Thứ Ba, 18 tháng 2, 2014

Hoàn thiện công tác quản lí doanh thu chi phí đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh

Thời kì quá độ lên CNXH theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin là
một thời kì dài trong lịch sử. Trong thời kì đó vẫn tồn tại các thành phần kinh
tế phi XHCN cạnh tranh gay gắt với các thành phần kinh tế XHCN. Vậy quá
độ đi lên CNXH bỏ qua phát triển TBCN nh ở nớc ta không thể không dẫn đến
sự tồn tại và phát triển tất yếu khách quan của nền kinh tế nhiều thành phần,
trong đó có thành phần kinh tế của các doanh nghiệp NQD. Đặc biệt, nớc ta
quá độ lên CNXH từ một nớc nông nghiệp lạc hậu, tiềm lực kinh tế yếu, cơ sở
vật chất kỹ thuật nghèo nàn, trình độ quản lý kinh tế thấp kém lại vừa qua khỏi
chiến tranh. Mâu thuẫn giữa nhu cầu cải tiến đời sống nhân dân với khả năng
của sức sản xuất đang trở nên gay gắt. Vì vậy chúng ta đơng nhiên phải chấp
nhận nền kinh tế nhiều thành phần trong đó có những thành phần phi CNXH
với sự góp mặt của các doanh nghiệp NQD. Nh vậy, sự tồn tại khách quan của
khu vực kinh tế NQD trong thời kỳ quá độ ở nớc ta hiện nay đã đợc khẳng
định và tiếp tục phát triển trong cơ chế thị trờng.
Doanh nghiệp NQD xét dới giác độ sở hữu bao gồm tất cả các đơn vị
hay tổ chức kinh tế thuộc sở hữu của một ngời hay một nhóm ngời. Quyền sở
hữu này đợc xác định dựa trên quá trình huy động hình thành nên nguồn vốn
hoạt động cho đơn vị kinh tế đó và đợc pháp luật thừa nhận. Điều này khác cơ
bản với các doanh nghiệp quốc doanh, hay doanh nghiệp nhà nớc (DNNN),
khi mà nguồn vốn hình thành nên các DNNN đợc ngân sách nhà nớc cấp,
nghĩa là từ sự đóng góp của toàn dân (nguồn thu từ thuế). Tất nhiên, doanh
nghiệp NQD cũng không bao gồm các doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài.
Hiện nay, nớc ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị tr-
ờng, một số định kiến xã hội đối với khu vực kinh tế NQD còn khá nặng nề.
Khuôn khổ pháp luật để phát triển kinh tế NQD đang đợc xây dựng, cha hoàn
chỉnh. Song từ khi Luật doanh nghiệp đợc ban hành và có hiệu lực (2000) thì
môi trờng kinh đoanh đã bớc đầu đợc cải thiện.
5 5
Theo luật doanh nghiệp, doanh nghiệp NQD đợc hiểu là đơn vị kinh tế
tồn tại dới các hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty cổ
phần (CTCP), công ty hợp danh và doanh nghiệp t nhân (DNTN), do một hay
nhiều ngời đứng ra làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình
(hữu hạn hay vô hạn) về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Tất nhiên cũng phải
kể đến các hộ kinh doanh cá thể với mức vốn pháp định thấp hơn vốn pháp
định của doanh nghiệp t nhân.
Nh vây doanh nghiệp NQD bao gồm :
*Công ty trách nhiệm hữu hạn:
- Công ty TNHH có hai thành viên trở lên: là doanh nghiệp trong đó thành
viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh
nghiệp trong phạm vi số vốn đã cam kết góp vào doanh nghiệp (trách nhiệm
hữu hạn). Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân số lợng thành viên không quá
50 và không đợc quyền phát hành cổ phiếu.
- Công ty TNHH một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức làm chủ
sở hữu, chủ sở hữu chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản
khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn của doanh nghiệp và cũng
không đợc quyền phát hành cổ phiếu.
*Công ty cổ phần
- Doanh nghiệp có vốn điều lệ đợc chia thành cổ phần, số lợng cổ đông tối
thiểu là 3 và chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác trong
phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp. Công ty cổ phần có quyền phát
hành chứng khoán ra công chúng.
*Công ty hợp danh
6 6
- Là loại doanh nghiệp có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành
viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn, thành viên hợp danh phải là cá
nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách
nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về việc thực hiện các nghĩa vụ tài
chính của công ty (trách nhiệm vô hạn). Thành viên góp vốn chỉ chịu trách
nhiệm trên lợng vốn góp của mình vào doanh nghiệp. Công ty hợp danh
không đợc phát hành chứng khoán.
*Doanh nghiệp t nhân
- Là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng
toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.
*Hộ kinh doanh cá thể
-Là các hộ kinh doanh có đăng ký kinh doanh, chịu trách nhiệm toàn bộ bằng
tài sản của mình và có mức vốn pháp định nhỏ hơn mức vốn pháp định của
doanh nghiệp t nhân.
1.1.2. Vai trò của khu vực kinh tế NQD trong nền kinh tế:
Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần làm tăng của cải vật chất cho
xã hội, thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Khu vc kinh tế NQD có những đặc điểm
thuận lợi cho quá trình thúc đẩy tăng trởng kinh tế nh: đây là khu vực thu hút
nhiều lao động, đối tợng hoạt động rộng tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh
tế ở mọi nơi trong nớc, rút ngắn khoảng cách về thu nhập giữa thành thị và
nông thôn, đồng thời góp phần khai thác những tiềm năng to lớn của nền kinh
tế nh tài nguyên, sức lao động, thị trờng mà vẫn cha đợc khai thác một cách
hiệu quả. Bên cạnh đó do đặc thù rất linh hoạt, nhạy bén trong sản xuất kinh
doanh để thu lợi nhuận cao nhất nên khu vực này có khả năng phát huy nội
lực, mở rộng sản xuất kinh doanh phù hợp với nhu cầu của thị trờng. Vậy khu
vực kinh tế NQD là khu vực có vai trò hết sức quan trọng đồng thời là khu vực
7 7
góp phần vào việc thực hiện các chỉ tiêu về tăng trởng kinh tế do Nhà nớc đề
ra.
Khu vực kinh tế NQD phát triển góp phần giải quyết công ăn việc làm
cho ngời lao động. Nớc ta dân số hơn 80 triệu dân, do đó lực lợng lao động là
rất lớn. Nạn thất nghiệp là một vấn đề kinh tế xã hội rất cần đợc giải quyết.
Trong khi khu vực kinh tế nhà nớc và khu vực kinh tế có vốn đầu t nớc ngoài
luôn đòi hỏi lao động phải có văn hoá, trình độ kỹ thuật tơng đối cao dẫn đến
một khối lợng lớn lao động đang ở độ tuổi lao động không thể làm việc trong
hai khu vực này. Vậy điều đáng nói ở đây là so với 2 khu vực trên thì khu vực
kinh tế NQD có vai trò thu hút nhiều thành phân lao động, từ những lao động
có trình độ văn hoá đến những lao động thủ công, từ hợp đồng ngắn hạn đến
dài hạn, theo mùa vụ hoặc thời gian nhất định Do đó khu vực kinh tế này
đóng vai trò tích cực góp phần giải quyết thất nghiệp và tạo sự phát triển cân
đối cho nền kinh tế.
Khu vực kinh tế NQD phát triển tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà n-
ớc. Trớc hết, phải khẳng định các khoản nộp ngân sách của khu vực kinh tế
NQD mới đúng bản chât "thuế". Vì khác với các doanh nghiệp nhà nớc, Nhà
nớc không phải chủ sở hữu t liệu sản xuất, Nhà nớc thu thuế của khu vực này
mà không phải đầu t trực tiếp vào khu vực này. Nguồn thu từ khu vực kinh tế
NQD là rất lớn, ngày càng tăng và đợc dùng chủ yếu để đầu t vào các ngành
nghề kinh tế mũi nhọn, xây dựng cơ sỏ hạ tầng, hỗ trợ các ngành kinh tế yếu
kém Vậy khu vực kinh tế NQD có vai trò điều hoà thu nhập và đóng góp vào
ngân sách Nhà nớc.
Ngoài những vai trò trực tiếp trên, khu vực kinh tế NQD tồn tài và phát
triển còn có tác dụng trên nhiều mặt sau:
8 8
+ Thoả mãn nhu cầu tiêu dùng xã hội, giúp cho Nhà nơc trong điều kiện
vốn còn hạn hep, có thể tập trung đầu t vào những ngành nghề mũi nhọn, có
tác dụng trên toàn bộ nền kinh tế và đời sống xã hội, tránh đầu t phân tán, dàn
trải.
+ Thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế hàng hoá, tạo sự cạnh tranh sống
động trên thị trờng, thúc đẩy kinh tế nhà nớc tăng cờng hạch toán kinh doanh,
đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất, hạ giá thành sản phẩm.
+ Khu vực kinh tế NQD hình thành và phát triển tác động cả vào cơ chế
quản lý làm thay đổi phơng thức sản xuất kinh doanh, thay đổi tác phong, lề
lối làm việc của cán bộ công chức nhà nớc, của ngời lao động.
1.2. Nội dung của công tác quản lý doanh thu chi phí đối với DNNQD:
Doanh thu và chí phí là hai mặt của một quá trình, đó là quá trình sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Đây là hai chỉ tiêu tối quan trọng phản ánh
tình hình lãi lỗ của doanh nghiệp và đợc thể hiện trên báo cáo kết quả sản xuất
kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp. Doanh thu và chi phí liên quan trực
tiếp đến thu nhập doanh nghiệp, các sắc thuế và các quyền và nghĩa vụ tài
chính khác của doanh nghiệp.
1.2.1. Quản lý doanh thu đối với doanh nghiệp NQD:
Doanh thu là chỉ tiêu tài chính phản ánh tổng giá trị đợc tính bằng tiền
của hàng hoá và dịch vụ đã tiêu thụ trong một thời gian nhất định. Doanh
thu của một doanh nghiệp gồm doanh thu từ hoạt động kinh doanh, doanh
thu từ hoạt động tài chính và doanh thu từ các hoạt động bất thờng khác.
Doanh thu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền
bán hàng, cung ứng dịch vụ trong kỳ đợc ghi nhận từ khi khách hàng chấp
nhận trả tiền. Doanh thu gộp tức là doanh thu bao gồm cả các khoản giảm
9 9
trừ. Doanh thu thuần hay doanh thu ròng là hiệu số của doanh thu gộp và
các khoản giảm trừ, nh hàng hoá bị trả lại, giảm giá hàng bán, chiết khấu
bán hàng.
Ngoài ra doanh thu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp còn bao
gồm:
+ Các khoản chi phí thu thêm ngoài giá bán (nếu có), trợ giá, phụ thu
theo quy định của Nhà nớc mà doanh nghiệp đợc hởng đối với hàng hoá,
dịch vụ của doanh nghiệp đã tiêu thụ trong kỳ
+ Giá trị các sản phẩm hàng hoá đem biếu tặng, trao đổi hoặc tiêu
dùng cho sản xuất trong nội bộ doanh nghiệp.
Doanh thu từ hoạt động tài chính là doanh thu phát sinh do việc cho các bên
khác sử dụng, thuê tài sản của công ty, lãi phát sinh từ việc đầu t vào các tài
sản tài chính, lãi tiền gửi, trái phiếu, mua bán các loại chứng khoán và từ
việc đầu t vào các dự án và công ty khác. Ngoài ra, doanh thu từ hoạt động
tài chính còn bao gồm: Từ hoạt động nhợng bán ngoại tệ hoặc thu nhập về
chênh lệch tỷ giá nghiệp vụ ngoại tệ theo quy định của chế độ tài chính;
Hoàn nhập số d dự phòng giảm giá chứng khoán; Tiền cho thuê tài sản đối
với doanh nghiệp cho thuê tài sản không phải là hoạt động kinh doanh th-
ờng xuyên.
Doanh thu khác phát sinh là do các khoản thu từ các hoạt động xảy ra
không thờng xuyên nh: thu từ bán vật t, hàng hoá, tài sản dôi thừa; các
khoản phải trả nhng không trả đợc vì nguyên nhân từ phía chủ nợ, thu
chuyển nhợng, thanh lý tài sản, nợ khó đòi đã xoá sổ nay thu hồi đợc, hoàn
nhập khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, khoản dự phòng nợ phải thu
khó đòi đã trích vào chi phí của năm trớc, hoàn nhập số d chi phí trích trớc
về bảo hành hàng hoá, sản phẩm, công trình và hạng mục công trình khi hết
10 10
thời hạn bảo hành, chi phí trích trớc về sửa chữa TSCĐ lớn hơn số thực chi;
thu về cho sử dụng hoặc chuyển quyền sử dụng sở hữu trí tuệ, thu về tiền
phạt vi phạm hợp đồng kinh tế, thu về chiết khấu thanh toán, thu về chiết
khấu thanh toán, các khoản thuế phải nộp (trừ thuế thu nhập doanh nghiệp)
đợc Nhà nớc giảm.
Chú ý rằng doanh thu thực đợc ghi nhận khi hàng hoá, dịch vụ đợc
xác định là thực hiện nghĩa là đã giao hàng, đã thanh toán hoặc khách hàng
chấp nhận trả tiền. Đây là một cơ sở quan trọng để xác định doanh thu trong
doanh nghiệp.
1.2.2. Quản lý chi phí đối với doanh nghiệp NQD:
Chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của các yếu tố tiêu hao phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp trong một thời kỳ xác định. Về bản chất, chỉ tiêu chi phí phản
ánh sự tiêu hao, sự phí tổn các yếu tố hữu hình và vô hình dới hình thức tiêu
hao lao động sống và lao động quá khứ trong một thời kỳ nhất định.
Trong cơ chế quản lý tài chính đối với doanh nghiệp, cần chú trọng
hoàn thiện các quy định, các nguyên tắc hạch toán chi phí. Số liệu và thông
tin báo cáo sai lệch có thể dẫn đến những quyết định sai. Một trong những
nguyên nhân thờng gây ra sai sót trong kế toán chi phí, đó là sự lẫn lộn giữa
chi phí phát sinh và khoản tiền chi ra của doanh nghiệp trong kỳ kế toán.
Ngoài ra, doanh nghiệp đợc hạch toán chi phí sản xuất, kinh doanh thực tế
phát sinh có chứng từ hợp pháp, hợp lệ, hợp lý. Cơ chế tài chính còn phải
phân biệt rõ sự khác nhau giữa chi phí sản xuất kinh doanh thực tế phát sinh
và chi phí đợc thừa nhận để xác định lợi nhuận chịu thuế. Nói cách khác, cơ
chế phải làm rõ sự khác biệt giữa nguyên tắc quản lý tài chính doanh nghiệp
11 11
và các quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp (sẽ trình bày rõ hơn ở
phần sau). Các chi phí của doanh nghiệp bao gồm các loại chính sau:
a) Chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp gồm:
Chi phí hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp sản xuất là các chi
phí về vật t, chi phí về hao mòn máy móc thiết bị và các tài sản cố định
khác, chi phí về tiền lơng và tiền công cho ngời lao động và các chi phí
khác bằng tiền.
* Chi phí hoạt động kinh doanh có thể đợc phân loại theo nội dụng kinh tế
nh sau:
+ Chi phí nguyên, nhiên vật liệu (chi phí vật t)
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định: Là số khấu hao tài sản cố định trích
theo quy định đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp
+ Chi phí tiền lơng: là toàn bộ tiền lơng, tiền công chi phí có tính chất
lơng doanh nghiệp phải trả.
+ Chi phí bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn.
+ Chi phí dịch vụ mua ngoài là các chi phí trả cho tổ chức, cá nhân
ngoài doanh nghiệp về các dịch vụ đợc thực hiện theo yêu cầu của doanh
nghiêp nh vận chuyển, điện nớc, điện thoại, sửa chữa tài sản cố định, t vấn,
kiểm toán, quảng cáo, bảo hiểm tài sản, đại lý, môi giới, uỷ thác xuất nhập
và các dịch vụ khác.
+ Chi phí bằng tiền khác.
* Theo công dụng và địa điểm phát sinh, chi phí kinh doanh đợc chia thành:
+ Chi phí vật t trực tiếp.
+ Chi phí nhân công trực tiếp.
12 12
+ Chi phí sản xuất chung.
+ Chi phí bán hàng.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp.
* Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí kinh doanh và khối lợng hàng hoá
bán ra hoặc doanh thu tiêu thụ, chi phí kinh doanh đợc chia thành chi phí cố
định và chi phí biến đổi (còn gọi là định phí, biến phí)
+ Chi phí bằng tiền khác.
* Theo công dụng và địa điểm phát sinh, chi phí kinh doanh đợc chia thành:
+ Chi phí vật t trực tiếp.
+ Chi phí nhân công trực tiếp.
+ Chi phí sản xuất chung.
+ Chi phí bán hàng.
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp.
* Căn cứ vào mối quan hệ giữa chi phí kinh doanh và khối lợng hàng hoá
bán ra hoặc doanh thu tiêu thụ, chi phí kinh doanh đợc chia thành chi phí cố
định và chi phí biến đổi (còn gọi là định phí, biến phí)
Chi phí cố định là những chi phí không bị biến động trực tiếp theo sự thay
đổi của khối lợng hàng bán hoặc doanh thu tiêu thụ, bao gồm:
+ Chi phí khấu hao tài sản cố định.
+ Chi phí bảo hiểm.
+ Tiền lơng trả cho các nhà quản lý, chuyên gia.
+ Thuế môn bài.
+ Chi phí quảng cáo.
13 13
+ Thuê tài chính hay thuê bất động sản.
+ Chi phí bảo hiểm rủi ro
Chi phí biến đổi là những chi phí biến động trực tiếp theo sự thay đổi của
khối lợng hàng bán hay doanh thu tiêu thụ, bao gồm các loại chi phí nh: Chi
phí nguyên vật liệu, chi phí nhân công trực tiếp, tiền hoa hồng bán hàng
b) Chi phí hoạt động tài chính của doanh nghiệp: là các khoản chi
phí đầu t tài chính ra ngoài doanh nghiệp nhằm mục đích sử dụng hợp lý
các nguồn vốn, tăng thêm thu nhập và nâng cao hiệu quả kinh doanh của
doanh nghiệp. Chi phí hoạt động tài chính gồm các loại chính sau:
+ Chi phí phát sinh liên quan đến các hoạt động liên doanh, liên kết.
+ Chi phí cho thuê tài sản.
+ Chi phí mua bán trái phiếu, cổ phiếu, kể cả khoản tổn thất trong đầu t
nếu có.
+ Dự phòng giảm giá chứng khoán.
+ Giá trị ngoại tệ bán ra, chênh lệch tỷ giá ngoại tệ theo chế độ tài chính
hiện hành (không bao gồm chênh lệch tỷ giá ngoại tệ thuộc vốn vay để đầu
t xây dựng cơ bản khi công trình cha đa vào sử dụng hoặc vốn vay bằng
ngoại tệ để góp vốn liên doanh).
+ Chi phí về số lãi phải trả để huy động vốn sử dụng trong kỳ.
+ Chi phí triết khấu thanh toán cho ngời mua hàng hoá dịch vụ khi
thanh toán tiền trớc thời hạn.
+ Chi phí khác liên quan đến hoạt động đầu t ra ngoài doanh nghiệp.
c) Chi phí bất thờng là cáckhoản chi phí xảy ra không thờng
xuyên, gồm các loại chính sau:
14 14

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét