5
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài:
Đề tài nghiên cứu hoạt động của ngành du lòch Tỉnh Bà Ròa-Vũng Tàu, có xem
xét đến các mối quan hệ phát triển của ngành trong phạm vi cả nước. Đề tài không
đi sâu phân tích những vấn đề mang tính chuyên môn mà chỉ phân tích những vấn
đề tổng quát phục vụ cho việc xây dựng và lựa chọn chiến lược phát triển ngành du
lòch của Tỉnh Bà Ròa-Vũng Tàu.
4.Phương pháp nghiên cứu:
Trong đề tài này em chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
phương pháp nghiên cứu mô tả, phương pháp thống kê dự báo, phương pháp so
sánh, phương pháp tổng hợp.
5.Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương như sau:
Chương I: Cơ sở lý luận của đề tài.
Chương II: Thực trạng ngành du lòch Tỉnh Bà Ròa-Vũng Tàu.
Chương III: Đònh hướng chiến lược và một số giải pháp nhằm phát triển
ngành du lòch Tỉnh Bà Ròa-Vũng Tàu đến năm 2015.
6
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1.Một Số Lý Luận Cơ Bản Về Chiến Lược:
1.1.1.Khái niệm và vai trò của chiến lược :
Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về chiến lược. Theo Fred R.David thì
“chiến lược là những phương tiện để đạt đến những mục tiêu dài hạn”; Trong quản
trò kinh doanh thì “chiến lược là một tập hợp những mục tiêu và các chính sách cũng
như các kế hoạch chủ yếu để đạt được các mục tiêu đó” [12,14]; Theo Alfred
Chandler-đại học Harvard-thì “chiến lược là sự xác đònh các mục tiêu cơ bản lâu dài
của tổ chức, đồng thời là sự vạch ra và lựa chọn một cách thức, một quá trình hành
động và phân bố các nguồn lực cần thiết để thực hiện mục tiêu đó; Còn theo phương
pháp C3 thì “ chiến lược của một doanh nghiệp là một hệ thống những phương pháp
mang tính chất lâu dài nhằm củng cố vò thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên
thương trường”.
Tuy cách tiếp cận có khác nhau nhưng nội dung bao gồm :
- Xác đònh các mục tiêu ngắn hạn và dài hạn của tổ chức
- Đưa ra và chọn lựa các phương án thực hiện
- Triển khai và phân bổ các nguồn lực để thực hiện các mục tiêu đó.
Vai trò của chiến lược : Chúng ta dễ ràng thấy được vai trò quan trọng của
chiến lược trong việc phát triển kinh tế. Các quốc ra trên thế giới từ lâu đã biết vận
dụng chiến lược vào việc phát triển kinh tế và đã có những bước nhảy thần kỳ. Có
thể nêu ra một số trường hợp điển hình như sau:
- Nhật Bản: Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nền kinh tế nước Nhật gần như
kiệt quệ nhưng chỉ sau hơn hai thập kỷ đã trở thành một cường quốc kinh tế và công
nghiệp đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ). Kỳ tích đó có được là do nhiều nguyên
nhân cả về khách quan lẫn chủ quan, nhưng ý nghóa quyết đònh là những nỗ lực của
con người. Nhật đã có những chiến lược đúng đắn tập trung vào các lónh vực sau:
Chiến lược tích lũy vốn ở mức rất cao liên tục trong mấy thập kỷ. Chiến lược xây
dựng cơ cấu sản xuất hướng mạnh vào công nghiệp trong đó tập trung vào công
nghiệp chế tạo với kỹ thuật hiện đại (năng lượng, luyện kim, cơ khí điện tử, hóa
chất) và hướng mạnh vào xuất khẩu, trở thành nước đi đầu áp dụng chiến lược
hướng ngoại; Thực thi các chiến lược khoa học và công nghệ thông qua các chính
7
sách hiệu quả, khôn ngoan; Vận dụng chiến lược quản lý kết hợp các yếu tố hiện
đại với các yếu tố truyền thống và đặc điểm dân tộc, kết hợp thế mạnh của phương
Tây với truyền thống phương Đông; Chiến lược ở tầm vó mô tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp trong nước phát triển như chính sách thuế, giá cả…
- Hàn Quốc: Sau cuộc chiến tranh 1950-1953, kinh tế nước này bò tàn phá
nặng nề nhưng sau một số năm tái thiết và xây dựng họ đã trở thành một nước công
nghiệp mới, một con rồng của Châu Á là nhờ những chiến lược đúng đắn như sau:
Chiến lược hướng mạnh vào xuất khẩu; Chiến lược phát triển mạnh công nghiệp
nặng và công nghiệp hóa chất, tranh thủ đi vào công nghệ hiện đại để vừa từng
bước thay thế nhập khẩu vừa từng bước tạo nguồn xuất khẩu mới; Chiến lược hiện
đại hóa nông thôn, chú trọng hỗ trợ sản xuất lương thực; Chiến lược hỗ trợ khuyến
khích các công ty trong nước mở rộng sản xuất, kinh doanh; Chiến lược thu hút vốn
đầu tư từ bên ngoài, vay vốn và mua quyền sản xuất.
- Malaysia, Indonesia và Thailand: Họ đã theo đuổi những chiến lược trung
gian kết hợp với các khía cạnh ổn đònh và đònh hướng kinh doanh với việc thay đổi
các mức độ can thiệp. Do được thừa hưởng nguồn tài nguyên phong phú, các nước
này đã tập trung khai thác và chế biến nguyên liệu thô. Họ theo đuổi chiến lược
xuất khẩu thông qua hợp tác ngoại thương và đầu tư trực tiếp. Những nước này cũng
theo đuổi chính sách bảo hộ và kích thích một số ngành công nghiệp nhất đònh phát
triển, những yếu tố quan trọng trong quan điểm chiến lược của họ là mở cửa thương
mại, thu hút đầu tư nước ngoài, ổn đònh chính trò và ổn đònh kinh tế vó mô. Trong
thập kỷ 80, chiến lược ổn đònh và mở cửa nền kinh tế là cơ sở lý tưởng để thu hút
đầu tư từ Nhật và các NIC. Họ đã nổi lên là một nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất
thế giới và thành công của họ là sự dung hòa những chính sách với những đặc thù
kinh tế.
- Việt Nam: Nền kinh tế chúng ta cũng gặp rất nhiều khó khăn vì chiến tranh
nhưng với chiến lược ổn đònh và phát triển kinh tế-xã hội đến năm 2000 được thông
qua tại đại hội VII và một số văn kiện khác, chúng ta đã vượt qua những khó khăn
bước đầu và từng bước đạt được những thắng lợi nhất đònh. Từ đó đến nay chúng ta
cũng đã vạch ra những chiến lược cụ thể như: giữ vững ổn đònh chính trò, củng cố
quốc phòng, mở cửa nền kinh tế thu hút đầu tư, đẩy mạnh xuất khẩu, đầu tư có chọn
lựa, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực… Thành tựu mà chúng ta đạt được là rất
quan trọng và thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà Nước.
8
1.1.2.Chiến lược phát triển ngành:
Chiến lược phát triển ngành là loại chiến lược mà nội dung của nó cũng bao
gồm các yếu tố chòu ảnh hưởng của chế độ chính trò, xã hội, cách thức phát triển của
một đất nước, hoàn cảnh lòch sử và trình độ phát triển ngành. Chiến lược phát triển
ngành cũng phải xác đònh mục tiêu chính cần đạt đến dựa trên nguồn lực, cơ cấu
kinh tế, phương thức và cơ chế quản lý kinh tế, trong đó phải xem xét con người là
nhân tố quan trọng mang tính quyết đònh. Khi xây dựng chiến lược chúng ta phải xét
đến tính đa dạng và khác nhau giữa các chiến lược do nhiều yếu tố ảnh hưởng, trong
đó chủ yếu là:
- Sự khác biệt giữa những nét cơ bản của nội dung chiến lược sẽ được thể hiện
phụ thuộc vào chế độ chính trò xã hội mà quốc gia đó đã lựa chọn như: Tư Bản Chủ
Nghóa, Quân Chủ Lập Hiến, Xã Hội Chủ Nghóa, Dân Chủ Nhân Dân…
- Hoàn cảnh lòch sử và trình độ phát triển ở từng giai đoạn của đất nước gắn
với những yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ đặt ra trong giai đoạn đó, như: Chiến
lược thời kỳ hậu chiến tranh, khôi phục kinh tế, giai đoạn tiền đề cho công nghiệp
hóa… Ở những nước phát triển, họ rất chú trọng đến những chiến lược ứng với những
giai đoạn cụ thể trong tiến trình phát triển.
- Mục tiêu chính cần đạt đến của chiến lược: Do đó đã xuất hiện những chiến
lược như chiến lược xóa đói giảm nghèo, giảm tỷ lệ thất nghiệp, chiến lược thực
hiện nhiệm vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước…
- Gắn với nguồn lực, ta có thể các loại chiến lược ứng với những nội dung
khác nhau: Chiến lược nội sinh (dựa vào nội lực), chiến lược ngoại sinh (dựa vào
ngoại lực) hoặc chiến lược hỗn hợp, chiến lược dựa vào cách mạng khoa học công
nghệ…
- Căn cứ vào cơ cấu kinh tế, ta có thể xây dựng các chiến lược như: chiến lược
ưu tiên phát triển một số ngành then chốt, chiến lược thay thế nhập khẩu, chiến lược
hướng về xuất khẩu, chiến lược hỗn hợp…
- Căn cứ vào phương thức và cơ chế quản lý kinh tế (mô hình quản lý), ta có
thể có các chiến lược kế hoạch hóa tập trung, chiến lược theo cơ chế thò trường hoặc
chiến lược phát triển theo cơ chế thò trường nhưng có sự điều tiết của nhà nước.
- Con người là nhân tố cơ bản đóng vai trò quyết đònh đối với việc thực hiện
chiến lược. Mọi chiến lược được xây dựng là nhằm phát triển đất nước, đáp ứng nhu
9
cầu của con người. Phải phát huy được nhân tố con người như là một chủ thể, một
động lực cơ bản của chiến lược.
1.1.3.Quy trình hoạch đònh chiến lược:
1.1.3.1.Xác đònh mục tiêu:
Mục tiêu là khái niệm dùng để chỉ những kết quả cụ thể mà doanh nghiệp
mong muốn đạt được trong một giai đoạn nhất đònh và là cơ sở, nền tảng cho việc
xây dựng, hình thành chiến lược. Mục tiêu phải phù hợp với thực tế và phải xác đònh
được thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc cũng như những căn cứ để xác đònh thứ
tự ưu tiên trong việc phân bổ nguồn lực.
1.1.3.2.Phân tích môi trường hoạt động:
Phân tích môi trường bên ngoài: bao gồm môi trường vó mô và môi trường vi
mô:
• Các yếu tố thuộc môi trường vó mô: bao gồm các yếu tố như yếu tố chính
trò, pháp luật, kinh tế, văn hóa-xã hội, công nghệ…trong quá trình xây
dựng chiến lược chúng ta không thể bỏ qua phân tích các yếu tố này.
• Các yếu tố thuộc môi trường vi mô: đây là các yếu tố tác động trực tiếp
đến ngành như yếu tố nhà cung cấp, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, các
đối thủ tiềm năng, các sản phẩm thay thế.
Phân tích môi trường bên trong: đây là các yếu tố trong nội bộ doanh
nghiệp, các yếu tố này ta có thể kiểm soát được. Các yếu tố như tình hình sản xuất,
tài chính, kỹ thuật, nhân sự, phân phối, tiếp thò… sẽ giúp cho nhà hoạch đònh chiến
lược thấy được điểm mạnh, điểm yếu so với đối thủ cạnh tranh.
1.1.3.3.Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE):
Ma trận này cho phép các nhà chiến lược tóm tắt và đánh giá các thông tin
kinh tế, xã hội, văn hóa, nhân khẩu, đòa lý, chính trò, luật pháp, chính phủ, công
nghệ và cạnh tranh. Có 5 bước trong việc phát triển một ma trận đánh giá các yếu tố
bên ngoài:
- Liệt kê các yếu tố bên ngoài chủ yếu.
- Phân loại tầm quan trọng từ 0.0 (không quan trọng) đến 1.0 (rất quan
trọng) cho mỗi yếu tố. Tổng số các mức phân loại được ấn đònh cho các
nhân tố này phải bằng 1.0.
- Phân loại từ 1 đến 4 cho mỗi yếu tố quyết đònh sự thành công để cho thấy
cách thức mà các chiến lược hiện tại của công ty phản ứng với yếu tố
10
này. Trong đó, 4 là phản ứng tốt, 3 là phản ứng trên mức trung bình, 2 là
phản ứng trung bình và 1 là phản ứng ít.
- Nhân tầm quan trọng của mỗi biến số với loại của nó để xác đònh số điểm
về tầm quan trọng.
- Cộng tổng số điểm về tầm quan trọng cho mỗi biến số để xác đònh tổng
số điểm quan trọng cho tổ chức. Số điểm trung bình là 2.5, nếu tổ chức có
tổng số điểm nhỏ hơn 2.5 tức là chiến lược của tổ chức đề ra không tận
dụng tốt các cơ hội hoặc không tránh được các mối đe dọa từ bên ngoài,
còn nếu lớn hơn 2.5 tức là chiến lược hiện tại của tổ chức phản ứng rất tốt
với các cơ hội và mối đe dọa hiện tại.
1.1.3.4.Ma trận đánh giá các yếu tố bên trong (IFE):
Để phát triển một ma trận IFE thì nhận xét trực giác là cần thiết, vì vậy về mặt
hình thức của phương pháp khoa học phải được diễn dòch để cho thấy rằng đây là kỹ
thuật hiệu quả nhất. Ma trận này cho phép tóm tắt và đánh giá những điểm mạnh,
điểm yếu quan trọng. Cách xây dựng ma trận này cũng tương tự như cách xây dựng
ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài (EFE). Riêng ở bước thứ 3 thì phân loại từ 1
đến 4 cho mỗi yếu tố như sau: 1 (là điểm yếu nhất), 2 (điểm yếu nhỏ nhất), 3 (điểm
mạnh nhỏ nhất), 4 (điểm mạnh lớn nhất).
1.1.3.5.Ma trận điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ (SWOT):
Ma trận này giúp cho nhà quản trò phát triển 4 loại chiến lược sau:
- Các chiến lược SO (điểm mạnh-cơ hội): Sử dụng những điểm mạnh bên
trong của tổ chức để tận dụng những cơ hội bên ngoài.
- Các chiến lược ST (điểm mạnh-nguy cơ): Sử dụng điểm mạnh của tổ chức
để tránh khỏi hay giảm thiểu ảnh hưởng của những mối đe dọa từ bên
ngoài.
- Các chiến lược WO (điểm yếu-cơ hội): Nhằm cải thiện những điểm yếu
bên trong bằng cách tận dụng những cơ hội bên ngoài.
- Các chiến lược WT (điểm yếu-nguy cơ): Là những chiến lược phòng thủ
nhằm giảm thiểu những điểm yếu bên trong và tránh khỏi những mối đe
dọa từ môi trường bên ngoài.
Để lập một ma trận SWOT phải trải qua 8 bước như sau:
1. Liệt kê các điểm mạnh chủ yếu bên trong của tổ chức.
2. Liệt kê những điểm yếu chính bên trong của tổ chức.
11
3. Liệt kê các cơ hội lớn bên ngoài của tổ chức.
4. Liệt kê các mối đe dọa chủ yếu bên ngoài tổ chức.
5. Kết hợp S-O và ghi kết quả vào ô tương ứng.
6. Kết hợp S-T và ghi kết quả.
7. Kết hợp W-O và ghi kết quả.
8. Kết hợp W-T và ghi kết quả của chiến lược này.
Mục đích của mỗi công cụ kết hợp là để đề ra các chiến lược khả thi có thể
chọn lựa, chứ không phải chọn lựa hay quyết đònh chiến lược nào là tốt nhất. Việc
lựa chọn chiến lược nào phù hợp là còn phụ thuộc vào mục tiêu của từng tổ chức.
1.1.3.6.Lựa chọn chiến lược:
Căn cứ vào chức năng, mục tiêu, nhiệm vụ của mình mà tổ chức lựa chọn các
phương án chiến lược phù hợp trong số những chiến lược được hình thành. Ngoài ra
chiến lược còn phải đáp ứng hiệu quả kinh tế, xã hội mà tổ chức yêu cầu. Việc lựa
chọn chiến lược đúng đắn, phù hợp với tổ chức sẽ là “kim chỉ nam” cho sự thành
công của tổ chức đó.
1.2.Đặc điểm của ngành du lòch:
1.2.1.Khái niệm du lòch:
Hiện nay có rất nhiều tác giả đưa ra khái niệm du lòch , ta có thể nêu ra một số
khái niệm như sau: theo tổ chức du lòch thế giới (WTO) thì “Du lòch bao gồm những
hoạt động của những người đi đến một nơi khác ngoài nơi cư trú thường xuyên của
mình trong thời hạn không quá một năm liên tục để vui chơi, vì công việc hay vì
mục đích khác không liên quan đến hoạt động kiếm tiền ở nơi mà họ đến”; Đối với
Việt Nam, khái niệm du lòch được nêu trong Pháp Lệnh Du Lòch Việt Nam công bố
ngày 20/2/1999 như sau:”Du lòch là hoạt động của con người ngoài nơi lưu trú
thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng
trong một khoảng thời gian nhất đònh”; Còn theo các chuyên gia Quốc tế về du lòch
học (AIEST):”Du lòch là sự tổng hòa các hiện tượng và quan hệ do việc lữ hành và
tạm thời cư trú của những người không đònh cư dẫn tới. Số người này không đònh cư
lâu dài vả lại cũng không làm bất kỳ hoạt động nào để kiếm tiền”.
Với tư cách là đối tượng nghiên cứu của du lòch học, khái niệm du lòch phản
ánh các mối quan hệ bản chất bên trong, làm cơ sở cho việc nghiên cứu các xu
hướng và các quy luật phát triển của nó.
12
1.2.2.Sản phẩm du lòch:
Khái niệm: có nhiều khái niệm về sản phẩm du lòch, nó tùy thuộc vào cách
tiếp cận của tác giả. Ta có thể lấy một ví dụ về khái niệm sản phẩm du lòch như
sau:” Sản phẩm du lòch là sự kết hợp những dòch vụ và phương tiện vật chất trên cơ
sở khai thác các tiềm năng du lòch nhằm cung cấp cho khách một khoảng thời gian
thú vò, một kinh nghiệm du lòch trọn vẹn và sự hài lòng”- Từ điển du lòch của nhà
xuất bản Berlin 1984 [13,101].
Đặc tính: Sản phẩm du lòch có các đặc tính như sau:
- Sản phẩm được bán cho du khách trước khi họ nhìn thấy sản phẩm.
- Sản phẩm du lòch rất dễ bò bắt trước.
- Sản phẩm được hình thành từ các ngành kinh doanh khác nhau.
- Sản phẩm du lòch luôn ở xa khách hàng.
- Sản phẩm du lòch không có tính tồn kho.
- Sản phẩm du lòch thường có tính thời vụ và chòu ảnh hưởng rất lớn từ các
yếu tố như chính trò, văn hóa, kinh tế, điều kiện tự nhiên.
- Trong thời gian ngắn thì lượng cung là cố đònh.
- Khách mua hàng thường ít trung thành với sản phẩm.
Thành phần: Cách sắp xếp theo tổ chức du lòch thế giới:
- Di sản thiên nhiên.
- Di sản năng lượng.
- Di sản về con người.
- Hình thái xã hội.
- Hình thái về thiết kế chính trò, pháp chế.
- Dòch vụ, cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất.
- Những hoạt động kinh tế tài tính.
1.2.3.Vai trò của ngành du lòch trong nền kinh tế:
Hiện nay ngành này đóng ghóp rất lớn cho nền kinh tế mỗi nước cũng như
toàn cầu (chiếm khoảng 11% GDP toàn cầu). Một số nước có ngành du lòch phát
triển mạnh như Tây Ban Nha và các nước vùng Caribê, thì tỷ lệ đóng ghóp của
ngành này là rất lớn trong cơ cấu GDP của họ.
Ngành du lòch không những mang lại nguồn thu ngoại tệ rất lớn mà còn thu hút
rất nhiều lao động, tạo ra nhiều việc làm mới.
13
Tại Việt Nam, du lòch ghóp phần tích cực thực hiện chính sách mở cửa, thúc
đẩy sự đổi mới và cũng ghóp phần thúc đẩy các ngành khác. Cũng thông qua du lòch
mà việc mở rộng giao lưu văn hóa được dễ ràng hơn, thông qua đó làm tăng sự đoàn
kết hiểu biết giữa các vùng, các dân tộc khác nhau.
Với tốc độ phát triển kinh tế như hiện nay thì nhu cầu du lòch càng trở nên cần
thiết và quan trọng trong đời sống tinh thần của mỗi người dân.
Ngành du lòch ngày càng được cải thiện, đa dạng hóa sản phẩm do nhu cầu đòi
hỏi khắt khe hơn của khách hàng. Khách hàng bây giờ không đơn thuần là chỉ đi
nghỉ dưỡng mà còn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá, học hỏi, giao lưu… tại những nơi
họ muốn đến. Vì vậy, việc đầu tư nghiên cứu ngành này là hết sức quan trọng và
cấp thiết.
Đất nước chúng ta đang là điểm đến lý tưởng của nhiều du khách nước ngoài,
thể hiện ở tốc độ tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước, mang lại nguồn thu ngoại
tệ rất lớn (gần 2 tỷ USD) cho đất nước. Cũng thông qua ngành này chúng ta đang
cho thế giới thấy rằng: Việt Nam đang trong thời kỳ đổi mới, Việt Nam đang năng
động phát triển kinh tế và sẵn sàng cho việc hội nhập với thế giới.
1.3.Một số bài học kinh nghiệm phát triển ngành du lòch:
Trong đề tài này, em chỉ muốn nêu ra một số bài học kinh nghiệm thu hút
khách du lòch của các nước có ngành du lòch phát triển trong khu vực. Các nước như
Thailand, Singapore, Malaysia, Macao, Indonesia, Trung Quốc… đều có ngành du
lòch rất phát triển. So với lượng khách du lòch đến Việt Nam thì lượng khách đến với
họ tăng rất nhanh trong những năm vừa qua và doanh thu từ du lòch cũng là rất lớn.
Việc họ thành công như vậy là do họ có những chiến lược phù hợp để khai
thác thế mạnh về tự nhiên, lòch sử, văn hóa…và những nghệ thuật lôi cuốn khách
hàng. Chúng ta cũng dễ ràng thấy được sự thành công của họ là do họ tạo ra nhiều
sân chơi nhằm kéo dài thời gian lưu trú của du khách,biết kết hợp các loại hình kinh
doanh như mua sắm, thưởng thức đặc sản của đòa phương, giải trí…mà các nhà thiết
kế các Tour du lòch đã bố trí hợp lý, bài bản từ trước.
Thành công của họ cũng cần phải xem xét đến khâu điều hành, quản lý, từ cấp
chính quyền đến các doanh nghiệp tham ra khai thác du lòch. Họ có sự tham gia của
nhiều ngành, nhiều đòa phương nhằm giảm giá tour du lòch thu hút khách hàng, kết
quả là những Tour du lòch giá rẻ của họ đã làm cho chúng ta mất đi lợi thế cạnh
tranh.
14
Khai thác kinh doanh du lòch của họ cũng không đơn thuần giống nhau:
Malaysia, Hồng Kông kết hợp du lòch với mua sắm (họ có những trung tâm mua sắm
rất lớn). Singapore thu hút khách du lòch bằng môi trường sống tốt và sự tráng lệ của
mình, Indonesia phát huy thế mạnh tự nhiên (đảo Bali…), Macao thu hút khách thông
qua những tour du lòch đánh bạc, Trung Quốc phát huy thế mạnh về du lòch văn hóa,
lòch sử, võ thuật và nhiều món ăn ngon hay như Thailand công nhận du lòch Sex…
Mỗi quốc gia đều chọn một thế mạnh riêng cho mình, thế mạnh đó có được là do
điều kiện tự nhiên, văn hóa, lòch sử hình thành.
Việt Nam chúng ta có điều kiện tự nhiên ưu đãi, có nhiều bãi biển đẹp, có
nhiều di sản văn hóa của thế giới và đặc biệt là một đất nước có bốn ngàn năm văn
hiến với lòch sử chống ngoại xâm hào hùng… là cơ sở để phát huy thế mạnh du lòch.
Chúng ta luôn học hỏi kinh nghiệm của những nước có ngành du lòch phát triển trên
thế giới cũng như khu vực nhằm áp dụng cho nước nhà. Phát triển du lòch của mỗi
nước phải gắn với nét đặc thù của nước đó, chúng ta không thể sao chép ngành du
lòch đánh bạc của Macao hay du lòch Sex của Thailand cho du lòch của chúng ta.
Kết Luận: Qua nghiên cứu chương I chúng ta thấy :
- Xây dựng chiến lược phải bảo đảm tuân thủ theo các bước như đã nêu ở
trên, phải xác đònh được các mục tiêu dài hạn, các đảm bảo về nguồn lực,
các chính sách cần thiết để thực hiện các mục tiêu đó.
- Nội dung chiến lược được xây dựng rất phong phú và đa dạng với các loại
hình khác nhau. Vì vậy việc xây dựng chiến lược phải được xem xét gắn
liền với các yếu tố ảnh hưởng.
- Việc lựa chọn chiến lược phải phù hợp với mục tiêu và đònh hướng chung
của nhà nước và đặc thù của từng đòa phương.
- Kinh nghiệm từ những nước có ngành du lòch phát triển trên thế giới và
nhất là các nước có điều kiện phát triển ngành du lòch giống như chúng ta
sẽ rất quan trọng, nó sẽ giúp cho chúng ta rất nhiều trong việc lựa chọn
chiến lược phù hợp.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét