Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
không đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thoả thuận về việc người yêu cầu bảo
lãnh không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình.”
Như vậy, theo định nghĩa trên bảo lãnh thường bao gồm ba bên: bên được
bảo lãnh, bên thụ hưởng bảo lãnh và bên bảo lãnh. Người đứng ra bảo lãnh có
thể là cơ quan Nhà Nước, các đơn vị kinh tế, các cá nhân và các tổ chức tài
chính tín dụng. Trên thực tế, ngân hàng là người bảo lãnh chủ yếu.
1.2.2. Khái niệm bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ngân hàng là một trong các nghiệp vụ của ngân hàng, là cam kết
của Ngân hàng bảo lãnh đối với bên có quyền (bên thụ hưởng bảo lãnh) về việc
sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên có nghĩa vụ (bên đươc bảo lãnh)
nếu bên được bảo lãnh không thực hiện đúng và đủ các nghĩa vụ đã thoả thuận
với bên thụ hưởng bảo lãnh. Các cam kết của ngân hàng quy định cụ thể tại văn
bản bảo lãnh - thư bảo lãnh - do Ngân hàng bảo lãnh phát hành.
1.3. Đặc trưng cơ bản của bảo lãnh ngân hàng
Một đặc trưng rất quan trọng của bảo lãnh ngân hàng là tính độc lập. Nó
thể hiện trong mối quan hệ trách nhiệm giữac các chủ thể tham gia bảo lãnh.
- Trong một nghiệp vụ bảo lãnh thông thường có ba hợp đồng độc lập:
Hợp đồng giữa người được bảo lãnh và người thụ hưởng bảo lãnh (Underlying
contract), gọi là hợp đồng cơ sở. Đây có thể là hợp đồng mua bán, hợp đồng xây
dựng… và là cơ sở để hình thành nên hai hợp đồng còn lại.
- Hợp đồng giữa người yêu cầu bảo lãnh (Người được bảo lãnh - Account
party) và Ngân hàng phát hành, cụ thể là đơn xin bảo lãnh đã được duyệt.
- Thư bảo lãnh (Letter of guarantee) là hợp đồng giữa ngân hàng phát
hành bảo lãnh và người thụ hưởng.
Các hợp đồng được hình thành trong mối quan hệ được chi phối bởi mục
đích và đối tượng nên hai bên trong từng hợp đồng có quyền và nghĩa vụ riêng,
mặc dù chúng vừa là nguyên nhân vừa là kết quả của nhau. Hợp đồng thứ nhất
là gốc để hình thành hợp đồng thứ hai và thứ ba. Nghĩa là xuất phát từ hợp đồng
cơ sở, nhằm đảm bảo quyền lợi cho Người thụ hưởng thì Ngân hàng sẽ phát
5
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hành bảo lãnh theo yêu cầu của Người được bảo lãnh. Nhưng Ngân hàng. người
cung cấp dịch vụ và cam kết thanh toán có hai mối quan hệ với hai đối tượng
khác nhau và phải hành động mang tính độc lập trên cơ sở quyền và nghĩa vụ
của từng Hợp đồng.;
Như vậy bảo lãnh ngân hàng mang tính chất độc lập và tách biệt trong
quan hệ hợp đồng giữa Người được bảo lãnh và Người thụ hưởng. Mặc dù nội
dung thư bảo lãnh được xây dựng trên nền tảng của hợp đồng cơ sở nhưng về
mặt pháp lý, thư bảo lãnh tách rời khỏi cơ sở hình thành nó.
Tính độc lập của bảo lãnh ngân hàng thể hiện rõ nhất ở trách nhiệm thanh
toán của ngân hàng phát hành. Trách nhiệm này hoàn toàn độc lập với mối quan
hệ giữa Ngân hàng phát hành và Người được bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh thực
hiện cam kết của mình căn cứ vào thực tế là Người thụ hưởng có thoả mãn đầy
đủ những điều kiện theo thư bảo lãnh hay không. Khi các điều khoản của bảo
lãnh được đáp ứng thì về mặt pháp lý. Người thụ hưởng có quyến yêu cầu thanh
toán tiền mà không bị ngăn cản bởi nguyên nhân nào khác. Ngân hàng không
thể viện dẫn những lí do thưộc về quan hệ giữa họ và người đươc bảo lãnh để trì
hoãn thanh toán.
Nhưng vấn đề mà Người được bảo lãnh gặp phải và những tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng cơ sở không ảnh hưởng tới quyền và nghĩa vụ của ngân
hàng bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh phải chuyền tiền từ tài khoản của Người
được bảo lãnh trên cơ sở đòi tiền hợp lệ của Người thụ hưởng hoặc quyền được
đòi hoàn trả từ Người được bảo lãnh nếu ngân hàng trả tiền từ tài khoản của
ngân hàng. Nghĩa vụ của Người được bảo lãnh cũng được xác định rất rõ: uỷ
quyền đầy đủ cho Ngân hàng bảo lãnh trích tài khoản của mình thanh toán cho
Người thụ hưởng, hoặc hoàn trả cho ngân hàng số tiền đã thanh toán trước theo
bảo lãnh. Cho dù Người được bảo lãnh phá sản hoặc mất khả năng chi trả thì
ngân hàng vẫn phải thanh toán cho Người thụ hưởng theo đúng điều khoản của
bảo lãnh. Ngay cả khi có tranh chấp của hai bên, ngân hàng vẫn không có quyền
ngưng thanh toán. Người được bảo lãnh, do đó, sẽ hoàn tiền theo nguyên tắc”
6
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
thanh toán trước, khiếu kiện sau” (pay first, argue later). Người được bảo lãnh
có quyền khiếu nại nếu bị đối xử không công bằng và bị lạm dụng. Toà sẽ xem
xét và quyết định, lúc này Người yêu cầu được bảo lãnh mới có cơ hội được bù
đắp tổn thất do sự lạm dụng của Người thụ hưởng.
Nghĩa vụ của ngân hàng là phải thanh toán cho Người thụ hưởng khi nhận
được đòi tiền kèm các chứng từ theo đúng các điều khoản của bảo lãnh. Chính
vì vậy, tính độc lập của bảo lãnh phụ thuộc vào các điều kiện của bảo lãnh. Ví
dụ, nếu bảo lãnh quy định việc thanh toán là theo văn bản yêu cầu của Người
thụ hưởng thì Người thụ hưởng có quyền yêu cầu thanh toán mà không cần một
điều kiện nào ngoài văn bản yêu cầu. Ngân hàng phát hành bảo lãnh phải thanh
toán và Người được bảo lãnh phải bồi hoàn cho Ngân hàng. Khi đó tính độc lập
gần như tuyệt đối.
Ngược lại nếu bảo lãnh quy định xuất trình chứng từ của phía thứ ba như
chứng thực của cơ quan độc lập, về sự vi phạm của đối tác, quyết định của trọng
tài thậm chí phán quyết của tòa án hay văn bản của người được bảo lãnh thì tính
độc lập của giao dịch bảo lãnh cũng sẽ bị giảm sút. Tính độc lập đem lại nhiều
ưu đãi thuận lợi cho Người nhận bảo lãnh nên nó được sử dụng nhiều trong thực
tế.
1.4. Các loại bảo lãnh của ngân hàng thương mại
1.4.1. Phân loại theo mục đích của bảo lãnh
a, Bảo lãnh dự thầu (Tender Guarantee)
Bảo lãnh dự thầu là cam kết của ngân hàng sẽ thanh toán cho chủ thầu
những tổn thất do sự vi phạm của người dự thầu. Giá trị bảo lãnh dự thầu thường
từ 1-5% giá trị hợp đồng. Nếu người dự thầu hoạt động ở nước ngoài, chủ công
trình yêu cầu bảo lãnh dự thầu gián tiếp.
Thời hạn của bảo lãnh dự thầu kết thúc khi người dự thầu trúng thầu, ký
được hợp đồng hoặc tới khi bảo lãnh thực hiện hợp đồng được phát hành.
Trương hợp không trúng thầu thì bảo lãnh dự thầu tự động hết hiệu lực và được
trả lại ngân hàng phát hành.
7
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
b, Bảo lãnh tín dụng (Letter of Guarantee for loan)
Bảo lãnh tín dụng là một bảo lãnh do ngân hàng phát hành cho bên thụ
hưởng bảo lãnh (Bên cho vay), cam kết với Bên cho vay rằng sẽ chịu trách
nhiệm trả thay cho Bên vay nếu Bên vay không thanh toán đầy đủ, đúng hạn số
tiền bao gồm cả gốc lẫn lãi Thời hạn hiệu lực do các bên thỏa thuận.
Giá trị bảo lãnh tín dụng có thể bao gồm cả nợ gốc lẫn lãi tùy thuộc yêu
cầu của bên cho vay.
c, Bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Performance Guarantee).
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là một bảo lãnh do Ngân hàng phát hành cho
Bên thụ hưởng bảo lãnh, bảo đảm thực hiện đúng, đầy đủ các nghĩa vụ của
khách hàng (Người được bảo lãnh) với bên thụ hưởng bảo lãnh theo hợp đồng
đã kí kết. Trong trường hợp khách hàng không thực hiện đúng và đầy đủ các
nghĩa vụ trong hợp đồng, Ngân hàng thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Đây là loại
bảo lãnh được thực hiện thường xuyên và thông dụng nhất.
Giá trị bảo lãnh tùy thuộc vào giá trị của hợp đồng và tùy theo tính chất
của từng thương vụ. Tuy nhiên, thông thường, số tiền bảo lãnh chiếm tỉ lệ 5-
10% trị giá hợp đồng kinh tế. Thời hạn thư bảo lãnh thường gắn liền với giá trị
lưu hành của hợp đồng cơ sở.
d, Bảo lãnh bảo hành (Maitenance Guarantee).
Bảo lãnh bảo hành dùng cho mục đích đảm bảo chất lượng sản phẩm,
công trình trong suốt thời gian bảo hành. Với bảo lãnh này, người bán hoặc chủ
thầu phải thực hiện trách nhiệm bảo hành hàng hóa sau khi giao, công trình sau
khi hoàn thiện. Trong trường hợp Người được bảo lãnh bị phạt tiền do không
thực hiện đúng các thỏa thuận trong hợp đồng bảo hành mà không nộp hoặc nộp
không đủ tiền phạt cho bên bị vi phạm thì ngân hàng phát hành sẽ thực hiện
nghĩa vụ đã cam kết.
Giá trị thư bảo lãnh thường từ 2-5% giá trị hợp đồng.
Thời hạn của bảo lãnh là từ khi bắt đầu lắp ráp, sử dụng thiết bị cho đến
khi hết thời gian bảo hành.
8
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
e, Bảo lãnh thanh toán (Payment Guarantee).
Bảo lãnh thanh toán là cam kết của ngân hàng sẽ thanh toán thay cho
Người được bảo lãnh trong trường hợp Người được bảo lãnh không thực hiện
đúng điều khoản hợp đồng.
Do bản chất của bảo lãnh này nó thường có những điều kiện trả tiền
mang tính khách quan hơn là các bảo lãnh vô điều kiện khác. Nó thường yêu cầu
người hưởng xuất trình các chứng từ chứng minh việc không thực hiện nghĩa vụ
trả tiền hàng của người mua và có thể được xác thực bởi bên thứ ba như hải
quan cửa khẩu. Thông thường bảo lãnh thanh toán bằng 100% giá trị hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh thanh toán do các bên thỏa thuận, thường kết
thúc khi việc thanh toán hoàn tất. Thời hạn và giá trị của bảo lãnh thanh toán có
thể giảm dần theo tiến độ thanh toán cho người thụ hưởng.
f, Bảo lãnh hoàn trả (Repayment Guarantee).
Bảo lãnh hoàn trả là một bảo lãnh do ngân hàng phát hành cho Người thụ
hưởng bảo lãnh về việc đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả tiền ứng trước của Người yêu
cầu được bảo lãnh theo hợp đồng đã ký kết với Người thụ hưởng bảo lãnh.
Trường hợp Người được bảo lãnh vi phạm các cam kết với Người thụ hưởng
bảo lãnh và phải hoàn trả tiền ứng trước nhưng không hoàn trả hoặc hoàn trả
không đầy đủ số tiền ứng trước cho Người thụ hưởng bảo lãnh thì Ngân hàng sẽ
hoàn trả số tiền ứng trước cho người thụ hưởng bảo lãnh. Bảo lãnh này chủ yếu
được phát hành cho các chủ nợ. Đối tượng được đảm bảo là các hợp đồng tín
dụng, hợp đồng tài trợ, hoặc các tín dụng thư thương mại có điều khoản ứng
trước (advance/ down payment term).
Bảo lãnh hoàn trả chỉ có hiệu lực khi bên được bảo lãnh nhận được tiền
ứng trước.Trong thương mại, người bán có thể nhận được số tiền này thường từ
10-30% giá trị hợp đồng. Để đảm bảo việc hoàn trả, người mua yêu cầu bảo lãnh
từ ngân hàng người bán với giá trị đúng bằng số tiền ứng trước( có hoặc không
cộng thêm lãi phát sinh).
9
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Giá trị bảo lãnh có thể giảm dần theo kỳ hạn trả nợ hoặc tiến độ công
trình, tiến độ giao hàng.
a. Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C).
Thư tín dụng dự phòng là loại tín dụng chứng từ hoặc một thỏa thuận
tương tự, trong đó ngân hàng cam kết với người thụ hưởng:
- Trả môt khoản tiền mà người yêu cầu mở tín dụng thư đã thanh toán
hoặc ứng trước.
- Thanh toán một khoản nợ của người mở
- Bồi thường thiệt hại do người mở không thực hiện được nghĩa vụ của
mình.
L/C dự phòng khác với L/C thương mại ở chỗ ở đây không phải là một
phương tiện thanh toán mà là một phương thức bảo đảm hợp đồng. Việc thanh
toán chỉ xảy ra khi có sự vi phạm hợp đồng của người xin mở L/C. Người hưởng
chỉ xuất trình các chứng từ khiếu nại đòi tiền đúng như trong L/C đã quy định.
b. Bảo lãnh vận đơn (Bill of lading Guarantee).
Mục đích của bảo lãnh này là nhằm bảo vệ những người có quyền lợi
chính đáng trước sự lợi dụng vận đơn. Trị giá bảo lãnh từ 100-150% giá trị hàng
hóa để có thể bù đắp thiệt hại phát sinh. Bảo lãnh vận đơn gồm hai loại chính:
- Người xuất khẩu là người đề nghị phát hành
- Người nhập khẩu là người đề nghị phát hành
c. Bảo lãnh thuế quan (Customs Guarantee).
Bảo lãnh thuế quan được sử dụng nhiều trong lĩnh vực nhập khẩu. Theo
quy định của các quốc gia thì hàng hóa nhập khẩu phải được nộp thuế trong một
thời hạn nhất định. Nhưng trong một số trường hợp người nhập khẩu chưa nộp
hoặc nộp chưa đầy đủ số thuế theo quy định thì họ thường yêu cầu ngân hàng
đứng ra bảo lãnh cho việc nộp thuế này. Người được bảo lãnh là người nhập
khẩu còn người thụ hưởng là Hải quan.
d. Bảo lãnh thương phiếu (Aval).
10
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Ngân hàng phát hành bảo lãnh thương phiếu với cam kết rằng ngân hàng
sẽ trả tiền cho người hưởng khi thương phiếu đến hạn trả tiền mà người được
bảo lãnh không thực hiện các trách nhiệm về tài chính của mình như đã quy
định. Với hình thức bảo lãnh này phải ghi rõ nội dung và kèm theo chữ kí của
đại diện đứng ra bảo lãnh. Ngân hàng chịu trách nhiệm đến mức như trách
nhiệm của người được bảo lãnh đối với bên thụ hưởng trừ khi ngân hàng đã quy
định trên thương phiếu.
Thương phiếu gồm hai loại là hối phiếu và kỳ phiếu, do vậy, bảo lãnh
thương phiếu cũng gồm hai loại là:
- Bảo lãnh hối phiếu: Ngân hàng phát hành bảo lãnh hối phiếu nhằm đảm
bảo việc thanh toán của người có nghĩa vụ trả tiền ghi trên hối phiếu (Drawee).
- Bảo lãnh kỳ phiếu: Ngân hàng bảo lãnh cho người ký phát kỳ phiếu
(Drawer) tức là người nhập khẩu.
e. Bảo lãnh sai sót chứng từ có sai biệt (Discrepencies Guarantee).
Chứng từ trong phương thức thanh toán nhờ thu và phương thức tín dụng
chứng từ nếu có sai biệt thì ngân hàng nước xuất khẩu không thể chuyển chứng
từ để đòi tiền người nhập khẩu trừ khi người xuất khẩu phải có thư đảm bảo
(Letter of Guarantee) về các sai biệt đó, và sẽ cam kết bồi thường thiệt hại xảy
ra đối với việc giao hàng hoặc quá trình thực hiện hợp đồng. Thư bảo lãnh do
người xuất khẩu viết ra này cần phải có bảo lãnh của ngân hàng thương mại thì
mới có độ tin cậy. Nói cách khác, nếu như người xuất khẩu không thực hiện
nghĩa vụ của mình như đã cam kết để được chấp nhận các chứng từ nói trên thì
ngân hàng bảo lãnh chứng từ có sai biệt sẽ đứng ra thực hiện các nghĩa vụ đó
1.4.2. Phân loại theo phương thức phát hành
a. Bảo lãnh trực tiếp
Bảo lãnh trực tiếp là một bảo lãnh mà trong đó ngân hàng phát hành bảo
lãnh chịu trách nhiệm bảo lãnh trực tiếp cho bên được bảo lãnh mà không cần
thông qua Ngân hàng phục vụ Người thụ hưởng. Nếu người thụ hưởng ở nước
ngoài thì bảo lãnh sẽ được thông báo qua Ngân hàng đại lý của Ngân hàng phát
11
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
hành tại nước đó. Ngân hàng đại lý chỉ chịu trách nhiệm thông báo thư bảo lãnh
chứ không được chỉ định là Ngân hàng thanh toán. Việc thanh toán bảo lãnh
giữa Ngân hàng phát hành và Người thụ hưởng bảo lãnh được tiến hành trực tiếp
mà không thông qua Ngân hàng thông báo hoặc Ngân hàng thông báo đóng vai
trò như là ngân hàng chuyển tiền chứ không chịu trách nhiệm trong quá trình
thanh toán đó. Lợi thế của bảo lãnh trực tiếp là Người được bảo lãnh không phải
mất thêm khoản phí hoa hồng cho ngân hàng nước ngoài. Tuy nhiên đối với
người thụ hưởng thì loại bảo lãnh này thường có độ rủi ro cao do khoảng cách
xa xôi, thủ tục phức tạp.
b. Bảo lãnh gián tiếp.
Bảo lãnh gián tiếp là một loại bảo lãnh mà trong đó Ngân hàng bảo lãnh
phát hành bảo lãnh theo chỉ thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho
Người được bảo lãnh dựa trên một bảo lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng. Trong
bảo lãnh gián tiếp thì Ngân hàng phục vụ người yêu cầu bảo lãnh không trực
tiếp phát hành bảo lãnh mà ủy thác cho một ngân hàng khác (thường là ngân
hàng nước ngoài) phát hành bảo lãnh nhưng với trách nhiệm của chính mình.
Nghĩa là trách nhiệm trả tiền cho Người thụ hưởng khi có vi phạm có thể thuộc
về Ngân hàng phát hành bảo lãnh nhưng ngân hàng này có quyền đòi lại tiền của
ngân hàng trong nước.
c. Đồng bảo lãnh.
Đồng bảo lãnh là việc nhiều tổ chức tín dụng cùng bảo lãnh cho một
nghĩa vụ của khách hàng thông qua một tổ chức tín dụng làm đầu mối. Đồng
bảo lãnh được sử dụng trong các trường hợp:
- Nhu cầu bảo lãnh vượt quá giới hạn tối đa được phép bảo lãnh của một
ngân hàng.
- Nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng.
- Khả năng nguồn vốn của một ngân hàng không đáp ứng được nhu cầu
vốn của một dự án.
12
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Các ngân hàng phối hợp với nhau, chọn một ngân hàng đứng ra làm ngân
hàng bảo lãnh chính thức phát hành thư bảo lãnh cho toàn bộ số tiền và phân
công thực hiện các nghĩa vụ trong nghiệp vụ bảo lãnh. Ngân hàng bảo lãnh
chính có thể thanh toán toàn bộ số tiền và sau đó có quyền đòi lại ở các ngân
hàng thành viên.
1.5. Các yếu tố trong bảo lãnh ngân hàng
1.5.1. Nội dung thư và hợp đồng bảo lãnh của Ngân hàng
Nội dung của hợp đồng bảo lãnh.
“Hợp đồng bảo lãnh” là văn bản thoả thuận giữa bên bảo lãnh với bên
được bảo lãnh về quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong việc bảo lãnh và hoàn
trả.
Hợp đồng bảo lãnh thường có những nội dung sau đây:
- Tên, địa chỉ của bên bảo lãnh.
- Tên, địa chỉ của bên được bảo lãnh.
- Số tiền, thời hạn và phí bảo lãnh.
- Mục đích, phạm vi, đối tượng bảo lãnh.
- Điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Hình thức bảo đảm cho nghĩa vụ bảo lãnh, giá trị tài sản làm đảm bảo.
- Quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Quy định về bồi hoàn sau khi bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Giải quyết tranh chấp phát sinh.
- Chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Những thỏa thuận khác.
Nội dung thư (cam kết) bảo lãnh.
“Cam kết bảo lãnh” là cam kết đơn phương bằng văn bản của bên bảo
lãnh hoặc văn bản thoả thuận giữa bên bảo lãnh, bên được bảo lãnh với bên
nhận bảo lãnh về việc bên bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho bên
được bảo lãnh khi bên được bảo lãnh không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết
với bên nhận bảo lãnh
13
Website: http://www.docs.vn Email : lienhe@docs.vn Tel : 0918.775.368
Thư bảo lãnh thường có những nội dung sau đây:
- Tên gọi bảo lãnh.
- Số tham chiếu, ngày phát hành.
- Tên, địa chỉ của Ngân hàng bảo lãnh, Người được bảo lãnh, Người thụ
hưởng.
- Đối tượng được bảo lãnh: hợp đồng cơ sở, ngày hợp đồng và các chi tiết
có liên quan.
- Số tiền bảo lãnh
- Phạm vi và thời hạn hiệu lực của bảo lãnh
- Hình thức và các điều kiện thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
- Quyền và nghĩa vụ của các bên.
- Giải quyết tranh chấp phát sinh
- Chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của các bên
- Các nội dung khác.
1.5.2. Phí bảo lãnh
Phí bảo lãnh chính là chi phí mà Bên được bảo lãnh phải trả cho Ngân
hàng do được hưởng dịch vụ này. Phí bảo lãnh phải đảm bảo bù đắp được các
chi phí mà Ngân hàng bỏ ra, có tính đến sự rủi ro mà Ngân hàng phải gánh chịu.
Xét dưới góc độ một sản phẩm dịch vụ thì phí bảo lãnh chính là giá cả của dịch
vụ đó
Phí bảo lãnh có thể tính bằng số tuyệt đối hoặc trên cơ sở tỷ lệ phí.
Phí bảo lãnh 1 năm theo tỉ lệ phí được tính theo công thức:
Phí bảo lãnh =
Phí bảo lãnh được tính vào phí dịch vụ của Ngân hàng và đóng góp trực
tiếp vào lợi nhuận của Ngân hàng.
1.6. Rủi ro của bảo lãnh ngân hàng
Bảo lãnh ra đời với mục đích là giảm thiểu rủi ro của hoạt động kinh tế
thương mại. Tuy nhiên bản thân hoạt động bảo lãnh của ngân hàng cũng hàm
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét