5
1.2. Những nghiên cứu về loài cây Tếch trên thế giới
1.2.1. Những nghiên cứu chung về quy luật cấu trúc lâm phần
Trên thế giới, ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, đã có nhiều công trình
nghiên cứu về cấu trúc rừng, nhất là về các quy luật kết cấu của lâm phần. Đặc biệt
với sự phát triển của thống kê toán học và tin học, việc mô hình hoá các quy luật cấu
trúc lâm phần bằng các mô hình toán học đã mở ra bước phát triển mới trong lâm
sinh học hiện đại.
- Về phân bố số cây theo đường kính, chiều cao.
Phân bố số cây theo đường kính là quy luật cấu trúc cơ bản của lâm phần đã
được nhiều nhà khoa học quan tâm. Đầu tiên phải kể đến công trình nghiên cứu của
Meyer (1972)[14]. Ông mô tả phân bố số cây theo đường kính bằng mô hình toán
học mà dạng của nó là đường cong giảm liên tục. Phương trình này được gọi là
phương trình Meyer. Một số tác giả khác đã dùng phương pháp giải tích để tìm
phương trình đường cong phân bố. Loetsch (1973)[15] dùng hàm Bêta để nắn các
phân bố thực nghiệm. J.L.F Batista và H.T.Z Doucoto (1992)[16] trong khi nghiên
cứu 19 ô tiêu chuẩn với 60 loài cây rừng ở Maranhoo – Brazin đã dùng hàm Weibull
mô phỏng phân bố N/D. Nhìn chung các tác giả đều biểu diễn quy luật phân bố số
cây theo đường kính dưới dạng phân bố xác xuất, các hàm thường hay sử dụng là
hàm Weibull, hàm mũ, hàm chuẩn, hàm logarit, hàm bêta, hàm gama, v.v
Ngoài việc sử dụng các hàm toán học để biểu thị quy luật cấu trúc lâm phần,
đối với rừng tự nhiên, quy luật phân bố số cây theo chiều cao còn được thể hiện
thông qua phương pháp trắc đồ rừng. Vẽ các phẫu đồ đứng với các kích thước khác
nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu. Các trắc đồ này đã mang lại hình ảnh khái quát
về cấu trúc tầng tán, phân bố số cây theo chiều thẳng đứng, từ đó rút ra các nhận xét
và đề xuất ứng dụng trên thực tế, điển hình cho hướng nghiên cứu này là các công
trình của P.W. Richards (1952) [17], Rollet (1979) [18]
- Tương quan chiều cao với đường kính (H/D)
Qua nhiều nghiên cứu của các tác giả đi trước cho thấy mối tương quan giữa
đường kính và chiều cao là một tương quan chặt chẽ. Theo quy luật sinh trưởng của
6
cây rừng - khi tuổi tăng lên thì đường kính và chiều cao cũng tăng lên. Tuy nhiên quy
luật này chỉ tồn tại trong một giới hạn cho phép của cây rừng trong quá trình sinh
trưởng. Trong lâm phần, khi tuổi tăng thì tỉ lệ H/D cũng tăng. Từ đó đường cong biểu
thị quan hệ H/D có thể bị thay đổi. Đường cong luôn chuyển dịch lên phía trên khi
tuổi lâm phần tăng lên. Phương trình toán học cụ thể biểu thị mối quan hệ này rất
phong phú và đa dạng. Hohenadl, Krenn, Michailof, Naslund, Anoutchia, Echert,
Keusn, Meyer Mucler, Soest đã đề nghị sử dụng các phương trình dưới đây để mô tả
quan hệ H/D (dẫn theo tài liệu [19]):
h = a
0
+ a
1
d + a
2
d
2
(1.1)
H - 1.3=d
2
/(a + bd)
2
(1.2)
h = a.d
b
(1.3)
logh = a + blogd (1.4)
h-1.3=a(1-e
-ed
) (1.5)
h-1.3=a.e
-b/d
(1.6)
log(h-1.3)=loga-blog(e/d) (1.7)
h=a
(blnd-elnd)
(1.8)
h = a
0
+ a
1d
1
+ a
2
d
2
+ a
3
d
3
(1.9)
h = a
0
+ a
1
d + a
2
logd (1.10)
h =a + blogd (1.11)
1.2.2. Những nghiên cứu về sinh trưởng, sản lượng và các giải pháp kỹ
thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng trồng Tếch
a) Những nghiên cứu về sinh trưởng, sản lượng
Khi nghiên cứu về rừng Tếch ở Ấn Độ, Kadambi (1979) [13] cho rằng sự
khác biệt về sinh trưởng đường kính và chiều cao của rừng Tếch là do sự khác biệt về
lập địa và nguồn gốc rừng khác nhau.
D.Alder (1980) [20] đã có tổng hợp hết sức phong phú về các phương pháp
nghiên cứu sinh trưởng và sản lượng rừng như: Xây dựng mô hình sinh trưởng, tăng
trưởng cây rừng và lâm phần, thiết lập đường cong sinh trưởng bình quân bằng
7
phương pháp phân tích hồi quy theo nhóm của Bailey – Clutter, phương pháp Affill
để phân chia các đường cong sinh trưởng chỉ thị cấp đất, lý thuyết Marsh làm cơ sở
dự đoán sản lượng.
Cùng với ESCAP và FAO, các nước Châu Á – Thái Bình Dương đã thành lập
mạng lưới nghiên cứu phát triển cây Tếch. Tại Trung Quốc, năm 1991 hội thảo quốc
tế về cây Tếch đã đưa ra một số điều kiện sinh thái thích hợp cho trồng Tếch như:
Khí hậu, lập địa, tổ thành cây bạn, phương pháp trồng, v.v khuyến nghị tổng kết
phương thức trồng rừng Tếch thuần loại hoặc khảo nghiệm ở quy mô nhỏ để rút ra
các ưu trội so với phương thức trồng hỗn loài truyền thống (dẫn theo tài liệu [5]). Sau
cuộc hội thảo lần thứ nhất, năm 1995 cuộc hội thảo cây Tếch lần 2 đã được tiến hành
tại Myanma và mạng thông tin quốc tế về Tếch đã được thành lập với tên gọi –
TEAKNET.
Theo Siswamartana (1995) [21], rừng Tếch ở Indonesia đã được nghiên cứu
chi tiết về tăng trưởng, sản lượng và năng suất trên 3 cấp đất. Trên cấp đất III, rừng
tếch ở tuổi 10 có mật độ 1.452 cây/ha, D=9,1cm; H=11,4m; trữ lượng gỗ trên cây
nuôi dưỡng 39,6m
3
/ha; năng suất trung bình 5,8m
3
/ha; lượng tăng trưởng hàng năm
6,9m
3
/ha. Ở tuổi 20, mật độ 766 cây/ha, D = 14,3cm, H = 16,1m, trữ lượng gỗ trên
cây nuôi dưỡng 64,8m
3
/ha, năng suất trung bình 5,9m
3
/ha/năm; lượng tăng trưởng
hàng năm 5,0 m
3
/ha/năm. Từ tuổi 30 trở đi, năng suất rừng giảm nhanh, trong đó
năng suất trung bình 4,7 m
3
/ha/năm ở tuổi 30 và 4,0 m
3
/ha/năm ở tuổi 80 năm.
Ở các nước có Tếch tự nhiên hoặc diện tích rừng Tếch lớn đều có những khảo
sát, đánh giá sinh trưởng, năng suất, tiêu biểu như công trình nghiên cứu của
Wycherley FR. (1966) [22] ở Thái Lan và Vaclav E. (1972) [23] ở Bangladesh, v.v
Đồng thời để làm cơ sở cho việc xác định giải pháp kỹ thuật lâm sinh như: Mật độ
trồng rừng, tỉa thưa, mật độ tối ưu, v.v hoặc dự đoán các chỉ tiêu kỹ thuật trong điều
chế rừng như: Chặt nuôi dưỡng, trữ sản lượng từng thời điểm, lượng khai thác chính,
kích thước sản phẩm, chu kỳ kinh doanh theo từng điều kiện hoàn cảnh trồng rừng,
v.v thì tại các nước Myanmar, Ấn Độ, Nigeria, Brazin, v.v đã xây dựng các biểu
sản lượng riêng về cây Tếch (dẫn theo tài liệu [5]).
8
Tổng kết những báo cáo về năng suất rừng tếch trồng ở những khu vực khác
nhau của Châu Á, Châu Phi và Châu Mỹ, Kaosa-and (1995)[11] đã đi đến nhận định
rằng: Năng suất trung bình của rừng tếch trồng là 8 -10m
3
/ha/năm và có biến động
mạnh không chỉ giữa các vùng địa lý khác nhau, mà còn trong phạm vi một nước.
Ông cho rằng, hiện nay vẫn còn thiếu những tài liệu về tăng trưởng, sản lượng và
năng suất rừng trồng tếch của các nước. Nhiều nước vẫn chưa phân chia cấp đất và
xây dựng biểu quá trình sinh trưởng quần thụ tếch. Hệ thống phân chia cấp đất cho
những lâm phần tếch không giống nhau giữa các nước.
Theo Ly Meng Seang (2008) [24] khi nghiên cứu về rừng trồng Tếch ở
Campuchia đã cho thấy, sinh trưởng đường kính và chiều cao bình quân của những
quần thụ Tếch trong khoảng 18 năm đầu thay đổi rõ rệt theo 2 giai đoạn tuổi – đó là
giai đoạn sinh trưởng nhanh từ 1 – 7 tuổi và sinh trưởng chậm từ 8 -18 tuổi.
b) Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh
rừng Tếch
Hiện nay Tếch đã được trồng thành rừng cả ở trong và ngoài phạm vi phân bố
tự nhiên của nó ở nhiệt đới. Khu vực này bao phủ một vùng khí hậu rộng lớn, từ kiểu
khí hậu xích đạo đến kiểu khí hậu á nhiệt đới, với lượng mưa từ 500 – 3.500 mm và
biên độ nhiệt độ từ 2
o
– 48
o
C. Điều kiện đất trồng rừng Tếch cũng rất khác nhau, từ
đất chua nghèo đến đất bùi tụ màu mỡ [11]
Khi nghiên cứu đặc tính của đất dưới rừng Tếch trồng 1, 15, 30, 60 và 120
năm, Jose và Koshy (1972) đã nhận thấy rằng: Mặc dù hình thái, tính chất vật lý và
hoá học của đất có sự thay đổi, nhưng hàm lượng chất hữu cơ ở tầng đất mặt dưới
rừng Tếch tự nhiên và rừng Tếch trồng 120 tuổi là tương tự nhau. Đất tầng mặt dưới
rừng trồng Tếch non có tỷ trọng và hàm lượng cát cao hơn, nhưng độ xốp và khả
năng hút nước kém hơn so với rừng tự nhiên (dẫn theo [24]).
Theo Kaosa-ard (1981), (1995) [10], [11] cho rằng: Kích thước, chất lượng,
mật độ, hình thái thân cây và tăng trưởng của rừng Tếch bị kiểm soát bởi một số yếu
tố như lượng mưa và phân bố lượng mưa trong năm, độ ẩm đất, đặc tính đất và ánh
sáng. Ngoài ra, màu sắc và cấu trúc của gỗ Tếch cũng chịu ảnh hưởng của lập địa.
9
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra rằng, Tếch sinh trưởng tốt nhất trên đất bồi tụ (phù sa)
sâu và thoát nước tốt được hình thành trên nền các loại đá vôi, phiến thạch, phiến sét
và một số loại đá do núi lửa hình thành như Bazan. Ngược lại khi mọc ở điều kiện đất
cát khô, đất có tầng mỏng, đất chua (pH<6,0) có nguồn gốc từ feralit, đất than bùn,
đất cứng hoặc bị úng nước, thì Tếch sinh trưởng rất kém, hình thái thấp và xấu.
Theo Kadambi (1979) [13], ngoài lập địa, chất lượng hạt giống, tiêu chuẩn
cây con thì thành công của trồng rừng Tếch còn phụ thuộc rất nhiều vào kỹ thuật lâm
sinh (khoảng cách trồng, chăm sóc, phòng chống cháy, phòng trừ dịch bệnh, tỉa thưa,
v.v )
Tại Thái Lan, ở những nơi không áp dụng phương thức nông lâm kết hợp
Tếch được trồng với mật độ 1.100 cây/ha (hay 3*3m), còn ở những nơi áp dụng
phương thức nông lâm kết hợp mật độ trồng ban đầu là 1.250 cây/ha (hay 4*2m)
(dẫn theo [11]). Sau khi tổng kết mật độ trồng rừng ở các nước trên thế giới,
Kaosa-ard (1995) [11] cho rằng: Khi không thực hiện phương thực nông lâm kết hợp,
thì mật độ trồng rừng Tếch thay đổi từ 1.100 cây/ha (3*3m), 1.250 cây/ha (4*2m)
đến 2.500 cây/ha (2*2m) và 3.333 cây/ha (3*1m). Tuy nhiên, nếu trồng rừng với mật
độ (3*3m) hoặc thưa hơn thì đất sẽ bị xói mòn rất mạnh.
Các nhà khoa học lâm nghiệp cũng rất quan tâm đến vấn đề chặt nuôi dưỡng
rừng trồng Tếch nhằm đạt đến mục tiêu kinh doanh. Đối với Tếch, phương thức nuôi
dưỡng chủ yếu là chặt tỉa thưa. Thời điểm bắt đầu và kết thúc tỉa thưa, số lần tỉa thưa,
cường độ tỉa thưa và phương pháp tỉa thưa rừng Tếch được đề nghị khác nhau tuỳ
theo lập địa, khoảng cách trồng, phương thức trồng xen. Theo Kadambi (1979) [13],
Ấn Độ tỉa thưa rừng Tếch được phân thành 2 loại: Tỉa thưa sớm và tỉa thưa muộn.
Tỉa thưa sớm được thực hiện trong giai đoạn rừng Tếch dưới 20 tuổi. Mục tiêu của
tỉa thưa sớm là mở rộng không gian cho rừng Tếch phát triển tốt hệ thống tán lá. Tỉa
thưa muộn chỉ được áp dụng cho những rừng Tếch trồng trên không gian rộng, với
cường độ kinh doanh cao. Mục tiêu của tỉa thưa muộn tạo cho rừng cung cấp gỗ chất
lượng cao thông qua tỉa thưa với cường độ mạnh và tuyển chọn cây tốt để nuôi
dưỡng. Đồng thời tác giả cũng cho rằng: Tếch là loài cây ưa sáng mạnh, do đó sử
10
dụng biện pháp tỉa thưa mạnh là biện pháp cần thiết, song khoảng cách giữa những
cây để loại nuôi dưỡng sau khi tỉa thưa phải đồng đều.
Theo Kaosa-ard (1995) [25] khi chu kỳ kinh doanh rừng trồng Tếch là 25 – 30
năm nhằm cung cấp gỗ nhỏ và trung bình, mật độ trồng rừng ban đầu là (1,8*1,8m)
hoặc (2,0*2,0m) thì việc tỉa thưa rừng Tếch có thể được thực hiện qua 2 lần. Lần 1
được bắt đầu thực hiện vào tuổi 5 còn lần 2 tương ứng tuổi 10. Phương pháp tỉa thưa
là tỉa thưa cơ giới (chặt hàng cách hàng hoặc chặt cây cách cây trong hàng). Cường
độ tỉa thưa lần 1 là 50% số cây ban đầu, lần 2 là 50% số cây để lại sau lần tỉa thưa thứ
nhất.
Theo Siswamartana (1995) [21], chu kỳ kinh doanh rừng Tếch ở Indonesia
trên lập địa tốt là 40 năm, còn trên lập địa xấu là 80 năm. Mục tiêu kinh doanh là tạo
gỗ lớn có chất lượng cao. Trong 20 năm đầu, rừng Tếch được tỉa thưa 5 lần với kỳ
dãn cách 4 năm. Từ năm thứ 20 trở đi, kỳ dãn cách 10 năm. Số cây tỉa thưa được quy
định theo biểu quá trình sinh trưởng của quần thụ. Việc tuyển chọn cây tỉa thưa phải
đảm bảo nguyên tắc nâng cao chất lượng quần thụ và cải thiện chất lượng gỗ ở cuối
kỳ kinh doanh.
Hiện nay có rất nhiều phương pháp xác định mật độ tối ưu khác nhau như
P.R.Kelle (1932), B.A.Suxtov (1938), V.G.Nesterov (1952), B.V.Belov (1983),
H.Thomasius (1972), I.C.Melekhov (1989), v.v Tuy nhiên, tất cả các tác giả đều có
một đặc điểm chung là tìm kiếm các phương pháp để xác định được không gian sống
thích hợp cho từng loài ở từng thời điểm nhất định. Theo H.Thomasius (1972),
không gian dinh dưỡng trên mặt đất của một cây được giới hạn bằng một hình viên
trụ đứng có tiết diện bằng diện tích hình chiếu thẳng đứng của tán lá và giới hạn bằng
chiều cao của cây đó. Như vậy, để xác định được mật độ tối ưu trước hết phải xác
định được không gian dinh dưỡng thích hợp. Không gian này ngoài phụ thuộc vào
chiều cao (chỉ tiêu phân chia cấp đất) còn phụ thuộc vào diện tích hình chiếu tán lá
bình quân của những cây sinh trưởng tốt trong lâm phần (dẫn theo [26]).
1.2.3. Nghiên cứu về phân cấp sinh trưởng cây rừng
Cấp sinh trưởng cây rừng là một trong những chỉ tiêu quan trọng được các nhà
11
lâm học sử dụng đánh giá đặc điểm về kinh tế kỹ thuật của cây rừng, tuyển chọn cây
chặt và cây chừa trong nuôi dưỡng rừng, phát hiện mức độ cạnh tranh giữa các cá thể
cây rừng, phân tích động thái của lâm phần dưới ảnh hưởng của môi trường sống và
các biện pháp lâm sinh, v.v
G.Kraft (1884) là người đầu tiên xây dựng hệ thống phân cấp cây rừng ở Đức.
Tác giả đã dựa vào các chỉ tiêu định tính là độ lớn của chiều cao và đường kính để
phân cấp. Theo tác giả cây rừng được chia thành 5 cấp (I, II, III, IV, V). Trong đó cấp
I là những cây cao to nhất và cấp V hoàn toàn nằm dưới tầng rừng chính. Phân cấp
theo cách của G.Kraft khá đơn giản, song chỉ áp dụng được cho các lâm phần rừng
thuần loài, đều tuổi, (dẫn theo [26]).
Để đơn giản cho việc phân cấp cây rừng, G.S. Shedelin (1972) (Thuỵ Điển),
đã tiến hành phân cấp cây rừng theo chỉ tiêu số lượng và trên cơ sở hệ thống chỉ số
hàng trăm (phản ánh vai trò của cây gỗ trong lâm phần), hàng chục (phản ánh chất
lượng thân cây), hàng đơn vị (phán ánh chất lượng tán cây). Mỗi chỉ số có 3 đơn vị (1
- tốt; 2 – trung bình; 3 - xấu). Như vậy, một cây đạt chỉ số 111 là cây tốt nhất về điều
kiện sống, về hình thái thân cây và hình thái tán cây; Còn cây có chỉ số 333 là những
cây xấu nhất ở cả 3 chỉ tiêu trên. Rõ ràng, cách phân cấp này rất dễ áp dụng trong
thực tiễn, tuy nhiên đối với những đối tượng phức tạp như rừng khác tuổi, rừng còn
quá non hoặc ở những lâm phần tỉa thưa trong giai đoạn dài, phân cấp này thường
không đạt được độ chính xác mong muốn, (dẫn theo [26]).
Mạng lưới toàn cầu về hợp tác khoa học lâm nghiệp (IUFRO) đã xây dựng
một hệ thống phân loại khá chi tiết, dựa vào 2 đặc trưng lớn: Tình trạng cây trong
quần xã và hiện trạng giá trị của cây theo mục đích kinh doanh. Từ 2 đặc trưng này
được chia nhỏ thành 6 chỉ tiêu : (1) cấp chiều cao; (2) khả năng sống của cây trong
lâm phần; (3) xu hướng phát triển của cây trong quần xã; (4) giá trị kinh tế của cây;
(5) chất lượng hình thân thân cây; (6) chất lượng của tán lá. Theo rất nhiều các nhà
khoa học đánh giá thì đây là một hệ thống phân loại khá đơn giản, song áp dụng được
cho rất nhiều các đối tượng khác nhau, cho kết quả nhanh chóng, chính xác, có thể
lượng hoá các chỉ tiêu nên dễ áp dụng trong kỹ thuật tính toán hiện đại (máy tính) để
12
xử lý số liệu, (dẫn theo [26]).
1.3. Những nghiên cứu về cây Tếch ở Việt Nam
1.3.1. Những nghiên cứu chung về quy luật cấu trúc lâm phần
Các công trình nghiên cứu về cấu trúc phục vụ kinh doanh rừng ở trong nước
thường tập trung vào các vấn đề:
Phân loại rừng phục vụ đề xuất biện pháp kinh doanh đã được tiến hành bởi
nhiều tác giả: Trần Ngũ Phương (1963), Thái Văn Trừng (1978), Nguyễn Hồng Quân
(1981), Vũ Đình Phương (1985 - 1986), v.v
Nguyễn Văn Trương (1973 – 1986), Đồng Sỹ Hiền (1974), Nguyễn Hải Tuất
(1975 – 1991), Nguyễn Hồng Quân (1975 – 1982), Nguyễn Ngọc Lung (1985 –
1989), Vũ Đình Phương (1985 – 1987), Phùng Ngọc Lan (1986), Vũ Tiến Hinh
(1988), Trịnh Đức Huy (1988), v.v đã định lượng các quy luật kết cấu, sinh trưởng,
tương quan làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
(Dẫn theo tài liệu [
* Phân bố số cây theo đường kính và chiều cao
Đồng Sỹ Hiền (1974) [27], khi lập biểu thể tích cây đứng rừng tự nhiên ở
miền Bắc Việt Nam đã nghiên cứu nhiều lâm phần trên các địa phương khác nhau và
đi đến kết luận chung là: Do quá trình khai thác chọn thô không theo quy tắc, nên
đường phân bố N/D là đường phân bố có dạng hình răng cưa. Với kiểu phân bố này
tác giả đã chọn hàm phân bố là hàm Meyer và họ đường cong Pearson để mô tả.
Nguyễn Hải Tuất (1982, 1996) [28], [29], đã sử dụng phân bố giảm, phân bố
khoảng cách để biểu diễn cấu trúc đường kính, cấu trúc chiều cao của rừng thứ sinh,
đồng thời áp dụng quá trình pearson vào nghiên cứu cấu trúc quần thể.
Vũ Tiến Hinh [30], [31], [32], đã thử nghiệm một số phân bố lí thuyết để nắn
phân bố số cây theo đường kính và phân bố số cây theo chiều cao cho rừng trồng một
số loài cây và đi đến kết luận: “Phân bố Weibull là phân bố thích hợp nhất”.
* Tương quan giữa chiều cao và đường kính (H/D)
Đồng Sĩ Hiền (1974) [27], đã thử nghiệm nhiều dạng phương trình để mô tả
quan hệ H/D và khẳng định các dạng dưới đây có mức độ thích hợp cao:
13
H = a
0
+ a
1
d + a
2
d
2
(1.12)
H = ad
b
hay lg(h) = a + blg(d) (1.13)
H = a + blg(d) (1.14)
Tuy nhiên với mỗi loài cây khác nhau thì phương trình lựa chọn cũng khác
nhau.
Vũ Đình Phương (1975) [33], đã khẳng định giữa đường kính tán và đường
kính ngang ngực luôn tồn tại tương quan chặt chẽ theo dạng đường thẳng. Nguyễn
Ngọc Lung (1987) [34] đã xây dựng biểu tỉa thưa tạm thời và biểu thể tích cây đứng
tạm thời cho Keo lá tràm, trên cơ sở xác lập tương quan D
t
–D
1.3
và mối quan hệ giữa
các nhân tố điều tra với thể tích thân cây.
1.3.2. Những nghiên cứu về sinh trưởng, sản lượng và các giải pháp kỹ
thuật lâm sinh trong kinh doanh rừng trồng Tếch
a) Những nghiên cứu về sinh trưởng, sản lượng
Khi nghiên cứu rừng tếch trồng ở Tây Nguyên của Việt Nam, Bảo Huy (1995)
[5] đã cho rằng, thời điểm tỉa thưa rừng tếch lần đầu tiên cần phải được xác định dựa
vào tăng trưởng hàng năm lớn nhất về đường kính. Đối với rừng tếch trên điều kiện
lập địa I, II, III việc tỉa thưa lần đầu tương ứng với tuổi 8, 10 và 12. Những lần tỉa
thưa tiếp theo tương ứng với tuổi mà tổng diện tích tán lá trên 1 ha đạt 13.000 m
2
/ha
và tăng trưởng trữ lượng đạt cực đại. Theo đó, kỳ dãn cách giữa 2 lần tỉa thưa liên
tiếp đối với rừng trồng tếch mọc trên cấp I và cấp II tương ứng là 7 và 10 năm.
Nguyễn Ngọc Lung (1995)[35] cho rằng, sinh trưởng và năng suất của rừng
trồng tếch ở Việt Nam thay đổi tuỳ theo tuổi rừng, loại đất và địa phương. Kết quả
nghiên cứu của phân viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ (1995) (dẫn theo [24]) cho
thấy, sinh trưởng về đường kính, chiều cao và năng suất của rừng Tếch 20 tuổi trên
một số loại đất ở các địa phương thay đổi tuỳ theo loại đất và mật độ trồng. Năng
suất trung bình của rừng tếch tuổi 20 đạt cao nhất ở trên đất bazan (11,5m
3
/ha/năm),
đất phù sa cổ (8,5m
3
/ha/năm), cuối cùng đất feralit đỏ vàng (4m
3
/ha/năm).
Những nghiên cứu của Trần Duy Diễn (1995) [37] và Đinh Đức Điểm (1995)
[38] đã chỉ ra rằng, rừng Tếch ở La Ngà (Đồng Nai) sinh trưởng tốt trên đất feralit
14
nâu đỏ phát triển từ đá Bazan (lập địa tốt) với pH > 6,6, sinh trưởng kém trên đất
feralit đỏ vàng phát triển từ đá phiến thạch sét (lập địa trung bình) với pH < 5,0. Trên
lập địa tốt, đường kính và chiều cao rừng Tếch ở tuổi 12 đạt tương ứng 15,0 cm và
19,0m, trữ lượng 200m
3
/ha.
Theo kết quả nghiên cứu của Bảo Huy (1998) [36] về rừng Tếch ở Tây
Nguyên, để xác định chu kỳ kinh doanh hợp ly cần nghiên cứu quy luật sinh trưởng
thể tích cây bình quân lâm phần, trên cơ sở đó xác định mối quan hệ giữa các lượng
tăng trưởng thường xuyên và bình quân, từ đây sẽ tìm được tuổi năng suất tối đa và
thành thục số lượng. Đồng thời ông cũng đưa ra phương trình thành quả:
V = 31.980 Exp(-10.689 A
-0.3
) (1.15)
Phương trình cho thấy: Tuổi đạt năng suất tối đa là 20 năm, đây cũng có thể
coi là cơ sở xác định chu kỳ kinh doanh nếu mục tiêu là kinh doanh gỗ nhỏ đến gỗ
vừa. Tuổi thành thục số lượng là 49 năm đây cũng có thể coi là cơ sở xác định chu kỳ
kinh doanh nếu mục tiêu là kinh doanh gỗ lớn.
Khi nghiên cứu về rừng Tếch ở khu vực miền Đông Nam Bộ, Nguyễn
Văn Thêm (2000) [39] và Mạc Văn Chăm (2005) [40] đã chỉ ra rằng, Tếch sinh
trưởng rất nhanh trong 6 năm đầu, nhưng từ tuổi 8 trở đi lượng tăng trưởng về đường
kính và chiều cao đều giảm nhanh. Suất tăng trưởng đường kính đạt cao ở tuổi 2
(50%), giảm còn 7% (ở tuổi 10) và 2,8% (ở tuổi 20). Năng suất rừng Tếch từ tuổi 9 –
14 dao động từ 13 – 15 m
3
/ha/năm, còn ở tuổi 20 – 22 là 10 m
3
/ha/năm.
b) Những nghiên cứu về các biện pháp kỹ thuật lâm sinh trong kinh doanh
rừng Tếch
Theo tác giả Nguyễn Xuân Quát (1995) [41], đất có vai trò quyết định đối với
sự thành công của trồng rừng Tếch ở khu vực Tây Nguyên. Trên đất nâu đỏ, sinh
trưởng của rừng Tếch giảm theo mức độ thoái hoá của thảm thực vật, nhưng trên đất
đỏ vàng sinh trưởng của tếch dưới rừng thứ sinh kiệt không có sự khác biệt rõ rệt so
với đất dưới trảng cỏ. Tếch không thích hợp với loại đất đỏ nâu phát triển trên đá
bazan dưới rừng le và trảng cỏ.
Đỗ Đình Sâm và Nguyễn Bảo Bình (1995)[42] cho rằng, đất phù hợp với sinh
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét