Việc nối liền các điểm thu hút với hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật
được lựa chọn một cách khéo léo sẽ tạo nên sự cân đối và hợp lý về
không gian cũng như thời gian cho cả tuyến du lịch chủ đề.
1.2.4. Đội ngũ nhân viên phục vụ & hướng dẫn viên trên tuyến du lịch chủ
đề:
Đội ngũ nhân viên phục vụ và hướng dẫn viên phải đảm bảo về số lượng và
giỏi về nghiệp vụ. Bởi vì những nhân viên phục vụ ở khu vực tiền sảnh, khu nhà
hàng, hướng dẫn viên du lịch được xem là người tiếp xúc trực tiếp và thường
xuyên với khách du lịch, là những người quyết định phần lớn chất lượng của các
dịch vụ, các chương trình du lịch trên tuyến cũng như việc trở lại với tuyến
trong các lần đi du lịch sau. Do đó, đây là đội ngũ nhân viên cần chú trọng trong
việc đào tạo cả về chuyên môn nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp.
1.3. NHỮNG NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG & KHAI
THÁC TUYẾN DU LỊCH CHỦ ĐỀ:
1.3.1. Kiểm kê và đánh giá tài nguyên du lịch trên tuyến du lịch chủ đề:
Kiểm kê tài nguyên du lịch phục vụ cho một tuyến du lịch chủ đề người ta
chú ý nhiều đến loại hình du lịch khai thác, các bộ phận cấu thành các tài
nguyên, tập hợp các điểm thu hút xung quanh chủ đề thể hiện được những giá trị
nhất định và khả năng phù hợp với khách hàng.
Để kiểm kê một cách đầy đủ và có hệ thống, hiểu rõ bản chất sức lôi cuốn
của các tài nguyên du lịch cần phải phân loại và sắp xếp chúng theo từng loại,
thứ, kiểu theo bảng sau:
Bảng 1.3.1: Kiểm kê & đánh giá tài nguyên du lịch trên tuyến du lịch chủ đề
Loại hình thu
hút
Thứ thu hút Kiểu thu hút Điểm thu
hút
Tài nguyên du
lịch tự nhiên
Thắng cảnh & các bộ
phận hợp thành
1. Địa chất
2. Khí hậu
3. Thuỷ văn
4. Địa hình
5. Hệ động thực vật
Tài nguyên du
lịch nhân văn
Những điểm thu hút
của quá khứ
Thời kỳ hiện đại
1. Lịch sử
2. Nghệ thuật
3. Truyền thống
1. Khoa học kỹ thuật
2. Nghệ thuật ẩm thực
3. Nhân vật nổi tiếng
Du lịch giải trí
Những thiết bị giải trí
Trình diễn văn hoá
Trình diễn thương mại
Những thu hút mô phỏng
Những công viên giải trí
Trang 5
Đánh giá tài nguyên du lịch đang được khai thác trước hết cần đánh giá
khả năng hấp dẫn, lôi cuốn thông qua giá trị của các tài nguyên, tính thời sự,
những lợi ích mà nó đem lại cho du khách. Bên cạnh đó, đánh giá khả năng khai
thác kinh doanh của một điểm thu hút thông qua số lượng du khách muốn và có
thể thực hiện việc tham quan điểm thu hút cùng với khả năng chi trả của du
khách tại điểm thu hút đó.
Đối với tài nguyên du lịch tiềm năng, ngoài việc đánh giá dung lượng thị
trường cần đánh giá thêm về nhu cầu vốn; độ dài thời gian cần thiết để cải tạo,
xây dựng, nâng cấp; các tác động đến đời sống văn hóa của cư dân địa phương.
1.3.2. Kiểm kê và đánh giá cơ sở hạ tầng trên tuyến du lịch chủ đề:
Khi khai thác và phát triển tuyến du lịch chủ đề, ngành du lịch đã sử dụng
rất nhiều các phương tiện của cơ sở hạ tầng chung của xã hội.
Thực hiện một chuyến du lịch luôn gắn liền với việc đi lại. Hệ thống giao
thông bao gồm các công trình đầu mối như phi trường, bến cảng, nhà ga, bến
xe… và mạng lưới đường sá (đường bộ, đường thuỷ, đường không). Gắn liền
với các tuyến đường, phục vụ đắc lực cho tuyến du lịch chủ đề là các bảng chỉ
đường, chỉ hướng, khoảng cách đến các điểm thu hút, cũng như thông tin về các
khách sạn, nhà hàng…, các bảng yết bản đồ các tỉnh thành mà tuyến đi qua.
Ngoài hệ thống giao thông, không kém phần quan trọng trong việc phục
vụ khai thác tuyến là các trạm xăng, trạm sửa chữa xe, nhà vệ sinh, hệ thống
cung cấp điện, hệ thống cung cấp nước, hệ thống thông tin liên lạc, các trung
tâm thương mại, mạng lưới y tế…
Khả năng phục vụ của hệ thống cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hệ thống giao
thông cho việc khai thác tuyến được đánh giá thông qua: khả năng sử dụng
nhiều loại phương tiện khác nhau phù hợp với từng phân đoạn thị trường; sức tải
tối đa của các công trình vào mùa đông khách du lịch; khả năng đảm bảo số
lượng và chất lượng các công trình…
1.3.3. Kiểm kê và đánh giá điều kiện đón tiếp trên tuyến du lịch chủ đề:
Cơ sở lưu trú: Để kiểm kê và đánh giá hệ thống cơ sở lưu trú tại một
điểm du lịch, trước hết cần phân loại chúng.
Căn cứ vào chức năng sử dụng, khách sạn được chia thành khách
sạn nghỉ mát, khách sạn thành phố và khách sạn quá cảnh.
Căn cứ vào quy mô khách sạn, có 3 loại: khách sạn quy mô lớn
(>300 phòng), trung bình (150-250 phòng), nhỏ (<75 phòng).
Căn cứ vào vị trí cảnh quan, vẻ đẹp kiến trúc, trang thiết bị, tiện
nghi phục vụ, số lượng và chất lượng đội ngũ nhân viên… khách
sạn được chia theo các cấp hạng từ 1 đến 5 sao.
Việc đánh giá và kiểm kê cơ sở lưu trú dựa vào quy mô của hệ thống cơ
sở lưu trú, khả năng lưu trú thông qua số lượng buồng giường. Ngoài ra, còn có
một số chỉ tiêu khác như diện tích sử dụng, trang thiết bị …
Trang 6
Cơ sở phục vụ ăn uống: Cũng như cơ sở lưu trú, phân bố mạng lưới
nhà hàng rất quan trọng trong quá trình kiểm kê và đánh giá hệ thống nhà hàng.
Cơ sở phục vụ dịch vụ bổ sung khác: Việc kiểm kê và đánh giá thông
qua chỉ tiêu quy mô bao gồm số chỗ, diện tích, mức luân chuyển hàng hoá…
Lực lượng lao động trên tuyến du lịch chủ đề: Việc đánh giá và kiểm
kê lực lượng lao động trên tuyến du lịch chủ đề là vô cùng khó khăn. Tùy vào
mỗi công việc cần có những tiêu chuẩn tuyển chọn và đánh giá khác nhau.
Chẳng hạn như việc đánh giá và tuyển chọn nhân viên tiếp xúc trực tiếp không
chỉ căn cứ vào giới tính, sức khoẻ, trình độ văn hóa… mà còn chú ý đến tuổi tác,
hình thức bên ngoài, tình trạng gia đình, sẵn sàng phục vụ, tính kiềm chế và lòng
trung thực
1.3.4. Phát triển tuyến du lịch chủ đề:
Trong phát triển du lịch, để đáp ứng được yêu cầu của du khách là muốn
thăm thú nhiều nơi, đòi hỏi các doanh nghiệp du lịch phải xây dựng cho được
các tuyến du lịch qua nhiều địa phương, không có rào cản của địa phương này
đối với địa phương khác, giữa vùng này với vùng khác, tạo điều kiện thuận lợi
tối đa cho du lịch phát triển, đưa du khách đến các điểm thu hút trong vùng. Vì
vậy, việc phát triển tuyến du lịch chủ đề là xu thế tất yếu của thời đại công
nghiệp hóa - hiện đại hóa, của xu thế nền kinh tế toàn cầu hóa, khu vực hóa.
Phát triển tuyến du lịch chủ đề cách tốt nhất là đặt tuyến trong mối quan
hệ tổng thể với các tuyến điểm trong cả nước, mở rộng quan hệ với các tuyến du
lịch quốc tế, kết nối các điểm du lịch trong khu vực nhằm mục tiêu tăng trưởng
du lịch của các địa phương, quốc gia, khu vực có tuyến đi qua với tốc độ nhanh
và bền vững.
Phát triển tuyến du lịch chủ đề đòi hỏi hình thành rõ chức năng phối hợp
và liên kết chặt chẽ giữa các tỉnh thành; thành lập hiệp hội phối hợp du lịch của
vùng nhằm khắc phục sự chia cắt, sự riêng lẻ trong hoạt động du lịch của các địa
phương. Bên cạnh đó, phát triển du lịch chủ đề còn dựa vào sự phát triển đồng
bộ của kết cấu hạ tầng của các địa phương, phù hợp với chiến lược phát triển
kinh tế, phát triển bền vững và khai thác hiệu quả nguồn nhân lực của từng địa
phương.
Phát triển tuyến du lịch chủ đề đặt trong mối quan hệ giữa các doanh
nghiệp thuộc các ngành chuyên môn hoá khác nhau trong du lịch. Thành phần
trong mối quan hệ cơ bản và chủ yếu này là các doanh nghiệp lữ hành, các cơ sở
lưu trú, các tổ chức vận chuyển, các điểm ăn uống, các khu vui chơi giải trí, các
trung tâm thương mại… mối quan hệ giữa các doanh nghiệp này được thắt chặt
trên cơ sở thiết lập các hợp đồng gởi khách và cung ứng dịch vụ, kết hợp nhau
trong công tác nghiên cứu thị trường để đưa ra các chiến lược marketing phù
hợp trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình du lịch trên tuyến
đem lại lợi nhuận tối đa cho mỗi ngành. Không chỉ vậy, phát triển tuyến du lịch
chủ đề còn là cơ hội cho việc liên kết các doanh nghiệp trong cùng một ngành
chuyên môn với nhau để có đủ thế và lực trong cạnh tranh, tạo một sự đồng bộ,
Trang 7
ăn khớp trong việc nâng cao chất lượng phục vụ đảm bảo lợi ích tối đa của từng
doanh nghiệp.
Phát triển tuyến du lịch chủ đề còn là sự kết nối giữa ngành du lịch với
các ngành khác để tận dựng tối đa được lợi thế so sánh của từng ngành tạo sự
phát triển bền vững.
1.3.5. Tổ chức bán các chương trình du lịch khai thác từ tuyến du lịch chủ
đề:
1.3.5.1. Xác định nguồn khách:
Khi xây dựng các chương trình du lịch từ tuyến du lịch chủ đề, người xây
dựng thường đã xác định các thị trường mục tiêu chủ yếu cho sản phẩm của
mình.
Theo đánh giá và kết quả nghiên cứu sơ bộ thì các nguồn khách quan
trọng của thị trường du lịch Việt Nam được sắp xếp như sau:
Khách quốc tế:
1. Các công ty lữ hành gửi khách quốc tế và trong nước.
2. Các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.
3. Các công ty, xí nghiệp liên doanh hoặc có quan hệ kinh tế với nước
ngoài.
4. Các mối quan hệ cá nhân.
5. Các đối tượng khách đi lẻ, khách tự đến.
Khách nội địa:
1. Các công ty lữ hành trong nước.
2. Các công ty, xí nghiệp, trường học…
3. Các tổ chức xã hội, đoàn thể.
4. Các đối tượng khách trực tiếp
5. Các mối quan hệ khác.
1.3.5.2. Quan hệ giữa các doanh nghiệp kinh doanh du lịch với nhau &
với khách du lịch:
Đối với tuyến du lịch chủ đề kéo dài qua nhiều địa phương vấn đề không
chỉ là giữa doanh nghiệp lữ hành và các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ lưu trú,
ăn uống, mua sắm mà còn ở chỗ:
Giữa tất cả các loại hình doanh nghiệp du lịch trong nỗ lực quảng
bá chung cho tuyến, cho việc đảm bảo chất lượng phục vụ của từng
doanh nghiệp nhằm đảm bảo uy tín chung cho cả tuyến.
Giữa các doanh nghiệp cùng loại hình trên các địa phương khác
nhau của tuyến:
* Khách sạn ở Đà Nẵng với Hội An trong gởi nhận khách lẫn
nhau.
* Thậm chí giữa các doanh nghiệp thuê xe: thuê xe gắn máy ở
Hội An ra Đà Nẵng rồi trả xe tại Đà nẵng và ngược lại …
Trang 8
Đối với khách du lịch, khi các doanh nghiệp du lịch tổ chức thu hút khách
trực tiếp cho các chương trình du lịch được xây dựng sẵn theo tuyến du lịch chủ
đề hoặc khách du lịch tự đến với các chương trình du lịch của tuyến thì hoạt
động bán các chương trình đóng một vai trò đặc biệt quan trọng. Các doanh
nghiệp sẽ tận dụng được hầu hết các kênh phân phối sản phẩm trong du lịch và
giữa du khách với doanh nghiệp sẽ được kết nối với nhau thông qua một bản
hợp đồng thoả thuận về việc thực hiện chương trình.
1.3.6. Tổ chức thực hiện các chương trình du lịch trên tuyến du lịch chủ đề:
Quá trình thực hiện các chương trình du lịch bao gồm hai mảng lớn:
Mảng thứ nhất là toàn bộ những công việc từ chuẩn bị, bố trí,
điều phối theo dõi, kiểm tra…của các phòng ban chức năng. Bộ
phận điều hành có vai trò chủ đạo trong mảng công việc này.
Mảng thứ hai gồm các công việc của các hướng dẫn viên du lịch
từ khi đón khách cho đến khi tiễn khách và kết thúc chương trình
du lịch.
Việc thực hiện các chương trình theo tuyến du lịch chủ đề phụ thuộc vào
khá nhiều yếu tố như số lượng khách, thời gian thực hiện chương trình, nguồn
gốc phát sinh của chương trình…
1.3.7. Tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm của chương trình du lịch trên
tuyến du lịch chủ đề:
Tổ chức quản lý chất lượng sản phẩm thông qua việc kiểm tra, đánh giá
chất lượng thiết kế sản phẩm và chất lượng thực hiện thông qua các tiêu thức
như:
Tính hấp dẫn và độc đáo của các tài nguyên du lịch có trong
chương trình
Uy tín và chất lượng của các sản phẩm từ các nhà cung cấp
Mức giá hợp lý của các dịch vụ du lịch.
Điều kiện môi trường tự nhiên xã hội
Chất lượng hướng dẫn viên
Sự hài lòng của khách du lịch …
Chất lượng sản phẩm thể hiện phần lớn qua phương thức, thái độ phục vụ
của các đội ngũ nhân viên đối với khách du lịch, vì vậy chất lượng phục vụ đóng
vai trò quan trọng tới chất lượng sản phẩm. Quá trình xây dựng và quản lý chất
lượng phục vụ được chia thành năm nhóm công việc cơ bản là:
Tìm hiểu khách hàng mục tiêu - tiền đề của chất lượng phục vụ
Xây dựng các tiêu chuẩn chất lượng phục vụ
Xây dựng đội ngũ nhân viên nhằm thực hiện các tiêu chuẩn về
chất lượng phục vụ
Hệ thống kiểm tra thường xuyên: hệ thống đo lường dịch vụ, hệ
thống tiếp nhận và xử lý thông tin từ phía khách hàng, hệ thống tiếp
nhận báo cáo và ý kiến của nhân viên.
Trang 9
Tạo dựng bầu không khí tích cực, dân chủ trong khi làm việc cho
toàn thể nhân viên.
1.3.8. Tổ chức các hoạt động quảng cáo, tuyên truyền cho tuyến du lịch chủ
đề:
Tất cả các hoạt động quảng cáo đều nhằm khơi dậy nhu cầu của du khách
đối với các điểm thu hút, các sản phẩm du lịch thuộc tuyến du lịch chủ đề. Các
sản phẩm quảng cáo phải tạo ra được sự phù hợp giữa các chương trình du lịch
trên tuyến với nhu cầu, mong muốn và nguyện vọng của khách du lịch.
Khi quảng cáo cho các điểm du lịch, các sản phẩm của tuyến thường áp
dụng các hình thức quảng cáo:
Quảng cáo bằng các sản phẩm tập gấp, tập sách mỏng, áp-
phích…
Quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng: báo, đài,
tivi, tạp chí, website…
Qua các hoạt động khuyếch trương như tổ chức các buổi tối
quảng cáo, tham gia các hội chợ du lịch…
Trong các hình thức trên, các tập gấp và tập sách mỏng có vai trò đặc
trưng:
Khả năng chứa đựng và cung cấp thông tin về các điểm du lịch,
các tiện nghi, phương tiện du lịch của tuyến tốt.
Dễ phân phát và dễ chấp nhận
Giá thành rẻ
Đã tồn tại từ lâu và trở nên quen thuộc.
Ngoài tác động hấp dẫn, thu hút khách du lịch, các ấn phẩm quảng cáo
(đặc biệt là tập gấp và tập sách mỏng) còn có vai trò như những căn cứ pháp lý
để điều chỉnh các mối quan hệ trong quá trình thực hiện các chương trình du lịch
trên tuyến, nó như một “bản tự cam kết” của những người xây dựng tuyến với
khách du lịch.
Tổ chức các chiến dịch quảng cáo cho các hoạt động nhằm khai thác thác
tuyến du lịch chủ đề ngày càng trở nên đa dạng, phong phú và tốn kém hơn. Để
thu hút nhiều khách du lịch, tạo uy tín hoặc tiếng vang lớn cho toàn tuyến, người
xây dựng không ngần ngại tổ chức miễn phí cho các nhà báo, phóng viên cũng
như một số khách du lịch. Bởi lẽ, quảng cáo truyền miệng là một hình thức có
tác động rất lớn đến hành vi của du khách trong tương lai.
Trang 10
PHẦN 2
THỰC TRẠNG KHAI THÁC, PHÁT TRIỂN TUYẾN DU
LỊCH CHỦ ĐỀ "CON ĐƯỜNG DI SẢN THẾ GIỚI"&
TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN TUYẾN TẠI
QUẢNG NAM & ĐÀ NẴNG
2.1. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI QUẢNG NAM & ĐÀ
NẴNG:
2.1.2. Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch trong thời gian qua:
2.1.2.1. Thành phố Đà Nẵng:
Bảng 2.1.2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Đà Nẵng 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2000
2001 2002 2003
Số
lượng
Tđt
( % )
Số
lượng
Tđt
( % )
Số
lượng
Tđt
( % )
1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng doanh thu 255.626 297.800 16,5 338.838 13,78 338.000 -0,25
- Khách sạn 130.230 160.900 23,55 188.700 17,28 181.033 -4,06
- Lữ hành 80.572 84.400 4,75 89.600 9,72 98.223 6,07
- Vận chuyển 30.820 32.400 5,13 35.388 9,07 37.586 6,36
- Ăn uống 9.336 13.400 42,95 16.800 10,89 14.095 -4,76
- Khác 4.668 6.754 23,30 7.100 5,12 6.963 -1,93
Tổng chi phí 215.237 249.258 23,30 282.539 13,35 283.920 4,89
Lợi nhuận 19.939 24.542 23,30 29.140 18,74 27.343 -0,30
Nộp ngân sách 20.450 24.000 17,36 27.159 13,16 26.737 -1,55
Nguồn: Đại diện văn phòng TCDL tại miền Trung
Hoạt động du lịch của Đà Nẵng thời gian qua có bước tăng trưởng khá.
Tốc độ tăng bình quân về doanh thu đạt 10,01% / năm. Các chỉ tiêu về lợi nhuận
và nghĩa vụ đối với Nhà nước tăng khá, trong đó tổng chi phí cũng tăng nhưng
với tốc độ chậm hơn.
Trang 11
Kết quả khích lệ trên là nhờ việc đẩy mạnh cơ sở hạ tầng, giao thông,
chỉnh trang đô thị có nhiều thay đổi tích cực. Công tác đầu tư cơ sở hạ tầng phát
triển du lịch, xây dựng các sản phẩm du lịch mới cũng như chất lượng phục vụ
được chú trọng. Thành phố cũng đã chỉ đạo các ngành chức năng và các địa
phương phối hợp chặt chẽ trong các hoạt động an ninh, an toàn cho du khách.
Hiện tượng bu bám, chèo kéo khách du lịch, các hành động gây ô nhiễm môi
trường du lịch… đều giảm. Việc nâng cấp dịch vụ lưu trú và mở thêm dịch vụ
bổ sung trong khách sạn được chú ý. Các công ty lữ hành nổ lực quảng bá sản
phẩm du lịch của địa phương và các tỉnh lân cận. Các doanh nghiệp vận chuyển
chú trọng nâng cao chất lượng phục vụ khách bằng cách kiện toàn đội ngũ lái xe
vừa chuyên nghiệp vừa có tác phong nghiệp vụ du lịch cao và trang bị thêm
nhiều xe du lịch mới đưa vào phục vụ. Đặc biệt, khu du lịch Furama Resort hoạt
động kinh doanh khá hiệu quả, các chương trình du lịch của tuyến du lịch chủ đề
“Con đường di sản thế giới” với các sự kiện văn hoá - du lịch như: Nghỉ biển Đà
Nẵng, hay chương trình liên hoan du lịch “Gặp gỡ Bà Nà”… đã thu hút được
một số lượng khách khá lớn. Ngành du lịch cũng đã phối hợp với hãng hàng
không mở các đường bay mới đi Bangkok, Hongkong…và năm 2001, Đà Nẵng
đón được 56 tàu du lịch với lượng khách lớn làm tăng tổng doanh thu toàn
ngành. Đội xích lô du lịch đã được thành lập và đưa vào hoạt động.
Tuy nhiên, mức chi tiêu bình quân của khách tại Đà Nẵng còn thấp, thời
gian lưu trú lại chưa cao do chất lượng dịch vụ chưa hoàn hảo, sản phẩm du lịch
còn hạn chế chưa kích thích được nhu cầu chi tiêu của khách. Bên cạnh đó, năm
2003, đại dịch SARS hoành hành gây ảnh hưởng khá nghiêm trọng đến việc
kinh doanh du lịch tại Đà Nẵng, làm tổng doanh thu của ngành giảm nhẹ.
2.1.2.2. Tỉnh Quảng Nam:
Bảng 2.1.2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Quảng Nam 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
2003
Số lượng Tđt
( %)
Số
lượng
Tđt
( % )
Số lượng
Tđt
( % )
1 2 3 4 5 6 7 8
Tổng doanh thu 43.515 78.782 81,05 121.108 53,73
120.000 -0,91
- Khách sạn 27.048 47.053 73,95 75.960 61,43
73.840 -2,79
- Lữ hành 767 1.485 93,61 2.330 56,90
2.220 -4,72
- Vận chuyển 936 1.383 47,76 1.711 23,72
1.624 -5,08
- Ăn uống 6.589 15.265 131,67 24.830 62,66
22.516 -9,32
Trang 12
Bảng 2.1.2.2: Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch tại Quảng Nam 2000-2003
ĐVT: triệu đồng
Chỉ tiêu 2000 2001 2002
2003
Số lượng Tđt
( %)
Số
lượng
Tđt
( % )
Số lượng
Tđt
( % )
1 2 3 4 5 6 7 8
- Khác 8.175 13.596 66,31 16.277 19,72
19.800 21,64
Tổng chi phí 36.890 74.931 86,63 111.727 54,84
109.200 -2,26
Lợi nhuận 1.874 1.506 24,44 2.702 44,18
3.175 17,5
Nộp ngân sách 4.751 3.345 42,03 6.679 40,58
7.625 14,16
Nguồn: Đại diện văn phòng TCDL tại miền Trung
Du lịch Quảng Nam phát triển nhanh chóng với tốc độ tăng bình quân về
doanh thu là 44,62% / năm. Đây là mức tăng kỷ lục và khá cao so với Đà Nẵng.
Qua số liệu thống kê trên, ta nhận thấy rằng: Doanh thu lữ hành chiếm tỷ
trọng khá khiêm tốn, khoảng 1,85% trên tổng doanh thu của toàn ngành, song
tốc độ tăng trưởng khá cao xấp xỉ bằng 48,60% / năm và năm sau cao hơn năm
trước. Lợi nhuận từ kinh doanh du lịch không ngừng tăng qua các năm, nhưng
so với tốc độ tăng doanh thu thì còn thấp, tỷ lệ so với doanh thu còn khiêm tốn,
khoảng 2,68%. Chi phí quảng bá lớn dẫn đến tổng chi phí tăng cao làm tổng lợi
nhuận tăng chậm lại. Do doanh thu tăng nhanh nên đóng góp vào Ngân sách
Nhà nước tăng đáng kể, tốc độ tăng bình quân 32,26% / năm.
Kết quả được như trên là nhờ các doanh nghiệp du lịch đã chú trọng hơn
trong việc đầu tư xây dựng, nâng cấp trang thiết bị, mở thêm nhiều dịch vụ bổ
sung nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách tốt hơn. Công tác
tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, mở rộng thị trường cho chương trình du
lịch của tuyến du lịch chủ đề “Con đường di sản thế giới” cùng hai di sản văn
hoá thế giới là Phố cổ Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn được quan tâm hơn nên đã thu
hút được lượng khách lớn đến tham quan. Đặc biệt, Sở Du Lịch Quảng Nam kết
hợp với các Sở Du lịch các tỉnh, thành lân cận, các doanh nghiệp liên quan đến
du lịch tổ chức thành công nhiều liên hoan, lễ hội du lịch như “Gặp gỡ đêm rằm
phố cổ Hội An”, “Hành trình con đường di sản thế giới”, “Ấn tượng Mỹ Sơn”
… thu hút được khá đông khách du lịch quốc tế cũng như trong nước góp phần
vào sự tăng lên của doanh thu du lịch Quảng Nam.
Tuy nhiên, sự phát triển du lịch chỉ tập trung ở Hội An còn các khu vực
khác phía Nam và phía Tây như Thánh địa Mỹ Sơn, hồ Phú Ninh… thì vẫn chưa
được phát triển bao nhiêu.
Trang 13
2.1.2. Tình hình phát triển các ngành chuyên môn hóa trong du lịch:
2.1.2.1. Tình hình phát triển ngành kinh doanh lữ hành:
2.1.2.1.a. Thành phố Đà Nẵng:
So với trước đây đã có nhiều doanh nghiệp tham gia vào việc kinh doanh
lữ hành nói chung cũng như lữ hành quốc tế nói riêng. Hiện nay, tại Đà Nẵng có
43 đơn vị kinh doanh lữ hành, 10 văn phòng đại diện và 33 chi nhánh của các
công ty du lịch, các trung tâm lữ hành trên cả nước đóng tại Đà Nẵng. Tuy
nhiên, hầu hết các doanh nghiệp chưa tự mình thu hút được khách mà chỉ làm
chức năng vận chuyển khách là chủ yếu và cũng chưa nghĩ đến chuyện liên kết
lại với nhau để có tiềm lực lớn hơn trong việc cạnh tranh trên trường quốc tế.
2.1.2.1.b. Tỉnh Quảng Nam:
Kinh doanh lữ hành tại Quảng Nam trong thời gian qua có nhiều khởi sắc
song chưa có sự phát triển mạnh như ở Đà Nẵng và sự tập trung các doanh
nghiệp lữ hành, các trung tâm du lịch còn khá hạn chế. Tính đến nay, tổng số
các đơn vị kinh doanh lữ hành trên địa bàn tỉnh là 14 đơn vị kinh doanh lữ hành,
trong đó có 3 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế, 9 đơn vị khinh doanh lữ hành
nội địa, và có 2 chi nhánh lữ hành quốc tế. Trong quá trình hoạt động kinh
doanh của mình, cũng như ở Đà Nẵng các doanh nghiệp chỉ hoạt động vận
chuyển khách là chính, các chương trình chủ yếu phục vụ khách lẻ và còn quá
đơn giản, chưa tạo những ấn tượng đặc sắc cho du khách. Hiện tượng cạnh tranh
mãnh liệt về giá và giành giật khách còn diễn ra khá phổ biến giữa các doanh
nghiệp.
2.1.2.2. Tình hình phát triển ngành kinh doanh khách sạn:
2.1.2.2.a. Thành phố Đà Nẵng:
Bảng 2.1.2.2.a: Tình hình phát triển khách sạn tại Đà Nẵng 1996 - 2003
Chỉ tiêu
1996 2000 2003
Cs
lt
(cái)
Phòng Cslt Phòng Cslt Phòng
SL
(cái)
Tđpt SL
(cái)
Tđpt
(%)
SL
(cái)
Tđpt
(%)
SL
(cái)
Tđpt
(%)
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11
TSố 33 1.480 66 200,0 2.318 156,62 71 107,6 2.394 161,76
3-5 sao 2 130 8 400,0 630 484,62 8 100,0 630 484,62
1-2 sao 13 610 22 169,2 850 139,34 25 113,6 890 145,90
Đạt TC 18 740 36 200,0 838 113,24 38 105,6 874 118,11
Nguồn: Đại diện văn phòng TCDL tại miền Trung
Trang 14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét