TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÀ VINH
KHOA KINH TẾ -LUẬT & NGOẠI NGỮ
MÔN: LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC & PHÁP LUẬT VIỆT NAM
BÀI TIỂU LUẬN
CHỦ ĐỀ: SO SÁNH PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỚI
PHÁP LUẬT PHONG LIẾN TRUNG QUỐC VÀ BỘ
LUẬT HỒNG ĐỨC
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN: SINH VIÊN THỰC HIỆN:
NGUYỄN HỮU LÝ NHÓM 6:
NĂM 2013
LUẬT HỒNG ĐỨC ( QUỐC TRIỀU HÌNH LUẬT)
LHĐ là bộ luật tổng hợp nhiều ngành luật hình sự, dân sự, hôn nhân
gia đình, quân sự. Được xem là tiến bộ trong các thời kỳ PKVN. Tuy
nhiên các điều luật thuộc các lĩnh vực khác nhau nằm đan xen nhau.
Chưa được phân định một cách rõ ràng. Nghiên cứu LHĐ, chúng ta có
thể phân thành các ngành luật sau đây:
LUẬT HÌNH SỰ:
Luật hình sự. Nhìn chung kế thừa các quy định của Luật thời nhà Lý
Trần như:
Nguyên tắc chuộc tội bằng tiền áp dụng đối với người già, trẻ em –
có tiến bộ so với thời nay
Nguyên tắc chịu trách nhiệm tập thể (tội giết trâu bò, tội mưu phản)
–có mặt hạn chế nhưng do điều kiện kinh tế.
Hình phạt mang chính tính tàn khốc, hình phạt phụ mang tính nhục
mạ, áp dụng chế độ ngũ hình của PKTQ. (xuy, trượng, đồ, lưu, tử)
Quy định hình phạt chính và hình phạt bổ sung với các khung áp
dụng khác nhau.
Quy định các nguyên tắc chuộc tội bằng tiền, nguyên tắc miễn
TNHS, nguyên tắc chiếu cố.
Nguyên tắc lượng hình, phải phân biệt được 2 loại lỗi cố ý và vô ý;
phân biệt đồng phạm.
Nguyên tắc chiếu cố, lượng hình khi áp dụng HP
Nguyên tắc vô luật bất hình từ triều Lý, Trần được tiếp tục hoàn
thiện
Nguyên tắc TNHS khi tự ý nửa chừng chấm dứt phạm tội hay tự
thú, (trừ tội thập ác)
Nguyên tắc miễn TNHS trong trường hợp phòng vệ chính đáng,
tình thế cấp thiết.
Nguyên tắc thưởng người tố giác tội phạm và xử phạt người che
giấu tội phạm
Nhận xét về luật hình sự:
Tiếp tục kế thừa và phát huy các điểm tiến bộ của Luật HS thời Lý
Trần;
Tiếp tục thể hiện rõ rệt tính giai cấp, công khai bảo vệ lợi ích giai
cấp.
Về mặt kỷ thuật làm luật thì các điều luật vẫn chưa có tính bao quát
cao, chưa chỉ rõ dấu hiệu đặt trưng của TP mà đi vào mô tả chi tiết
hành vi phạm tội và hậu quả hành vi đó.
Hình phạt tiếp tục là hình phạt cứng, quy định cụ thể. Vừa tích cực
nhưng cũng vừa hạn chế.
LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH:
Theo nho giáo, gia đình có vị trí quan trọng cho nền chính trị quốc
gia, vì vậy Luật HNGĐ trở thành 1 chương quan trọng trong LHĐ
HNGĐ trong LHĐ xây dựng dựa trên tư tưởng PK. Bảo vệ trật tự
PK. Bất bình đẳng trong quan hệ nam nữ. Cụ thể:
Kết hôn cần phải có sự đồng ý của cha mẹ
Quy định các trường hợp cấm kết hôn.
Hình thức kết hôn là sự đặt và nhận sính lễ của hai bên.
Hình sự hoá các vấn đề hôn nhân, chỉ đặt ra nghĩa vụ chung thủy
đối với vợ.
Về tài sản của vợ chồng
Luật công nhận tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân
và tài sản riêng của mỗi người trước thời kỳ hôn nhân
Điểm đặc biệt là quyền sở hửu riêng của vợ là quyền sở hữu riêng
không tuyệt đối
Nếu hôn nhân đổ vở do lỗi của vợ thì quyền sở hữu tài sản riêng
của người vợ cũng bị tước bỏ
Vợ, chồng là hàng thừa kế thứ 1 của nhau. Người vợ sẽ được sở
hữu tài sản thừa kế khi chồng chết nhưng với điều kiện là không lấy
chồng khác. Nếu đi lấy chồng khác thì phải trả lại phần TS đó. Quy
định này không áp dụng đối với chồng.
Nhìn chung, mặc dù cố thoát khỏi ảnh hưởng của tư tưởng nho giáo,
nhưng cách thể hiện của LHĐ vẫn cho thấy quyền của người đàn ông
trong gia đình vẫn được đề cao. Nếu đặt trong thời kỳ thế kỷ XV và so
với các triều đại trước thì Luật Hồng Đức vẫn có nhiều điểm tiến bộ
hơn hẳn.
Ví dụ PL cũng bảo vệ PN như quy định các trường hợp cho phép
người PN ly hôn là:
- Chồng bỏ vợ, không quan tâm (đi lại) 5 tháng liên tục, nếu có con
thì 1 năm.
- Chồng mắng nhiếc cha mẹ vợ một cách phi lý
Bên cạnh đó, PL HNGĐ thời kỳ này đã đặt ra vấn đề nuôi con nuôi.
Tuy nhiên, vấn đề phân định quyền nuôi con khi vợ chồng ly hôn
vẫn không thấy pháp luật đề cập đến.
Vấn đề nghĩa vụ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ, nghĩa vụ
thủy chung giửa vợ và chồng, nghĩa vụ để tang ông bà, cha mẹ, vợ
chồng. điều đó cho thấy sự ảnh hưởng rất lớn của Nho giáo đối với
PL triều Lê.
LUẬT DÂN SỰ:
Chế định quyền sở hữu
LHĐ công nhận 3 hình thức sở hữu: sở hữu nhà nước(SH NN), SH
Làng xã và SH tư nhân
Tuy nhiên, chỉ QSHNN mới mang tính tuyệt đối, QSH của LX và
CN chỉ là hình thức, bị chi phối bởi QHSNN
Chế định hợp đồng:
LHĐ quy định các hình thức hợp đồng, điều kiện vô hiệu của các
loại hợp đồng. Ba hợp đồng phổ biến thời kỳ này là Hợp đồng mua
bán (đất), hợp đồng cầm cố và hợp đồng vay nợ.
Qua các quy định về điều kiện của HĐMB ruộng đất chúng ta thấy
xuất hiện mầm mống của một số NT của PLDSVN hiện nay:
Nguyên tắc tự do, trung thực: Ví dụ như quy định ruộng đất đem ra
bán là của mình và không bị ức hiếp khi bán đất.
Một số hợp đồng cần có chứng thực của quan lại địa phương.
Chế định thừa kế
Cũng tương tự như luật hiện nay, LHĐ đã ghi nhận hai hình thức
thừa kế là thừa kế theo di chúc và theo luật. Quy định về các trường
hợp bị truất quyền thừa kế, điều này vừa thể hiện sự tiến bộ trong
luật vừa thể hiện sự ảnh hướng to lớn của Nho giáo.
Chỉ có khác là quy định về hàng thừa kế trong thừa kế theo luật có
khác nhau.
Hàng TK 1: VC, Con cái. Hàng TK 2: Cha mẹ hoặc người thừa tự.
(so sánh với PL hiện nay)
Cũng có sự phân biệt giữa nam và nữ trong thừa kế
Con đẻ, con nuôi, con vợ cả, con vợ lẻ con nàng hầu.
Phân biệt phần tài sản giữa các con vợ cả và vợ lẽ, con nuôi và con
đẻ.
Pháp luật về chia tài sản giửa vợ chồng:
Công nhận tài sản riêng của VC trước TKHN
Tài sản chung của VC hình thành trong TKHN
Thừa kế giữa vợ chồng:
Trường hợp người chồng chết trước:
Phu gia điền sản thì được chia làm đôi, vợ hưởng ½, vợ được quyền
SH suốt đời nhưng k được bán, nếu tái giá thì phải trả lại cho nhà
chồng. ½ còn lại do người thừa tự bên chồng.
Tần tảo điền sản: chia làm 2 phần bằng nhau.1/2 là của riêng vợ,
1/2 còn lại chia làm 3 phần. Vợ được 2/3 nhưng k được bán,…
Trường hợp vợ chết trước:
Cũng giống như trường hợp trên nhưng người chồng không bị hạn
chế khi đi lấy vợ hai.
Điều này một lần nửa khẳng định sự gia trưởng, bảo vệ đàn ông
trong PLPK thời Lê.
LUẬT TỐ TỤNG:
Chủ yếu được quy định trong quyển 6
Các vụ việc được chia làm 4 loại là rất nhỏ, nhỏ. Trung bình và lớn
Tương ứng với đó là 4 cấp xét xử xã quan, huyện quan, phủ quan,
triều đình.
Trình tự, và thời hạn xét xử cũng được quy định tương đối rõ. Ví
dụ: trộm cướp thì xét xử trong 3 tháng, hủy báng là 4 tháng, việc
điền thổ là 3 tháng.
Bên cạnh đó quyền hạn và trách nhiệm của CQXX cũng được đặt
ra.
Pháp luật cho phép tra khảo để hỏi cung
Tuy nhiên, việc tra khảo phải tuân theo thủ tục nhất định. Vượt quá
giới hạn tra khảo bị xem là có tội. (so sánh với PL hiện nay)
Thủ tục xử án: Công khai
TÍNH CHẤT CỦA LUẬT HỒNG ĐỨC:
Luật cũng phần nào thể hiện sự bảo vệ nền tư hữu của ND, chống
cường hào, địa chủ thái quá
Tính dân tộc
Phương pháp làm luật.
Mặc dù quá trình xây dựng luật chịu ảnh hưởng nhiều của PK
phương bắc tuy nhiên LHĐ được làm ra dựa hoàn toàn trên các
QHXH thời bấy giờ, có kế thừa các luật của TK PK trước đó
Về hình thức luật thì LHĐ cũng thoát ly khỏi sự ảnh hưởng của
Luật nhà Đường đương thời, thể hiện qua cách chia thành chương,
quyển và thể hiện trong từng chế định luật.
ĐIỂM TIẾN BỘ CỦA LUẬT HỒNG ĐỨC SO
VỚI PLPK TRUNG QUỐC:
• Điểm tiến bộ thứ nhất trong luật Hồng Đức là nó có một tiến khá
căn bản trong việc cải thiện địa vị của người phụ nữ trong xã hội
phong kiến. Vai trò của người phụ nữ đã được đề cao hơn rất
nhiều so với các bộ luật đương thời trong khu vực. Nó cho thấy
người vợ có quyền quản lý tài sản của gia đình (khi chồng chết)
và họ có quyền thừa kế như nam giới.
Dẫn chứng:
Quyền được xin ly hôn: Theo quy định của Bộ luật Hồng Đức
(BLHĐ), người vợ được xin ly hôn trong trường hợp người chồng
không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình như người chồng không quan
tâm, bỏ bê vợ trong một thời gian dài; hoặc người chồng vượt qúa
quyền của mình, vô phép đối với nhạc phụ, nhạc mẫu thì không những
là bất hiếu mà còn bất nghĩa đối với vợ, người vợ có quyền xin ly hôn:
“Nếu con rể lấy chuyện phi lý mà mắng nhiếc cha, mẹ vợ, đem việc
thưa quan sẽ cho ly dị…” (Điều 333 – BLHĐ).
Trong một số trường hợp cụ thể, quyền lợi của người phụ nữ cũng
được ưu tiên bảo vệ như: khi đã đính hôn nhưng người con trai chẳng
may bị ác tật, phạm tội hay phá sản thì người con gái vẫn có quyền
khước từ trả lại đồ sính lễ, người con trai không có quyền đòi lại của.
Người phụ nữ, người vợ còn có quyền được hưởng tài sản sau khi ly
hôn, đó là các trường hợp: Ly hôn không do lỗi của người vợ và hai vợ
chồng không có con thì vợ, chồng mỗi người có quyền sở hữu số tài
sản ruộng đất riêng của mình có trước thời kỳ hôn nhân và và 1/2 số tài
sản ruộng đất do hai vợ, chồng tạo nên trong thời kỳ hôn nhân. Khi
người chồng chết, người vợ được xếp vào hàng thừa kế thứ nhất và có
quyền giữ nguyên quyền sở hữu cá nhân đối với tài sản riêng của mình
và 1/2 số tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân. (Quyền
được sở hữu tài sản riêng, quyền đồng sở hữu đối với tài sản chung của
hai vợ chồng).
Một điều đặc biệt của BLHĐ là quyền được chia gia tài của con gái
cũng ngang bằng với con trai (Điều 388); Không có con trai cũng
không có nghĩa là không có người thừa tự, vì Điều 391 quy định: trong
trường hợp gia đình không có con trai thì con gái cũng có quyền thừa
kế hương hoả.
• Điểm thứ hai, là hình phạt cho phạm nhân nữ bao giờ cũng thấp
hơn so với phạm nhân nam.
• Điểm thứ ba, nó thể hiện chính sách trọng nông của triều Lê. Bộ
luật trừng phạt rất nặng các tội như phá hoại đê điều (điều 596),
chặt phá cây cối và lúa má của người khác (điều 601), tự tiện giết
trâu ngựa (điều 580) v.v
• Điểm thứ tư, luật Hồng Đức thể hiện sự quan tâm và bảo vệ dân
thường. Trong bộ luật có nhiều điều trừng phạt nghiêm khắc
những người quyền quý ức hiếp, nhũng nhiễu thường dân (các
điều 294, 300, 302, 304, 365).
SO SÁNH
Giống như các bộ luật phong kiến khác, luật Hồng Đức thể hiện rõ bản
chất giai cấp của nó. Mục tiêu hang đầu của nó là bảo vệ vương quyền,
địa vị và quyền lợi của giai cấp phong kiến, củng cố trật tự xã hội và
gia đình gia trưởng phong kiến. Nó là sự pháp điển hóa tư tưởng chính
trị và đạo đức Nho giáo. Tuy vậy, không thể phủ nhận các điểm đặc sắc
và tiến bộ vủa nó.
Luật Trung Hoa
Luật Hồng Đức tiếp thụ nhiều thành tựu lập pháp của Trung Hoa,
chịu ảnh hưởng của cả luật pháp nhà Đường và nhà Minh. Tuy vậy, nó
có những điểm không giống với các bộ luật của nhà nước phong kiến
Trung Quốc cả về nội dung lẫn bố cục.
Về bố cục, bộ Đường luật có 500 điều chia thành 12 chương (Danh lệ,
Vệ cấm, Chức chế, Hộ hôn, Khai khố, Thiện hưng, Đạo tặc, Đấu tụng,
Trá ngụy, Tạp luật, Bộ vong, Đoán ngục) trong 30 quyển. Có thể thấy,
trong luật Hồng Đức các quy định về các nhóm tội tình dục và các vấn
đề ruộng đất được quy định riêng biệt và cụ thể hơn.
Về nội dung, các quy định về hôn nhân-gia đình, điền sản của luật
Hồng Đức được chú trọng hơn so với Đường luật (quy định cụ thể về
văn tự, chúc thư, chế độ và phương thức chia thừa kế, tài sản của vợ-
chồng khi góa bụa v.v). Chính vì thế, sau này các tòa án thời Pháp
thuộc hay Tòa thượng thẩm Sài Gòn thời Việt Nam Cộng hòa hay dựa
trên các quy định này của luật Hồng Đức để phân xử các vụ kiện tụng
liên quan tới tài sản vợ-chồng.
Bộ luật nhà Nguyễn
So với bộ Hoàng Việt luật lệ (HVLL hay luật Gia Long) (năm
1811) ra đời sau hàng thế kỷ, có thể thấy luật Hồng Đức chưa có tính
khái quát hóa cao và phân ngành rõ như HVLL. Tuy nhiên, sự bảo vệ
quyền lợi của người phụ nữ trong luật Hồng Đức lại tốt hơn so với
HVLL. Như giáo sư Vũ Văn Mẫu đã viết khi nhận xét về HVLL “bao
nhiêu những sự tân kỳ mới lạ trong bộ luật triều Lê đã không còn lưu
lại một chút dấu tích nào trong luật nhà Nguyễn. Không còn những
điều khoản liên quan đến hương hỏa, đến chúc thư, đến các điều kiện
về giá thú, đến chế độ tài sản của vợ chồng.” (Vũ Văn Mẫu, Cổ luật
Việt Nam và tư pháp sử, quyển 1, tập 1, Sài Gòn, 1973).
< D > Giá trị,nhận xét,đánh giá.
Bộ luật Hồng Đức ra đời đã mang lại những giá trị sâu sắc về vật
chất lẫn tinh thần
Giá trị nhân văn, giá trị xã hội lâu dài của bộ luật Hồng Đức được phản
ánh trong việc kế thừa của nhà làm luật của triều Nguyễn sau này.
Chẳng hạn, về những điều luật quan tâm, bảo vệ quyền lợi của người
phụ nữ: Trong bộ luật Hồng Đức có Điều 309 buộc người chồng phải
tôn trọng thứ bậc của người vợ trong gia đình: “Ai lấy nàng hầu lên
làm vợ thì xử tội phạt, vì quá say đắm nàng hầu mà thờ ơ với vợ thì xử
tội biếm (phải có vợ thưa thì mới bắt tội)”. Sau này, nhà làm luật triều
Nguyễn soạn trong Hội điển điều tương tự: “Phàm kẻ nào đem vợ cả
làm vợ lẽ phải phạt 100 trượng. Vợ cả còn sống mà đem vợ lẽ làm vợ
cả, phải phạt 90 trượng”
Một vấn đề nữa là giá trị của người phụ nữ trong giai đoạn này. Điểm
đặc biệt có ý nghĩa tiến bộ là trong một số trường hợp, bộ luật đã phần
nào xác nhận địa vị, quyền lợi của người phụ nữ trong hôn nhân gia
đình và sở hữu tài sản
Quốc Triều Hình Luật mang đậm tính chất nhân đạo:
Chủ nghĩa nhân đạo của Khổng Tử - nhân học, mà hạt nhân là chữ hiếu
- là quan hệ huyết thống tự nhiên của con người, quan hệ huyết thống
tự nhiên này là cơ sở cho chủ nghĩa nhân đạo của Khổng Tử, đã có ảnh
hưởng mạnh mẽ vào Việt Nam. Nó có tính hợp lý khi Khổng Tử đã kết
hợp nhân ái (đạo đức), huyết thống (quan hệ tự nhiên) và chế độ đẳng
cấp (chính trị) lại với nhau; và nhân ái là chất keo để gắn chặt mối quan
hệ ngang dọc của xã hội [5; tr.215-218]. "Nhân" là phạm trù trung tâm
của toàn bộ học thuyết Khổng giáo. Khổng Tử nói nhiều đến chữ
“Nhân” và coi “Nhân” là cao ngất, là rộng đến sâu thẳm của đạo đức
con người. Tư tưởng nhân đạo thể hiện trong Quốc Triều Hình Luật
trước tiên ở các qui định phản ánh chính sách hình sự khoan hồng đối
với người phạm tội là người già, người tàn tật và trẻ em cũng như đối
với người phạm tội tuy chưa bị phát giác đã tự thú. Thí dụ: Điều 16
Quốc Triều Hình Luật không qui định mức độ khoan hồng chung cho
các độ tuổi, mà qui định các mức độ khoan hồng khác nhau tuỳ theo độ
tuổi và mức độ tàn tật của họ; Điều 17 Quốc Triều Hình Luật còn qui
định: "Khi phạm tội chưa già cả tàn tật, đến khi già cả tàn tật mới bị
phát giác thì xử theo luật già cả tàn tật.Khi ở nơi bị đồ thì già cả tàn tật
cũng thế. Khi còn bé nhỏ phạm tội đến khi lớn mới phát giác thì xử tội
theo luật lúc còn nhỏ“. Quốc Triều Hình Luật còn thể hiện chính sách
khoan hồng đối với người phạm tội tuy chưa bị phát giác và tự thú
trước (trừ phạm tội thập ác hoặc giết người ). Điều 18 và điều 19:
"Phàm ăn trộm tài vặt của người sau lại tự thú với người mất của thì
cũng coi như là thú ở cửa quan". Điều21, 22, 23, 24 của Quốc Triều
Hình Luật qui định cho chuộc tội bằng tiền (trừ hình phạt đánh roi vì
cho rằng đánh roi có tính chất răn bảo dạy dỗ nên không phải cho
chuộc). Biện pháp này mang tính chất nhân đạo, lần đầu tiên được qui
định trong Quốc Triều Hình Luật để áp dụng cho những đối tượng
được ưu đãi và được khoan hồng.Đặc biệt hơn nữa trong Quốc Triều
Hình Luật đặt ra mức hình phạt dành cho người phạm tội là phụ nữ và
hình phạt đối với phụ nữ có thai cũng phản ánh tính chất nhân đạo.
Quốc Triều Hình Luật thể hiện “tính phản ánh” sâu sắc và tinh tế
mà tiêu biểu là ở sự kết hợp chặt chẽ giữa Nho giáo và phong tục tập
quán, giữa luật và tục lệ
Sở dĩ Bộ Luật Hồng Đức có được sức sống lâu dài, được nhiều nhà
nghiên cứu đánh giá cao vì bộ luật này mang tính phản ánh rất sâu sắc.
Bộ Luật Hồng Đức đã thể hiện được đặc trưng văn hoá của dân tộc,
nhiều qui định trong Bộ luật thể hiện tính sáng tạo cao của nhà làm luật
Tính dân tộc thể hiện đậm nét trong việc kế thừa và phát huy những
thành tựu pháp luật của các triều đại trước, kết hợp với những ưu điểm
của pháp luật phong kiến Trung Hoa để xây dựng lên một bộ luật phù
hợp với hoàn cảnh, điều kiện cụ thể của Việt Nam.
Có thể nói bộ luật Hồng Đức hay Quốc triều hình luật là văn bản pháp
lý bậc nhất, là đỉnh cao nhất của thành tựu pháp luật Việt Nam so với
các triều đại trước đó và cả về sau. Đánh giá về giá trị của bộ luật
Hồng Đức, sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú
viết: “Đời vua Lê có ban hành bộ Hồng Đức hình luật, các đời sau vẫn
theo bộ luật ấy.
Tuy có vài sự sửa đổi nhỏ trong lời văn, hay trong cách xếp đặt loại
mục tùy theo thời kỳ, song các điều khoản căn bản vẫn không thay đổi.
Bộ luật ấy đã được dùng làm quy củ để cai trị trong nước và cải thiện
lòng người”.
Những điều đó đã đủ thấy rằng bộ luật Hồng Đức đã được vận dụng
vào công quyền Việt Nam và được xem là chuẩn mực của nền cổ luật
nước ta qua nhiều triều đại; bên cạnh tính giai cấp nó còn mang tính
nhân đạo, tiến bộ và tính dân tộc đặc trưng.
Nhờ sự cai trị nhân từ và hợp lý nên dưới thời trị vì của vua Lê Thánh
Tông (1460-1497) đạt đến trình độ cực thịnh. Bên ngoài, các nước lân
bang đều kính nể Đại Việt. Quan hệ hoà hảo với các nước lân cận được
thiết lập. Các miền biên cương, suốt dải từ Bắc đến Nam, từ Đông sang
Tây trong nhiều năm êm ả. Toàn vẹn lãnh thổ được bảo đảm. An ninh
đất nước được duy trì. Bên trong, nông nghiệp trù phú, nhiều năm liền
được mùa. Chốn nông thôn rộn rã tiếng cười, tiếng thoi đưa dệt lụa.
Thương nghiệp mở mang, giao lưu thông suốt, dân trí chấn hưng, thuần
phong mỹ tục nở rộ. Lúa, khoai ngoài đồng không sợ bị gặt trộm. Đêm
nằm ngủ, nhà nhà không phải đóng cửa cài then. Trộm cướp giết người
vắng bóng .
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét