau khôi phục vốn xã hội.
Như vậy, trong cái nhìn của Bourdieu, vốn xã hội là nguồn lực
của một thiểu số, giúp họ tiến thân, làm giàu. Nó không có ích lợi
chung cho xã hội. Vì xem vốn xã hội như một tài sản cá nhân,
Bourdieu có thể nói đến sự chênh lệch vốn xã hội trong xã hội.
Quan điểm này hoàn toàn khác trường phái Mỹ (Coleman, Putnam,
Fukuyama ) theo đó vốn xã hội là một loại tài sản cộng đồng
.
Với
cách nhìn này, các học giả Mỹ có thể phân biệt hai loại vốn xã hội:
tích cực hoặc tiêu cực. Cũng theo những học giả này, vốn xã hội
không dính dáng gì đến thu nhập, giai cấp, trình độ giáo dục, và
nói chung là có lợi ích kinh tế, hay ít nhất cũng là phúc lợi xã hội
(Putnam).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét