b/ Nhập khẩu tự doanh (Nhập khẩu trực tiếp).
Là hoạt động nhập khẩu độc lập của một doanh nghiệp nhập
khẩu trực tiếp. Doanh nghiệp cần tiến hành nghiên cứu thị trường
trong và ngoài nước, tính toán đầy đủ chi phí, đảm bảo kinh
doanh nhập khẩu có lãi, đúng chính sách luật pháp quốc gia cũng
như quốc tế.
Đặc điểm:
- Doanh nghiệp phải chịu mọi rủi ro, tổn thất cũng như lợi
nhuận thu được. Do đó, để có hiệu quả cao đòi hỏi doanh nghiệp
phải thận trọng trong từng bước từ việc nghiên cứu thị trường
cho đến khi bán hàng và thu tiền.
- Doanh nghiệp chỉ cần lập một hợp đồng với đối tác nước
ngoài, còn các hợp đồng liên quan đến khâu tiêu thụ thì có thể lập
sau.
c/ Nhập khẩu liên doanh.
Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá trên cơ sở liên kết một
cách tự nguyện giữa các doanh nghiệp (trong đó có ít nhất một
doanh nghiệp nhập khẩu trực tiếp) nhằm phối hợp cùng nhau giao
dịch và đề ra các chủ trương biện pháp có liên quan đến hoạt
động nhập khẩu, thúc đẩy hoạt động này phát triển theo hướng có
lợi cho các bên tham gia, lãi cùng hưởng rủi ro cùng chịu.
Đặc điểm:
- Các bên tham gia chỉ phải góp một phần vốn nhất định và
tỷ lệ phân chia lãi lỗ phụ thuộc vào tỷ lệ vốn góp giữa các bên.
5
- Doanh nghiệp đứng ra nhập hàng sẽ được kim ngạch
nhập khẩu, nhưng khi đưa hàng về tiêu thụ chỉ được tính doanh
số bán hàng trên số hàng theo tỷ lệ vốn góp và chịu thuế trên
doanh số đó. Doanh nghiệp đứng ra nhập khẩu phải lập hai hợp
đồng:
1. Một hợp đồng với đối tác nước ngoài.
2. Một hợp đồng với đối tác liên doanh.
d/ Nhập khẩu hàng đổi hàng.
Là hình thức nhập khẩu gắn liền với xuất khẩu, phương tiện
thanh toán trong hợp đồng này không phải là tiền mà bằng hàng
hoá. Mục đích nhập khẩu ở đây không phải chỉ thu lãi từ hoạt
động nhập khẩu mà còn nhằm để xuất khẩu được hàng và thu lợi
từ hoạt động xuất khẩu nữa.
Đặc điểm:
- Phương thức này mang lại nhiều lợi ích hơn cho các bên
tham gia hợp đồng và có thể tiến hành cùng một lúc cả hoạt động
xuất và nhập khẩu.
- Hàng hoá xuất và nhập cũng là bạn hàng trong hoạt động
xuất khẩu.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính cả kim
nghạch nhập khẩu trực tiếp, kim nghạch xuất khẩu, doanh số tiêu
thụ trên cả hai loại mặt hàng.
- Để đảm bảo thực hiện hợp đồng, các bên thường sử dụng
các biện pháp sau:
6
+ Dùng thư tín dụng đối ứng: Là loại thư tín dụng mà
trong nội dung của nó có các điều khoản quy định chung. Thư tín
dụng chỉ có hiệu lực khi người mở một thư tín dụng khác có
kim ngạch tương đương.
+ Dùng người thứ ba khống chế chứng từ sở hữu hàng
hoá. Người này chỉ giao chứng từ đó cho người nhận hàng khi
người này đổi lại một chứng từ sở hữu hàng hoá có giá trị tương
đương.
e/ Nhập khẩu tái xuất.
Là hoạt động nhập khẩu hàng hoá không phải để tiêu thụ ở
nội địa mà để xuất sang nước thứ ba nào đó nhằm thu lợi nhuận.
Những hàng nhập khẩu này không được qua chế biến ở nước tái
xuất. Phương thức nhập khẩu này được thực hiện thông qua 3
nước: nước xuất khẩu, nước nhập khẩu, nước tái xuất.
Đặc điểm:
- Doanh nghiệp nhập khẩu ở nước tái xuất phải tính toán
chi phí, ghép mỗi bạn hàng xuất và bạn hàng nhập khẩu, bảo đảm
sao cho có thể thu được số tiền lớn hơn tổng chi phí bỏ ra để tiến
hành hoạt động.
- Doanh nghiệp xuất nhập khẩu trực tiếp được tính kim
ngạch cả xuất và nhập khẩu. Doanh số bán trên trị giá hàng xuất
khẩu đối với các mặt hàng kinh doanh.
- Doanh nghiệp tái xuất lập hai bản hợp đồng:
1. Hợp đồng xuất khẩu
7
2. Hợp đồng nhập khẩu và không chịu thuế xuất nhập
khẩu đối với các mặt hàng kinh doanh.
- Để đảm bảo thanh toán, hợp đồng tái xuất thường sử
dụng thư tín dụng giáp lưng.
- Hàng hoá không nhất thiết phải qua nước tái xuất mà có
thể nhập thẳng về nước thứ ba (các hoạt động giao dịch thì vẫn
liên quan đến nước tái xuất). Doanh nghiệp tái xuất còn có thể có
được những khoản lợi do được thanh toán tiền hàng song lại có
thể trả chậm cho bên xuất khẩu.
Với nhiều phương thức nhập khẩu như vậy, các doanh nghiệp
cần thiết phải tiến hành nghiên cứu kỹ lưỡng môi trường kinh
doanh, để từ đó ứng dụng các phương thức này một cách linh
hoạt với thị trường này, với bạn hàng này, ta có thể dùng phương
thức nào là có lợi hơn, song với thị trường, với bạn hàng khác và
vào một thời điểm khác thì phương thức ấy chưa chắc đã có lợi
bằng các phương thức khác. Không nên áp dụng một hay một vài
phương pháp cho mọi thị trường và mọi đối tác.
3. Quy trình nhập khẩu hàng hoá của doanh nghiệp
3.1 Xác định mặt hàng nhập khẩu
Mỗi doanh nghiệp có những nhiệm vụ chức năng khác nhau.
Vì vậy tuỳ thuộc vào chức năng pháp lý của từng doanh
nghiệp mà doanh nghiệp cần thực hiện nhiệm vụ kinh doanh
về chủng loại hay mặt hàng nào. Từ đó lựa chọn phương thức
giao dịch nhập khẩu. Trong kinh doanh thương mại quốc tế có
8
nhiều phương thức giao dịch khác nhau để doanh nghiệp có
nhiêù sự lựa chọn phù hợp đó là :
a/ Giao dịch thông thường.
Là phơng thức giao dịch đợc thực hiện ở mọi nơi, mọi lúc,
ngời bán và ngời mua trực tiếp quan hệ bằng cách gặp gỡ trực
tiếp hoặc qua th từ để bàn bạc và thoả thuận với nhau về các điều
kiện giao dịch.
b/ Giao dịch qua trung gian.
Trong hình thức giao dịch này có ngời thứ ba làm trung gian
giữa ngời bán và ngời mua.
c/ Giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá.
Là một thị trờng đặc biệt tại đó thông qua những ngời môi
giới do sở giao dịch chỉ định.
d/ Giao dịch tại hội trợ triển lãm.
3.2 Điều tra nghiên cứu thị trờng nhập khẩu.
Thị trường có một vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại
của một doanh nghiệp bởi thị trường là tổng thể các mối quan hệ
về lưu thông hàng hoá và tiền tệ. Qua thị trường doanh nghiệp sẽ
biết được lượng cung, cầu từ đó có kế hoạch sản xuất kinh doanh
thích hợp. Nhiều doanh nghiệp nhờ năng động, nắm bắt sự nhanh
nhạy với thị trường mà việc kinh doanh thành đạt, song cũng
không ít doanh nghiệp vì khả năng hiểu biết thị trường hạn chế
mà dẫn đến phá sản. Do vậy, để hoạt động kinh doanh có hiệu
quả các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp nhập khẩu nói
riêng phải nắm vững các yếu tố về thị trường, hiểu biết quy luật
9
vận động của thị trường, từ đó phản ứng kịp thời trước những
thay đổi của thị trường. Nghiên cứu thị trường của một doanh
nghiệp nhập khẩu gồm :
+ Nghiên cứu mặt hàng cần nhập khẩu
+ Nghiên cứu thị trường và các nhân tố ảnh hưởng
+ Nghiên cứu quan hệ cung cầu hàng hoá, sự biến động của
chúng.
+ Nghiên cứu giá hàng hoá nhập khẩu.
+ Xác định mức giá thấp nhập khẩu đối với thị ttrờng có
quan hệ giao dịch.
Trên cơ sở phân tích đúng đắn ảnh hưởng của nhân tố tới giá
cả doanh nghiệp sẽ nắm được xu hướng biến động của chúng, từ
đó xác định mức giá cho mặt hàng mà ta có kế hoạch nhập khẩu
đối với thị trường ta sẽ giao dịch.
Nếu mặt hàng này thuộc về đối tượng giao dịch phổ biến hoặc
có trung tâm giao dịch trên thế giới thì phải tham khảo giá thị
trường thế giới về mặt hàng cần kinh doanh. Chú ý khi định giá
cần tính đến yếu tố cước phí vận tải, cũng có thể dựa vào chào
hàng của hãng, dựa vào giá nhập khẩu của thời kỳ trước, vào giá
của lô hàng trước, các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật để tăng hay giảm
giá thành nhập khẩu khi giao dịch.
3.3 Đàm phán, ký kết hợp đồng nhập khẩu.
Sau khi chọn các bên tiến hành giao dịch đàm phán có kết
quả phải đi đến ký kết hợp đồng kinh tế .
10
Trước khi đàm phán ký kết hợp đồng doanh nghiệp phải đặt
hàng của đối tác cung cấp hàng nhập khẩu và dịch vụ, sau khi đặt
hàng doanh nghiệp có thể nhận được bản chào hàng hay thư trả
lời của nhà cung cấp. Từ đây doanh nghiệp có thể nắm bắt được
những thông tin cần thiết về giả cả, quy cách…của hàng hoá
nhập khẩu. Trong kinh doanh buôn bán quốc tế, các bên tham gia
giao dịch thường có phong tục tập quán, ngôn ngữ, tài chính tiền
tệ…khác nhau. Dẫn đến quyền lợi của các bên không thống nhất ,
trái ngược nhau, để giải quyết những bất đồng này các bên tham
gia đàm phán phảI trao đổi thống nhất các quan điểm chung với
nhau để có thể đi đến một hợp đồng ngoại thương.
Hợp đồng kinh tế ngoại thương là sự thoả thuận của những
doanh nghiệp, tổ chức quốc tịch khác nhau trong đó một bên là
bên bán (xuất khẩu) có nghĩa vụ phải chuyển vào quyền sở hữu
của bên mua (nhập khẩu) một khối lợng hàng hoá nhất định, bên
nhập khẩu có nghĩa vụ trả tiền và nhận hàng.
b/ Những điều khoản cơ bản của một hợp đồng ngoại thương.
Nội dung của một bản hợp đồng theo nguyên tắc tự do ký
kết của hai bên quyết định sao cho phù hợp với quyền lợi của cả
hai bên và đúng pháp luật. Nhưng việc ký kết hợp đồng kinh tế
ngoại thương thường gặp khó khăn do các chủ thể hợp đồng
thường không có sự tương đồng về văn hoá, ngôn ngữ, phong tục
tập quán, Vì vậy, để tránh tranh chấp có thể xảy ra thì nội dung
hợp đồng xuất nhập khẩu cần phải có một số điều căn bản sau:
- Điều khoản về đối tượng hợp đồng:
11
+ Điều khoản tên hàng
+ Điều khoản chất lượng
+ Điều khoản số lượng:
+ Điều khoản trọng lượng của hàng hoá:
-Điều khoản về giá cả hàng hoá:
+ Đồng tiền tính giá:
+ Mức giá
+ Phương pháp quy định giá: Tuỳ theo thoả thuận trong hợp
đồng.
- Điều khoản giao hàng.
Nội dung cơ bản là xác định thời hạn, thời điểm, phương
thức và việc thông báo giao hàng.
+ Trong hợp đồng cần ghi rõ thời hạn giao hàng:
+ Điểm giao hàng
+ Phơng thức giao hàng:
+ Thông báo giao hàng:
- Điều khoản về thanh toán trả tiền.
+ Đồng tiền thanh toán
+ Thời hạn thanh toán
+ Phương thức thanh toán: Có nhiều phương thức trả tiền
nhưng trong thanh toán quốc tế chủ yếu dùng hai phương thức
sau:
* Phương thức nhờ thu
* Phương thức tín dụng chứng từ
c/ Phương thức ký hợp đồng.
12
*/ Có nhiều cách ký kết hợp đồng đó là:
- Hai bên ký kết vào một hợp đồng mua bán (một văn bản).
- Người mua xác nhận (bằng văn bản) là người mua đồng ý với
các điều khoản của một chủ chào hàng tự do. Nếu người mua viết
đúng thủ tục cần thiết và gửi đúng trong thời hạn quy định cho
người bán.
- Người bán xác nhận (bằng văn bản) đơn đặt hàng của người
mua. Trong trường hợp này hợp đồng thể hiện bằng hai văn bản:
đơn đặt hàng của người mua và văn bản xác nhận của người bán.
- Trao đổi bằng thư xác nhận đạt được thoả thuận giữa các bên
(nêu rõ các thoả thuận đã thoả thuận).
3.4 Thực hiện hợp đồng .
Sau khi hợp đồng được ký kết tức là quyền lợi và nghĩa vụ
của các bên được xác lập, các bên cần phải tổ chức thực hiện hợp
đồng đó. Bên nhập khẩu cần phải xắp xếp các việc phải làm và
ghi thành biểu bảng theo dõi tiến độ thực hiện hợp đồng. Quá
trình thực hiện hợp đồng rất phức tạp đòi hỏi các bên tham gia
phải tuân thủ luật lệ quốc gia và quốc tế, đồng thời đảm bảo
quyền lợi của quốc gia và uy tín của doanh nghiệp.
Trình tự các bước thực hiện hợp đồng gồm có:
+ Xin giấy phép nhập khẩu.
+ Mở thư tín dụng L/C (Nếu thanh toán bằng L/C ).
+ Thuê tàu.
+ Mua bảo hiểm.
+ Làm thủ tục hải quan.
13
+ Nhận hàng, kiểm tra hàng hoá.
+ Thanh toán.
+ Giải quyết tranh chấp nếu có.
a/ Xin giấy phép nhập khẩu:
Giấy phép nhập khẩu là một biện pháp quan trọng của Nhà
nước nhằm quản lý hàng hoá xuất nhập khẩu. Sau khi ký hợp
đồng nhập khẩu, doanh nghiệp phải xin giấy phép nhập khẩu để
được thực hiện hợp đồng đó. Giấy phép này do Bộ Thơng mại
cấp. Để được cấp giấy phép doanh nghiệp xuất nhập khẩu phải có
điều kiện:
- Hoạt động theo đúng ngành nghề mà doanh nghiệp đăng ký
kinh doanh
- Thực hiện đúng luật pháp và cam kết tuân thủ các quy định của
luật pháp hiện hành.
- Doanh nghiệp có số vốn lưu động tối thiểu tính bằng đồng
Việt Nam tương đương với 200.000 USD tới thời điểm đăng ký
kinh doanh xuất nhập khẩu.
- Doanh nghiệp được cấp giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu
phải có nghĩa vụ nộp lệ phí và sử dụng lệ phí do Bộ Tài chính và
Bộ Thơng mại quy định.
_Hiện nay chính phủ có quyết định, doanh nghiệp kinh doanh
xuất nhập khẩu phải làm bộ hố sơ bao gồm những văn bản sau:
+ Đơn xin nhập khẩu.
+ Phiếu hạn nghạch.
+ Bản sao của hợp đồng được ký.
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét