- Thống nhất đánh giá hàng hoá để phản ánh giá trị của hàng hoá trong sổ kế toán
chi tiết và tổng hợp.
II. Tổ chức công tác kế toán hàng hoá nhập khẩu.
Hoạt động tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu và xác định kết quả kinh doanh. Việc tổ
chức kế toán tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu dựa trên những nguyên tắc và cơ sở
chung của kế toán để xây dựng từ khâu lập chứng từ, xây dựng tài khoản kế toán
đến các báo cáo, xổ sách kế toán và tổ chức bộ máy kế toán nhằm tìm ra một mô
hình phù hợp với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
1. Chứng từ kế toán thờng dùng trong kế toán hàng hoá nhập khẩu.
Chứng từ kế toán là những minh chứng bằng giấy tờ về các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh và đã thực sự hoàn thành. Thông qua việc lập chứng từ mà kế toán kiểm
tra đợc tính hợp lý, hợp lệ của các nghiệp vụ kinh tế. Chứng từ kế toán không chỉ
là căn cứ ghi sổ, kiêm tra tình hình biến động tài chính mà còn là cơ sở để giải
quyết các tranh chấp, khiếu lại nếu xảy ra. Chứng từ kế toán thờng xuyên vận
động, sự vận động liên tục kế tiếp nhau từ giai đoạn này sang giai đoạn khác của
chứng từ gọi là luân chuyển chứng từ. Luân chuyển chứng từ thờng đợc xác định
từ khâu lập ( hoặc tiếp nhận chứng từ bên ngoài ) đến khâu lu hay rộng hơn nữa là
đến khâu huỷ chứng từ. Vì vậy tổ chức luân chuyển chứng từ kế toán hợp lý sẽ
giúp cho công tác kế toán tổng hợp đợc tiến hành nhanh chóng chính xác đảm bảo
cho yêu cầu quản lý.
Trong hoạt động tiêu thụ hàng nhập khẩu bộ chứng từ là cơ sở cho việc nhận
hàng thanh toán và ghi sổ bao gồm:
- Hoá đơn thơng mại ( commercial invice ): là chứng từ cơ bản của khâu thanh
toán, là yêu cầu của ngời bán đòi ngời mua phải trả số tiền hàng ghi trên hoá đơn.
Hoá đơn ghi rõ đặc điểm hàng hoá, đơn giá, tổng giá trị hàng hoá, điều kiện giao
hàng, phơng thức thanh toán, phơng thức chuyên chở hàng. Hoá đơn đợc lập thành
nhiều bảng và đợc dùng vào nhiều việc khác nhau nh: xuất trình cho ngân hàng để
đòi tiền hàng, xuất trình cho công ty bảo hiểm để tính phí bảo hiểm cho cơ quan
ngoại hối, để xin cấp ngoại tệ cho hải quan để tính thuế.
- Vận đơn: Là những giấy tờ do ngời chuyên chở cấp chứng thực cho việc thực
hiện hợp đồng giữa hai bên giao nhận hàng hoá và không thể thiếu trong thanh
toán , bảo hiểm, khiếu nại các vận đơn thông dụng nhất là: vận đơn đờng biển,
vận đơn đờng sắt, vận đơn đờng không.
- Giấy chứng nhận bảo hiểm: Là loại chứng từ ghi nhận quan hệ giữa tổ chức bảo
hiểm và ngời có hàng đợc bảo hiểm nhằm giải quyết khi có sự cố, tổn thất về
hàng hoá xảy ra theo hợp đồng bảo hiểm đã thoả thuận.
- Giấy chứng nhận phẩm cấp: là chứng từ xác định số lợng của hàng hoá thực giao
và chứng minh phẩm cấp của hàng phù hợp với điều khoản của hợp đồng. Giấy
này có thể do xí nghiệp sản xuất hàng hoá cấp hoặc có thể do cơ quan kiểm
nghiệm hàng hoá nhập khẩu cấp tuỳ theo thoả thuận của hợp đồng.
- Giấy chứng nhận số lợng: là chứng từ xác định số lợng của hàng hoá thực giao.
Giấy này cũng có thể do ngời cung cấp hoặc tổ chức kiểm nghiệm hàng xuất nhập
khẩu cấp.
5
- Giấy chứng nhận xuất xứ: là chứng từ do nhà xản xuất hoặc cơ quan có thẩm
quyền cấp để xác nhận nơi sản xuất hoặc khai thác hàng hoá.
- Phiếu đóng gói: là bảng khai tất cả các loại hàng hoá một kiện hàng, phiếu
đóng gói đợc lập khi đóng gói hàng hoá tạo điều kiện kiểm tra hàng hoá trong mỗi
kiện.
2. Nguyên tắc xác định giá đối với hàng xuất nhập khẩu.
a) Xác định giá hàng nhập khẩu.
Giá hàng nhập khẩu phụ thuộc vào điều kiện giao hàng là những cơ sở có tính
nguyên tắc của việc giao nhận hàng hoá giữa bên mua và bên bán.
Sự phân chia giữa bên mua và bên bán có trách nhiệm giao nhận hàng nh: phơng
tiện vận tải, bốc vác, khai báo khải quan, nộp thuế nhập khẩu, thuế GTGT của
hàng nhập khẩu
Sự phân chia giữa hai bên và các chi phí giao hàng nh: chi phí chuyên chở hàng,
chi phí bốc giỡ, lu kho, bảo hiểm
Sự duy chuyển từ ngời bán sang ngời mua những rủi ro tổn thất về hàng hoá.
Do nội dung của các điều kiện giao hàng hoá khá rộng rãi nên mỗi nớc, mỗi khu
vực có cách giải quyết khác nhau về cùng một điều kiện buôn bán quốc tế. Nh-
ng ở công ty TMDV Nhựa nói riêng hay ở Việt Nam thờng áp dụng hai điều kiện
FOB và CIF trong thanh toán quốc tế.
*Tính thuế GTGT theo phơng pháp khâu trừ, giá nhập kho của hàng nhập khẩu là
giá mua thực tế đợc xác định theo công thức:
- Thuế nhập khẩu đợc xác định theo công thức:
- Thuế GTGT của hàng nhập khẩu xác định:
*Khi tính thuế GTGT theo phơng pháp trực tiếp, giá nhập kho của hàng nhập
khẩu đợc xác định theo công thức:
6
=
Giá mua thực
tế hàng NK
Giá
CIF
+
Thuế
NK
Chi phí thu
mua hàng NK
+
-
Giảm giá
hàng NK
Số lượng hàng
hoá nhập khẩu
Số thuế nhập
khẩu phải nộp
=
x
Giá
CIF
Thuế suất
nhập khẩu
x
=
Giá mua thực
tế hàng NK
Giá
CIF
+
Thuế
NK
Chi phí thu
mua hàng NK
+
-
Giảm giá
hàng NK
+
Thuế GTGT
của hàng NK
Số thuế GTGT của hàng
nhập khẩu phải nộp
=
)(
suấtNKThuếCIFGi
+
á
x
Thuế suất
thuế GTGT
b) Nguyên tắc xác định giá đối với hàng xuất kho của hàng nhập khẩu
Khi xuất hàng, kế toán phải xác định đợc giá hàng nhập khẩu, có nhiều phơng
pháp xác định giá hàng xuất bán, mỗi phơng pháp có các u nhợc điểm nhất định
do đơn vị có nhiều nghiệp vụ phát sinh nên kế toán thờng áp dụng phơng pháp
nhập trớc xuất trớc và một số phơng pháp khác.
- Phơng pháp nhập trớc xuất trớc: Theo phơng pháp này giả thiết số hàng này
nhập trớc xẽ xuất trớc, xuất hết số hàng nhập trớc mới đến số hàng nhập sau theo
giá thực tế của mặt hàng và nh vậy giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ sẽ là giá trị
thực tế của hàng mua và sau cùng trong kỳ. Phơng pháp này tính tơng đối hợp lý
nhng chỉ phù hợp với doanh nghiệp có ít doanh điểm hàng hoá.
- Phơng pháp bình quân cả kỳ dự trữ: Theo phơng pháp này căn cứ vào hàng tồn
kho đầu kỳ và nhập trong kỳ, kế toán tính giá trị bình quân của một đơn vị hàng
hoá, sau đó căn cứ vào giá đơn vị bình quân là lợng xuất trong kỳ để tính giá thực
tế của hàng xuất bán, theo công thức sau:
Xác định giá của hàng xuất bán trong kỳ:
Phơng pháp này có u điểm là tơng đối hợp lý, không bị phụ thuộc vào số lần
nhập kho. Tuy nhiên công việc tập trung vào cuối kỳ, khối lợng công tác kế toán
cuối kỳ sẽ tăng lên làm ảnh hởng đến việc lập báo cáo tài chính, mặt khác nó
không phản ánh đợc sự biến động giá cả hàng hoá. Phơng pháp này chỉ áp dụng ở
doanh nghiệp có ít doanh điểm hàng hoá, số lần nhập, xuất mỗi loại nhiều.
3. Tài khoản sử dụng
Hệ thống tài khoản đợc áp dụng cho các đơn vị thuộc mọi lĩnh vực hoạt động
trong mọi thành phần kinh tế là một hệ thống tài khoản thống nhất. Song kinh tế
tiêu thụ hàng hoá nhập khẩu sử dụng chủ yếu một số tài khoản sau:
Tk 151 Hàng mua đang đi đờng
Tài khoản này phản ánh giá trị của các loại hàng hoá vật t mua ngoài đã thuộc
quyền sở hữu của doanh nghiệp nhng cha về nhập kho hoặc cha làm thủ tục nhập
kho. Kết cấu của tài khoản này nh sau:
Bên nợ :
- Phản ảnh giá trị thực tế của hàng mua đang đi đờng
- K/c hàng mua đang đi đờng cuối kỳ
Bên có :
- Giá trị thực tế của hàng đi đờng đã nhập kho và chuyển thẳng trong kỳ
- K/c giá trị của hàng còn đi đờng cuối kỳ
D nợ : - Phản ảnh giá trị hàng còn đi đừng đầu và cuối kỳ
7
Giá đơn vị
bình quân
=
Giá thực tế hàng hoá tồn đầu kỳ
Lượng hàng hoá tồn đầu kỳ và nhập trong kỳ
Giá thực tế của
hàng hoá xuất kho
=
Số lượng
hàng xuất
x
Giá đơn vị
bình quân
TK 156 Hàng hoá: tài khoản này chi tiết thành hai tiểu khoản
- TK 1561 Hàng hoá
- TK 1562 Chi phí thu mua hàng hoá
Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị thực tế của hàng hoá, tại kho ,tại
quầy,nhóm loại hàng hoá.
Bên nợ :
- Phản ảnh nghiệp vụ làm tăng giá thực tế của hàng hoá tại kho, tại quầy .
- Kết chuyển hàng tồn kho cuối kỳ.
Bên có :
- Giá trị thực tế của hàng hoá giảm giá trị do ( Xuất bán, giao đại lý giảm giá đợc
hởng)
- Phân bổ chi phí thu mua hàng tiêu dùng
- Kết chuyển hàng tồn đầu kỳ
D nợ : - Phản ánh giá trị thực tế, hàng tồn kho tồn quầy
TK 157 Hàng gủi bán: Tài khoản này phảp ánh giá trị mua của hàng gửi bán,
ký gửi đại lý cha đợc chấp nhận, thanh toán và có kết cấu nh sau.
Bên nợ :
- Phản ánh giá trị của hàng hoá gửi bán nhng cha đợc chấp nhận
Bên có :
- Giá trị của hàng đã đợc khách hàng thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán.
- Giá trị của hàng gửi bán bị từ chối trả lại
D nợ : - Giá trị của hàng gửi bán cha đợc chấp nhận.
Tài khoản này đợc mở chi tiết cho từng loại khách hàng, cho từng lần gửi hàng
từ khi gửi cho đến khi chấp nhận thanh toán.
TK 511 Doanh thu bán hàng: Dùng đề phản ánh doanh thu bán hàng thực
tế của doanh nghiệp và các khoản giảm doanh thu tổng doanh thu ở đây có thể là
tổng giá thanh toán( Với doanh nghiệp tính thuế GTGT theo phơng pháp khấu trừ).
Bên nợ :
- Các khoản giảm trừ doanh thu giảm giá hàng bán trả lại.
- Số thuế phải nộp(thuế nhập nhập khẩu,thuế tiêu thụ đặc biệt) tính trên doanh số
bán ra trong kỳ.
Doanh thu thuần và tài khoản xác định kết quả
Bên có : - Các khoản giảm trừ doanh thu(hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán)
TK 511 không có số d đợc chi tiết thành 4 tài khoản
TK 5111 Doanh thu bán hàng
TK 5112 Doanh thu bán hàng thành phẩm
TK 5113 Doanh thu cung cấp dịch vụ
TK 5114 Doanh thu trợ cấp, trợ giá
*Tk 611 Mua hàng : Tài khoản này phản ánh giá trị thực tế hàng hoá mua vào
trong kỳ.
Bên nợ :
- Kết chuyển giá trị thực tế của hàng đi đờng, gửi bán tồn kho.
Phản ánh thực tế hàm mua trong kỳ hàng bị trả lại nhập kho
Bên có :
- Trị giá hàng xuất kho, giảm giá khi mua hàng.
8
- Kết chuyển hàng đi đờng, gửi bán tồn kho cuối kỳ
Tài khoản này không có số d cuối kỳ
TK 632 Giá vốn hàng bán : phản ánh trị giá thực tế của hàng đã đi tiêu thụ
trong kỳ bao gồm giá trị mua của hàng tiêu thụ và chi phí thu mua phân bổ cho
hàng tiêu thụ trong kỳ.
Bên nợ:
- Tập hợp giá mua và chi phí thu mua phân bổ cho hàng tiêu thụ trong kỳ.
Bên có:
- Kết chuyển giá vốn hàng tiêu thụ trong kỳ(giá thực tế).
- Trị giá mua của hàng đã tiêu thụ trả lại trong kỳ
- TK 632 cuối kỳ không có số d.
Ngoài các tài khoản trên kế toán còn sử dụng các tài khoản khác nh: TK 111
tiền mặt ; TK 112 tiền gửi ngân hàng ; TK 131 phải thu của khách hàng ;
TK 133 thuế GTGT đợc khấu trừ ; TK 1388 phải thu khác ; TK 144 ký c-
ợc, ký quỹ ngắn hạn ; TK 521 giảm giá hàng bán ; TK 331 phải thu của
khách hàng ; TK 153 (1532) bao bì riêng; TK 413 chênh lệch tỷ giá ; TK
642 chi phí quản lý doanh nghiệp ; TK 641 chi phí bán hàng ; TK 911 xác
định kết quả kinh doanh .
4. Hạch toán hàng nhập khẩu
Để quản lý hàng trong kho thì điều quan trọng doanh nghiệp phải vận dụng ph-
ơng pháp hạch toán chi tiết cho phù hợp với yêu cầu trình độ của đội ngũ kế toán
trong doanh nghiệp ở công ty TMDV Nhựa kế toán áp dụng thẻ song song.
- Điều kiện áp dụng : phơng pháp này áp dụng ở doanh nghiệp thuận lợi cho quá
trình nhập khẩu hàng hoá giá trị hàng hoá lớn cần có sự kiểm soát thờng xuyên với
mỗi loại hệ thống kho tàng tập trung kế toán doanh nghiệp đợc chuyên môn hoá.
- Theo phơng pháp này để phản ánh tình hình hiện có và biến động hàng hoá tại
kho phải mở thẻ để ghi chép về mặt số lợng còn ở phòng kế toán phải mở thẻ(sổ)
kế toán chi tiết hàng hoá để ghi chép về mặt số lợng giá trị.
Tại kho :
- Thủ kho dùng thẻ kho để phản ánh quá trình nhập xuất tồn kho hàng hoá về mặt
số lợng. Mỗi chứng từ ghi một dòng vào thẻ kho. Thẻ kho đợc mở cho từng doanh
nghiệp hàng hoá, hàng ngày hoặc định kỳ, sau khi ghi xong thẻ kho, thủ kho
chuyển chứng từ cho phòng kế toán và lập biên bản giao nhận chứng từ. Cuối
tháng kế toán tính ra số tồn kho, thẻ kho và đối chiếu với phòng kế toán.
- Tại phòng kế toán : hàng ngày hoặc định kỳ, sau khi nhận đợc các chứng từ
nhập xuất, kế toán kiểm tra đối chiếu ghi đơn giá hạch toán và tính ra số tồn. Sau
đó lần lợt chi các nghiệp vụ nhập xuất vào các sổ chi tiết hàng hoá rồi lập bảng
nhập xuất tồn hàng hoá để đối chiếu với thủ kho về mặt số lợng kế toán tổng hợp
về mặt giá trị.
- Phơng pháp thẻ song song : là một phơng pháp đơn giản dễ làm,có thể kiểm tra
chặt chẽ từng loại hàng hoá. Tuy nhiên với doanh nghiệp kinh doanh nhiều chủng
loại hàng hoá, khối lợng sẽ phải mở nhiều sổ, sẽ phải mất công sức do ghi chép
trùng lặp.
Sơ đồ hoạch toán chi tiết hàng hoá theo chi tiết thẻ song song
9
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng
Quan hệ đối chiếu
Chơng II
Đặc ĐIểm chung và hoạt động kinh doanh của công ty
thơng mại dịch vụ nhựa
I. Đặc điểm chung của công ty thơng mại - dịch vụ.
1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty thơng mại dịch vụ nhựa.
Công ty thơng mại dịch vụ nhựa là một đơn vị thuộc tổng công ty Nhựa Việt
Nam, đợc thành lập theo quyết định số 2999/QĐ-TCCB ngày 08 /10/1996 của bộ
công nghiệp (tên gọi giao dịch quốc tế là Plastics trading and service compeny).
Trụ sở của công ty: 39 Ngô Quyền - Hà Nội.
10
Phiếu nhập
Phiếu xuất kho
Thẻ kho
Sổ chi tiết,
thẻ chi tiết
hàng hoá
Bảng tổng
hợp nhập -
xuất - tồn
Bảng kê số 8
Công ty có t cách pháp nhân đầy đủ, có con dấu và tài khoản riêng tại ngân hàng
ngoại thơng Việt Nam và ngân hàng Chơng Dơng.
Quá trình hình thành và phát triển của công ty TMDV Nhựa gắn liền với sự phát
triển thăng trầm, biến đổi của tổng công ty nhựa Việt Nam.
Tiền thân của công ty nhựa Việt Nam cũng nh công ty TMDV Nhựa là công ty
tạp phẩm đợc thành lập ngày 07/08/1976, theo quyết định số 923/CNN-TCQL của
chính phủ, Bộ công nghiệp nhẹ bao gồm toàn ngành nhựa, da giày, xà bông, sắt
tráng men, văn phòng phẩm Hồng Hà Đến năm 1987 thực hiện nghị định số
302/CP của chính phủ, Bộ công nghiệp nhẹ và quyết định số 421/CNN-TCCB
ngày 01/12/1987 đổi tên công ty tạp phẩm thành liên hiệp các xí nghiệp nhựa và
tạp phẩm. Cuối năm 1989, một số đơn vị thành viên chuyển sở quản lý sang chức
năng khác, chuyển liên hiệp sản xuất, xuất-nhập khẩu nhựa hoạt động theo nghị
định 27/HĐBT ngày 22/02/1988. Để giúp cho việc chuyển biến mạnh mẽ phù hợp
với cơ chế thị trờng, đồng thời mở rộng quyền tự chủ trong sản xuất thành doanh
nhập - xuất khẩu (tạp phẩm) thành Tổng công ty Việt Nam ngày 15/03/1993.
Ngày 26/12/1994 Bộ trởng bộ công nghiệp trình thủ tớng đơn xin thành lập doanh
nghiệp nhà nớc, công văn số 2492/KTKH với tên gọi công ty nhựa Việt Nam và
nay theo quyết định số 1189/QĐ -TCCB ngày 07/05/1996 thành lập lại Tổng công
ty nhựa Việt Nam.
Mặc dù có sự biến động về mặt tổ chức, tên có nhiều thay đổi nhng trong 23
năm qua (1979-2003) Tổng công ty nhựa đã sản xuất và mang lại hiệu quả cao,
nhịp độ tăng trởng phần trăm trong toàn ngành đạt 27%/năm.
Những năm qua, với đà phát triển nhanh, nhịp độ tăng trởng cao của ngành
nhựa, cũng nh mục tiêu sản xuất, xuất -nhập khẩu đến năm 2005 mà chiến lợc
ngành nhựa đã đặt ra đòi hỏi phải có tổ chức mang tính kế thừa của chi nhánh trớc
đây để phát triển đủ làm vợt doanh nghiệp vừa kinh doanh vừa phục vụ cho các
doanh nghiệp sản xuất quốc doanh Trung Ương, địa phơng và các thành phần kinh
tế khác. Chính vì sự cần thiết nh vậy mà đầu năm 1996 theo quyết định 2999/QĐ-
TCCB của bộ công nghiệp, công ty TMDV Nhựa đã chính thức thành lập trên cơ
sở trớc đây là chi nhánh phía bắc của tổng công ty nhựa Việt Nam.
Việc tổ chức thành lập công ty TMDV Nhựa là cần thiết góp phần vào sự cần
thiết phát triển ngành nhựa Việt Nam trong thế kỷ XXI.
Cùng với sự đi lên của xã hội, sự cạnh tranh trong cơ chế thị trờng, công ty
TMDV Nhựa đã hoạt động và trải qua nhiều biến đổi thăng trầm để tự khẳng định
mình hoà nhập với nền kinh tế năng động, không ngừng đi lên bám sát nhiệm vụ
và lấy sự phát triển của ngành làm phơng hớng phát triển của mình, 2. Đặc điểm
tổ chức kinh doanh của công ty TMDV Nhựa.
2.1.Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh của công ty.
Là một đơn vị thơng mại cho nên chức năng chủ yếu của công ty là kinh doanh
và làm dịch vụ nhằm thực hiện nhiệm vụ mua bán, xuất nhập khẩu các loại sản
phẩm nhựa, vật t, nguyên phụ liệu, sắt tráng men, nhôm trong kinh doanh
nguyên liệu đem lại nguồn thu chính cho công ty, nó chiếm 86% doanh thu là hoạt
động chủ yếu của công ty. Công ty chủ yếu nhập nguyên liệu bột PVC, hạt PVC,
dầu Dor từ Nhật, Thái Lan, Singapor, Đài Loan sau đó bán cho các công ty, đơn
vị t nhân trong nớc chuyên sản xuất chế biến ngành nhựa. Ngoài ra công ty còn
11
kinh doanh nguyên liệu PP, PE, nhôm thỏi với thị trờng ổn định, ngành kinh
doanh này đem lại cho công ty nguồn lợi đáng kể.
Công ty nhận đợc sự uỷ thác của các công ty khác. Công ty làm thủ tục nhập
khẩu cho họ và hởng hoa hồng, mức hoa hồng phụ thuộc vào giá trị hợp đồng,
(thông thờng 1% với những hợp đồng dới 100.000 USD những hợp đồng vài trăm
ngàn USD thì mức hoa hồng khoảng (0,4-0,5%), mức thấp nhất mà công ty thu về
sau một lần nhập hợp đồng uỷ thác khoảng 100 USD. Hoạt động uỷ thác tuy
không đem lại nguồn lợi lớn (6% doanh thu) song đó là nguồn lợi tơng đối ổn định
góp phần làm tăng doanh thu hàng năm và mở rông quan hệ giao dịch của công ty.
Ngoài ra công ty còn có nhiệm vụ vận chuyển và cho thuê mặt hàng (giao kho)
cùng với mặt hàng bán lẻ chuyên kinh doanh các mặt hàng nhựa. Sau khâu kinh
doanh nguyên liệu của hàng bán lẻ đem lại cho công ty một nguồn thu tơng đối,
doanh thu hàng năm khoảng 3 tỷ dồng chiếm tỷ trọng 7% doanh thu.
2.2. Các khách hàng và mặt hàng cung ứng chủ yếu cho công ty.
Trớc đây còn là công ty vật t tạp phân nhựa, công ty chỉ việc phải nhập hàng
hoá từ cấp trên rót xuống theo chỉ tiêu rồi phân phối. Nhng bây giờ công ty phải tự
lo nguồn hàng, đối với mặt hàng tiêu dùng của công ty thờng xuyên lấy ở cơ sở
sản xuất nh công ty nhựa Hà Nội Đối với các sản phẩm phục vụ xây dựng công
ty lấy hàng ở các nhà máy nh: Nhật, Thái Lan, Singapor, Đài Loan mà trong nớc
cha sản xuất đợc nhng một mặt công ty vẫn lấy hàng ở cơ sở Hng Yên, Hải Phòng
và một số tỉnh lân cận. Ngoài ra dới cửa hàng còn thu hút một số lợng khách hàng
mua lẻ phong phú ở thị trờng Hà Nội.
2.3. Các đối thủ cạnh tranh.
Kinh doanh mặt hàng nhựa tạo ra lợi nhuận cao mà việc đầu t chỉ cần quy mô
vừa phải, giá thành hạ cho nên trong những năm gần đây thị trờng đã dung nạp rất
nhiều các doanh nghiệp đầu t vào ngành hàng có nhiều tiềm năng khai thác này.
Cho nên công ty phải đối phó cạnh tranh gay gắt với rất nhiều doanh nghiệp có
cùng lĩnh vực kinh doanh đó là công ty liên doanh Mitsui ViNa vừa mới ra đời có
u thế trong nớc nên giá cả hợp lý, chất lợng đảm bảo theo tiêu chuẩn của Nhật. đó
là công ty hoá chất có lợi thế vốn lớn hơn hay một số tiêu chuẩn kinh doanh của
Thái Lan, Hàn Quốc. Lợi thế của các đối thủ cạnh tranh là họ có cơ sở vật chất
mạnh và hiện đại, một số doanh nghiệp sản xuất đã hình thành lên bộ phận kinh
doanh chuyên tiêu thụ sản phẩm trực tiếp cho khách hàng chứ không qua trung
gian là các công ty thơng mại nh công ty nữa.
3. Đặc điểm tổ chức bộ máy của công ty TMDV Nhựa.
Công ty TMDV Nhựa là một đơn vị thành viên của tổng công ty nhựa Việt
Nam tiêu biểu cho loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ với bộ máy gọn nhẹ đảm
bảo phục vụ cho nhu cầu, nhiệm vụ do tổng công ty đề ra, tạo lập năng lực hoạt
động của công ty, thúc đẩy kinh doanh phát triển tiết kiệm chi phí và nâng cao
hiệu quả kinh tế. Qua tổ chức tìm hiểu hoạt động kinh doanh, tại công ty TMDV
Nhựa đợc xây dựng theo cơ cấu trực tuyến- chức năng thể hiện qua sơ đồ sau:
12
Biểu số 2: Sơ đồ tổ chức bộ máy của công ty TMDV Nhựa
Theo cơ cấu tổ chức trên, giám đốc là ngời chỉ đạo trực tiếp các hoạt động của
các phòng ban, cửa hàng kho trạm. Các bộ phận phòng ban làm tham mu giúp việc
hỗ trợ cho giám đốc chuẩn bị cho các quyết định. Mô hình quản lý này phù hợp
với các doanh nhân nh công ty TMDV Nhựa, mọi thông tin đều đợc giữa giám đốc
và các phòng ban một cách nhanh chóng.
Giám đốc: Do chủ tịch hội đồng quản trị tổng công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm
khen thởng kỷ luật theo điều lệ tổ chức và khen thởng do tổng công ty có quyết
định. Giám đốc là đại diện pháp nhân chịu trách nhiệm của công ty trớc tổng giám
đốc công ty và pháp luật, mọi hoạt động có toàn quyền quyết định trong phạm vi
công ty.
Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu có nhiệm vụ về:
- Các kế hoạch và quản lý kế hoạch kinh doanh, quản lý vốn và tài sản: tham gia
lập giá và quản lý kế hoạch nguồn thu, quản lý kế hoạch phát triển, tổng hợp báo
cáo theo định kỳ.
- Nghiên cứu và nắm bắt thị trờng để có những biện pháp, phơng hớng kinh doanh
có hiệu quả cao.
- Xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp với các nhà cung cấp và khách hàng, giải
quyết và sử lý những vấn đề phát sinh, trong quá trình kinh doanh, chịu trách
nhiệm cho các hoạt động nhập khẩu.
- Tham mu cho giám đốc trong việc ký kết các hợp đồng kinh tế, thực hiện xuất
nhập khẩu trang thiết bị, nguyên vật liệu, uỷ thác cho các công ty thành viên thuộc
tổng công ty và phục vụ mọi yêu cầu của doanh nghiệp khác.
Phòng tài chính-kế toán: Thực hiện chức năng giám đốc về mặt tài chính thu
nhập tài liệu phản ánh vào sổ sách và cung cấp thông tin kinh tế kịp thời phục vụ
cho việc ra quyết định của giám đốc, tổng hợp quyết toán trình giám đốc và tham
gia xây dựng giá, quản lý các nguồn thu chi của toàn công ty.
Nh vậy phòng tài chính -kế toán giúp giám đốc thực hiện có hiệu quả việc sử
dụng vốn trong quá trình hoạt động kinh doanh của công ty.
Phòng nghiệp vụ tổng đại lý: Thực hiện việc bán hàng theo uỷ thác (nhận bán
hàng cho công ty nhựa Tiền Phong và công ty nhựa Bạch Đằng) các mặt hàng: ống
nớc, ống uPVC và các phụ kiện về cấp thoát nớc rồi phân phối cho các đại lý và
thực hiện chế độ hạch toán ban đầu rồi định kỳ hàng ngày đa lên phòng kế toán.
Phòng hành chính: Tham mu cho các giám đốc về công tác tổ chức, quy hoạch
cán bộ, bố chí xắp xếp cơ chế nhân sự cho hợp với bộ máy quản lý của công ty,
xem xét bậc lơng, giải quyết các chế độ chính sách cho ngời lao động Nh vậy,
13
Giám đốc
Phòng
hành
chính
Phòng
tài chính
kế toán
Phòng kinh
doanh và
nhập khẩu
Phòng
nghiệp vụ
tổng đại lý
Cửa
hàng
Trạm kho
vận hành
phòng
phòng tổ chức hành chính có nhiệm vụ thực hiện các hoạt động của công ty thông
suốt.
Cửa hàng kinh doanh: là một bộ phận có chức năng bán lẻ, bán buôn các loại
sản phẩm nhựa. Tìm hiểu diễn biến của thị trờng, nhu cầu phổ biến của khách
hàng để t vấn cho việc kinh doanh. Cửa hàng tính chi phí hoạt động trình giám đốc
xét duyệt và tổ chức các phơng thức bán hàng cho phù hợp, bảo toàn vốn, bảo đảm
có lãi.
Trạm kho: Thức hiện việc tiếp nhận, kiểm kê và bảo quản các loại hàng hoá mà
công ty kinh doanh. Cung cấp thờng xuyên tình hình xuất nhập tồn kho các thời
kỳ cho các phòng ban chức năng kinh doanh, đảm bảo giấy tờ sổ sách chính xác,
báo cáo kịp thời mọi trờng hợp sai lệch để xử lý đảm bảo tốt công tác nghiệp vụ để
giúp cho việc tiêu thụ hàng hoá đợc thông suốt.
4. Tổ chức công tác kế toán tại công ty TMDV Nhựa.
4.1.Tổ chức kế toán.
Bộ máy kế toán của công ty TMDV Nhựa đợc tổ chức theo mô hình tổ chức bộ
máy kế toán tập trung. Do đặc điểm công ty tổ chức kinh doanh là nhiều bộ phận
trong đó có phòng nghiệp vụ tổng đại lý làm tổng đại lý cho công ty nhựa Tiền
Phong. ở phòng này có kế toán riêng thực hiện việc ghi chép các nghiệp vụ phát
sinh của phòng rồi định kỳ tổng hợp số liệu rồi gửi về phòng tài chính-kế toán.
Còn hoạt động kinh doanh của các phòng khác sẽ do phòng kế toán thực hiện
cùng với việc tổng hợp số liệu chung toàn doanh nghiệp và lập báo cáo kế toán
định kỳ.
Biểu số 3: Tổ chức bộ máy kế toán của công ty TMDV Nhựa
14
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét